bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp hà nội
Nguyễn thị quanh NGHIấN CU MT S C IM DCH T CA BNH
NEWCASTLE V TèNH HèNH S DNG VACXIN PHềNG
BNH G NUễI TP TRUNG TI HUYN NG H,
TNH THI NGUYấN
Chuyên ngành : thú y
M số : 60.64.04.01 Ngời hớng dẫn khoa học:
Pgs.ts. trơng quang
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin cảm ơn tới các Thầy cô giáo trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội nói chung và các Thầy cô trong Khoa Thú Y nói riêng đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn PGS.TS Trương Quang - Thầy đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi cũng xin cảm ơn đến các thầy cô Bộ môn Vi sinh vật –Truyền
nhiễm, Khoa Thú Y trường Đại học nông nghiệp Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và
tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi thực hiện đề tài của mình.
Tôi xin cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, anh em, bạn bè và đồng nghiệp
đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này.
.
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Quanh Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục chữ viết tắt vii
MỞ ðẦU 1
2.1.2. Tỷ lệ chết ở gà các lứa tuổi 29
2.1.3. Các tháng xảy ra bệnh 29
2.1.4. Một số bệnh tích đặc trưng của bệnh Newcastle 29
2.1.5. Xác định sự có mặt của virus trong bệnh phẩm (óc gà) nghi mắc
bệnh Newcastle 29
2.2. Tình hình sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle 29
2.2.1. Lịch sử dụng vacxin cho các đàn gà thịt, gà trứng 29
2.2.2. Kiểm tra hiệu giá kháng thể Newcastle trong huyết của gà ở các đàn
gà xảy ra bệnh 29
2.3. Nguyên liệu 29
2.4. Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1. Lập phiếu điều tra để chủ động thu thập thông tin liên quan 30
2.4.2. Phương pháp xác định sự có mặt của virus Newcastle trong nước
trứng sau khi gây nhiễm huyễn dịch não gà nghi bệnh 30
2.5. Phương pháp kiểm tra hiệu giá kháng thể Newcastle trong huyết
thanh của gà ở đàn xảy ra bệnh 33
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1. Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Newcastle 36
3.1.1. Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở các giống gà nuôi tại huyện
Đồng Hỷ, Thái Nguyên 36
3.1.2. Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở gà các lứa tuổi 38
3.1.3. Phân bố ổ dịch Newcastle ở các đàn gà trong các tháng nghiên cứu
tại huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên 42
3.1.4. Kết quả mổ khám kiểm tra bệnh tích ở gà trong đàn đang xảy ra
bệnh Newcastle 45
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v
3.1.5. Kết quả gây nhiễm phôi gà bằng huyễn dịch não của gà trong đàn
đang xảy ra bệnh Newcastle 49
Bảng 3.6a. Lịch sử dụng vacxin và đường đưa vacxin đối với các đàn gà thịt 53
Bảng 3.6b. Liên quan giữa việc sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle với tỷ
lệ đàn bị bệnh và tỷ lệ gà chết do bệnh đối với gà thịt 54
Bảng 3.6c. Lịch sử dụng vacxin và đường đưa vacxin đối với gà trứng 55
Bảng 3.6d. Liên quan giữa việc sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle với tỷ
lệ đàn bị bệnh và tỷ lệ gà chết do bệnh đối với các đàn gà trứng 57
Bảng 3.7. Kết quả kiểm tra hiệu gía kháng thể Newcastle trong huyết thanh
của gà trong đàn xảy ra bệnh 59
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ILT : Infectious Laryngo Tracheitis – Viêm thanh khí quản truyền nhiễm
ICPI : Intracerebral pathogenicity Index- Chỉ số gây bệnh khi tiêm não gà
con 1 ngày tuổi
IVPI : Intravenous pathogenicity Index- Chỉ số gây bệnh khi tiêm
tĩnh mạch gà 6 tuần tuổi.
HA : Heamagglutination Test – Phản ứng ngưng kết hồng cầu
HI : Heamagglutination Inhibition Test – Phản ứng ngăn trở ngưng
kết hồng cầu.
MDT : Mean Death Time – Thời gian trung bình gây chết phôi
(đơn vị tính bằng giờ) với liều tối thiểu gây chết 100% phôi
IB : Infectious Bronchitis – Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
1
MỞ ðẦU
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học của bệnh Newcastle ở gà nuôi tập trung.
Tình hình sử dụng vacxin phòng bệnh cho gà nuôi tại đại phương.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
Góp phần làm rõ thêm đặc điểm dịch tễ học và những tồn tại, thiếu sót trong
việc sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle ở các đàn gà nuôi tập trung trong các gia
đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, giúp người chăn nuôi hiểu rõ hơn về bệnh
Newcastle và khắc phục những tồn tại, những thiếu sót trong việc chăm sóc, nuôi
dưỡng và phòng bệnh để chăn nuôi ổn định, phát triển.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Lịch sử và tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle
1.1. Lịch sử bệnh
Bệnh ở gà tại nước Anh xảy ra năm 1926 theo tài liệu ghi chép có liên quan
đến một con tàu vận chuyển thịt đông lạnh mang theo gà nuôi, di chuyển từ
Indonesia, Châu Á đến cảng của Newcastle (Alexander, 1988). Sau một khoảng thời
gian ngắn, bệnh không chỉ xảy ra ở Anh mà còn xuất hiện ở các nước khác như, Hàn
Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản do chủng virus có độc lực cao.
Bệnh Newcastle có thể đã có từ lâu nhưng chưa được nghiên cứu. Cho đến
năm 1926, Kraneveld đã có thông báo đầu tiên về một bệnh truyền nhiễm của gà lây
lan mạnh, tỷ lệ chết cao xảy ra ở Java, Indonesia. Cùng năm này tại thành phố
Newcastle của nước Anh một ổ dịch ở gà tương tự đã xảy ra. (Doyle,1927). Ông
đã phân lập được mầm bệnh và cũng là người đầu tiên bằng phản ứng huyết thanh
có 17 loài bị nhiễm vius Newcastle và thấy phần lớn là do chim tiếp xúc với gà đã
nhiễm bệnh.
Jumaily, 1989, dùng phản ứng HI kiểm tra 341 mẫu huyết thanh của 5 loài
chim hoang dã đã phát hiện có kháng thể kháng virus Newcastle ở một tỷ lệ mẫu với
hiệu giá từ 1/2 - 1/128, trong đó nhóm chim Columbalivia chiếm 8.0%, nhóm
Strepiopelia Decasoto chiếm 2.5%.
Vindevolgel (1997), nghiên cứu bệnh Newcastle ở chim hoang dã thấy virus
nhiễm ở chim bồ câu hầu hết có tính hướng hệ hô hấp, chim có hoặc không có triệu
chứng bệnh. Tác giả cho rằng những chim di cư bị nhiễm tự nhiên trong quá trình
sinh sản cũng truyền kháng thể cho đời sau qua lòng đỏ trứng.
Estudillo (1972), đã mô tả ổ dịch ở Mehico cho thấy gà lôi Nhật, vẹt, công,
chim yến có khả năng mẫn cảm với bệnh và có triệu chứng thần kinh do lây nhiễm
virus Newcastle từ gà bệnh.
Năm 1987, Pearson J.E, và cộng sự , báo cáo kết quả nghiên cứu chủng vius
PMV – 1 phân lập từ chim bồ câu có triệu chứng liệt, vẹo cổ, run rẩy, mất thăng
bằng, và chết. Tác giả đã dùng kháng thể đơn dòng để xác định vius gây bệnh.
Chủng phân lập được dùng gây bệnh cho bồ câu bằng đường tiêm tĩnh mạch, thấy
chim bồ câu có biểu hiện bệnh như ngoài tự nhiên. Nhưng gây bệnh bằng đường
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
5
mũi chỉ có một bồ câu có biểu hiện bệnh; thời gian chết khoảng từ 4 – 25 ngày,
virus bài xuất đến 20 ngày, có bệnh tích viêm ruột dạ dày và hoại tử tuyến tụy. Nếu
gây bệnh cho gà qua lỗ huyệt, mũi hoặc tiêm vào túi khí ở đốt ngực thì gà vẫn khoẻ
mạnh; tiêm vào não gà con chúng có ICPI giống như ở nhóm Velogen và 4 trong 6
chủng virus phân lập có khả năng gây có tác động tới thần kinh ở gà 6 tuần tuổi.
Theo Alaxander (1986), tỉ lệ mắc bệnh Newcastle ở chim bồ câu chiếm từ
30-70%, tỉ lệ chết thấp, dưới 10% nhưng cũng có trường hợp tới 40%.
Theo Sharaway (1994), chim cút ít mẫn cảm với virus Newcastle hơn gà, thời
gian ủ bệnh từ 2-15 ngày, trung bình 5-6 ngày. Triệu chứng bệnh thay đổi tuỳ theo
cho gà không có miễn dịch, thấy rằng có thể phân lập được virus từ các cơ quan tổ
chức của cơ thể. Ở những gà có kháng thể, virus thường phân lập được từ dạ dày
tuyến, nang lympho manh tràng, não, gà có biểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc không và
virus vẫn được nhân lên đến ngày thứ 19 sau khi công cường độc.
Năm 1985, ở Canada (Ide P.R,1987), lần đầu tiên phân lập được virus
Newcastle trong 6 đàn bồ câu vùng Otario, Alberta và British Columbia.
Suarez – Hernandez M, (1987) khảo sát kháng thể kháng virus Newcastle ở
những công nhân chăn nuôi gà. Kết quả cho thấy 26,3% (73/277) người làm việc
trực tiếp ở trại gà và ở 47,8% (110/230) người làm việc gián tiếp, trong huyết thanh
có kháng thể kháng virus Newcastle.
Papacella V và cộng sự (1987) theo dõi ảnh hưởng của bệnh đường hô hấp
gia cầm đối với sức khoẻ của người thấy rằng: không chỉ bệnh cúm gà ảnh hưởng
đến người mà bệnh Newcastle cũng có thể gây bệnh cho người, đầu tiên ở mắt, sau
đó có thể lan sang các tổ chức khác.
Bastami M.A và cộng sự (1986) đã thí nghiệm so sánh đáp ứng miễn dịch của
gà được tiêm các loại vacxin khác nhau: 180 gà được nhỏ mắt bằng vacxin B1 lúc 7
ngày tuổi. Sau đó khi gà được 21 ngày tuổi thì chia thành 5 lô, lô 1 uống vacxin B1, lô
2 uống Lasota, lô 3 uống B1 hấp phụ aluminium hydroxide (AH), lô 4 uốngt Komarrov
và lô 5 tiêm vacxin vô hoạt có bổ trợ dầu. Toàn bộ số gà này được công cường độc lúc
7 tuần tuổi. Kết quả khả năng bảo hộ của vacxin B1 là 87%, vacxin vô hoạt bổ trợ dầu
83%, B1 hấp phụ AH 73%, Lasota 63% và Komarov 60%.
Bassiouni A.A. và cộng sự (1987), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
đáp ứng miễn dịch ở gà đối với virus Newcastle: gà 1 ngày tuổi được dung vacxin
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7
Herpes (vacxin Marek) chủng gà tây, 7 ngày sau dung vacxin B1 hoặc Lasota. Sau
21 ngày chuẩn độ hiệu giá kháng thể thấy thấp hơn gà không dùng chủng Herpes
virus gà tây.
Zheng H.J và cs (1987), dùng vacxin Mukteswar nhỏ mắt hoặc cho gà uống
vacxin Newcastle đang sử dụng ở Việt Nam bằng phương pháp đã chuẩn hóa của
FAO. Độc lực được xác định dựa trên 3 chỉ số MDT, ICPI và IVPI. Kết quả thấy 3
chủng virus Newcastle đang sử dụng hiện nay có độc lực ổn định. Chủng hệ I thuộc
nhóm Mesogen, cùng loại với chủng H nhưng có độc lực cao hơn và đặc tính gây
bệnh khác với chủng H, do đó Hệ 1 có thể có nguồn gốc từ chủng Mukteswar.
Phan Văn Lục và cộng sự (1996), theo dõi 6 cơ sở nuôi gà ở các tỉnh phía
Bắc, từ năm 1980-1991. Tác giả đã đề xuất lịch sử dụng vacxin thích hợp là: 7 ngày,
21- 28 ngày, 50- 58 ngày và 133 -140 ngày; vacxin sử dụng là Lasota và Hệ I, bằng
phương pháp nhỏ mũi và tiêm dưới da tùy từng loại vacxin. Đồng thời tác giả cùng
cộng sự, đã nghiên cứu mối tương quan giữa hàm lượng kháng thể lưu hành và khả
năng bảo hộ chống lại virus cường độc Newcastle. Kết quả cho thấy: hàm lượng
kháng thể lưu hành nhỏ hơn 2log2 thì gà không có khả năng bảo hộ, do đó cần tiêm
chủng lại. Hàm lượng kháng thể lớn hơn 2log2 và nhỏ hơn 3 log2 thì 1 tháng sau khi
kiểm tra lại kháng thể, nếu hàm lượng kháng thể giữ nguyên hoặc giảm đi thì đàn gà
phải được dùng lại vacxin. Hàm lượng kháng thể lớn hơn 3log2, tỷ lệ chuyển dương
90% thì gà có khả năng chống virus cường độc.
Trong nước cũng đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vacxin: theo
Nguyễn Thu Hồng (1993), nếu uống vacxin Lasota để phòng bệnh Newcastle với
liều 10-
3
, từ 3– 4 ml/con lúc gà 1 tuần tuổi thì đến 2 tháng rưỡi tuổi còn khả năng
bảo hộ là 63%, nếu cho uống lúc 2 tuần tuổi thì đến 2 tháng rưỡi tuổi vẫn còn bảo
hộ được 100%.
Nguyễn Thu Hồng và cộng sự (1993), thử nghiệm vacxin chịu nhiệt V4
phòng bệnh cho gà ở Việt Nam. Kết quả cho thấy vacxin V4 có ưu điểm hơn Lasota
về tính chịu nhiệt và thời gian bảo quản, ở nhiệt độ thường bảo quản được 1 tháng.
Mặt khác, vacxin có đặc tính gây miễn dịch qua tiếp xúc.
Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự (1993), đã nghiên cứu biến chủng của Lasota
có tính chịu nhiệt cao, gây miễn dịch tốt, bảo quản ðýợc ở nhiệt độ 37
o
bảo hộ ngắn.
Nguyễn Huy Phương (2001), nghiên cứu lịch sử dụng vacxin cho đàn gà thịt
đã khuyến cáo người chăn nuôi nên sử dụng vacxin 3 lần vào các ngày 7, 21, 35
ngày tuổi.
Trương Quang và cộng sự (2005) cho biết những năm gần đây bệnh
Newcastle xảy ra ở các đàn gà nuôi tập trung trong các hộ gia đình thường ở thể
không điển hình. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trên là do:
-Lịch sử dụng vacxin không thích hợp.
-Một tỉ lệ nhất định (7,59 -13,15%) gà sau khi uống vacxin có hàm lượng
kháng thể thấp ( <3log2)
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
10
-Con giống không rõ nguồn gốc.
-Đồng thời tác giả khuyến cáo những đàn gà nuôi trên ba tháng tuổi nên cho
uống vacxin Lasota 3 lần lúc gà 7,21 và 35 ngày tuổi sẽ an toàn bệnh Newcastle.
Nguyễn Hồng Minh (2012) đã nghiên cứu sản xuất và thử nghiệm vacxin
nhược độc đông khô đa giá phòng ba bệnh Newcastle, Gumboro và viêm phế quản
truyền nhiễm ở gà. Kết quả cho biết gà sau khi tiêm vacxin vào lúc 7 và 14 ngày
tuổi đều có hiệu giá kháng thể đạt tiêu chuẩn bảo hộ cả ba bệnh theo tiêu chuẩn
ngành và khuyến cáo của OIE, 2008.
Vũ Văn Mong (2012), nghiên cứu thực trạng bệnh Newcastle và tình hình sử
dụng vacxin ở đàn gà nuôi tại Vụ Bản , Nam Định. Kết quả cho biết tỷ lệ chết do
bệnh Newcastle các đàn gà mua con giống từ các cơ sở sản xuất tư nhân luôn cao
hơn so với các đàn mua con giống từ các cơ sở tập trung.
2.1. Virus Newcastle và bệnh do chúng gây ra
2.1.1. Virus Newcastle
2.1.1.1. Hình thái và cấu trúc
Virus Newcastle thuộc họ Paramyxoviridae, phân nhóm PMV – 1 (Tumova,
1979), là virus ARN đa hình thái: hình tròn, hình trụ, hình sợi. Virus có vỏ bọc lipit,
* Khả năng ngưng kết hồng cầu
Burnet (1942), là người đầu tiên phát hiện đặc tính của virut Newcastle đó là:
Có khả năng làm ngưng kết hồng cầu một số loài như gà, người, chuột lang,
chuột bạch.
Chỉ một vài chủng virus làm ngưng kết hồng cầu bò, dê, cừu, lợn và ngựa.
Hồng cầu loài lưỡng thê, bò sát và loài chim bị ngưng kết bởi virus
Newcastle ở các mức độ khác nhau.
Hiện tượng ngưng kết hồng cầu là do hồng cầu gắn kết với điểm quyết định
kháng trên bề mặt của virus (Rott, 1964). Quá trình ngưng kết xảy ra qua 2 giai đoạn
(Trần Minh Châu và Hồ Đình Chúc, 1988):
Giai đoạn1: Virus tìm điểm thụ cảm trên bề mặt của hồng cầu Haemagglutinin
làm ngưng kết hồng cầu.
Giai đoạn1: Virus tách khỏi bề mặt tế bào do men Neuraminidaza phá hủy
thể thụ cảm trên bề mặt hồng cầu.
Theo Tolba và Eskarous (1962), hoạt tính ngưng kết hồng cầu tùy vào từng
chủng virus, không nhất thiết bị vô hoạt cùng thời gian với hoạt tính gây nhiễm. Một
vài chủng virus khi xử lý ở nhiệt độ 56
0
C trong 5 phút thì hoạt tính ngưng kết hồng
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
12
cầu bị phá hủy nhưng vẫn còn khả năng gây nhiễm phôi hoặc vật chủ khác. Ngược
lại có một số chủng được xử lý 56
0
C với thời gian 25 phút vẫn còn khả năng gây
nhiễm và gây ngưng kết hồng cầu (Hanson R.P.Spalatin.J,1978).
Đặc tính này dùng để phân biệt giữa các chủng virus Newcastle với nhau và
cũng là điểm khác nhau giữa virus Newcastle với virus cúm.
* Hoạt tính men Neuraminidaza:
chứng minh ở những chủng virus độc lực cao, việc hấp phụ hồng cầu sẽ xuất hiện
sớm hơn trên tế bào.
*Hiện tượng cản nhiễm (Interference)
Virus Newcastle có khả năng cản trở sự nhân lên của virus khác hoặc ngược
lại bị một số virus khác cản trở sự nhân lên của chúng trong cơ thể vật chủ, như
virus viêm phế quản truyền nhiễm (Infection bronchitis virus). Cho nên khi gà bị
nhiễm virus Newcastle kết hợp với các loại virus khác, bệnh không biểu hiện rõ rệt,
đồng thời làm giảm phản ứng miễn dịch (Hanson R.P, 1972).
2.1.1.3. Nuôi cấy virus Newcastle
* Gây nhiễm cho phôi gà
Virus Newcastle có thể nhân lên trong xoang niệu mô của trứng gà ấp 9-10
ngày tuổi. Đặc tính này được ứng dụng để nuôi cấy và phân lập virus từ bệnh phẩm.
Khi nuôi cấy trong phôi gà, những củng virus Newcastle có độc lực mạnh gây chết
phôi từ 20-48 giờ kể từ khi gây nhiễm, những chủng độc lực trung bình và yếu thời
gian gây chết phôi trên 60 giờ. Mổ khám những phôi chết thấy bệnh tích xuất huyết
dưới da, nhất là da vùng đầu, ngực, bụng và chân.
Khả năng gây chết phôi của virus Newcastle còn phụ thuộc vào lượng kháng
thể Newcastle có trong lòng đỏ trứng do mẹ truyền qua.
* Gây nhiễm vào môi trường tế bào xơ phôi gà một lớp:
Những chủng virus Newcastle đều phát triển trong môi trường tế bào và gây
hiện tượng bệnh lý tế bào (CPE- Cyto Pathogen Effective). Hệ thống tế bào thường
dùng để chế môi trường là tế bào xơ phôi gà, tế bào thận gà một lớp (Beach, 1984).
Trong môi trường tế bào nuôi cấy, sau 24-72 giờ, virus gây hủy hoại tế bào, làm cho
tế bào bị biến đổi hình thái, tế bào co lại hoặc vỡ ra tạo thành tế bào khổng lồ
(Nguyễn Như Thanh, 1997).
* Gây nhiễm cho gà:
Có thể dùng gà giò 2-3 tháng tuổi để tiêm truyền, virus sẽ phát triển và gây
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
14
chuẩn hóa cách đánh giá theo mức độ độc lực và phân virus thành 3 nhóm:
Nhóm Velogen: Độc lực mạnh
-Nhóm Mesogen: Độc lực trung bình
-Nhóm Lentogen: Độc lực yếu
Mức độ độc lực và khả năng gây bệnh của các chủng virus ở mỗi nhóm được
đánh giá bằng các chỉ số sinh học.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15
Phân nhóm ñộc lực của virus Newcastle
Nhóm virus MDT (giờ) ICPI IVPI
Lentogen = 90 = 0,5 Có giá trị gần 0
Mesogen 61 – 90 0,6 – 1,5 Có giá trị gần 0
Velogen 40 – 60 = 1,6 Có giá trị gần đến 3
MDT (Mean death time): Thời gian trung bình gây chết phôi (đơn vị tính
bằng giờ) với liều tối thiểu gây chết 100% phôi.
ICPI (Intracerebral Pathogenicity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm não gà
con 1 ngày tuổi.
IVPI (Intravenous Pathogenicity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm tĩnh mạch
gà 6 tuần tuổi
2.2. Bệnh Newcastle
2.2.1. Loài vật mắc bệnh
Trong thiên nhiên, gà cảm thụ nhất đối với bệnh. Gà mọi nòi giống, mọi lứa
tuổi đều mắc bệnh. Bồ câu, chim sẻ, chim cút và một số loại chim trời cũng cảm
thụ với bệnh.
Khả năng gây bệnh cho gà của virus Newcastle tùy thuộc vào chủng virus,
(Alexander, 1988)
Khả năng truyền dọc từ trứng nhiễm mầm bệnh ở đường sinh dục gà mẹ chưa
rõ ràng (Beard và Hanson, 1984). Gà mái nhiễm virus Newcastle các chủng thuộc
nhóm Velogen có thể ngừng đẻ nhưng nhiễm các chủng thuộc nhóm Lentogen sẽ
có miễn dịch và vẫn tiếp tục đẻ. Phôi nhiễm virus trước khi nở thường bị chết,
nhưng vẫn có thể nở khi virus không có độc lực (French và cộng sự, 1967).
Trên bề mặt vỏ trứng bị nhiễm virus Newcastle từ phân thì sau khi nở, gà có thể
mắc bệnh do virus trong phân bám vào vỏ trứng và sống trong thời gian ấp trứng.
Phôi gà chết do nhiễm mầm bệnh là môi trường tốt cho virus tồn tại.
Virus Newcastle có thể tồn tại trong nước trứng ở nhiệt độ 37
0
C trên 3 tháng
(Lancaster, 1966)
Ngoại ký sinh trùng có thể làm lây lan virus Newcastle nhưng không quan
trọng (Lancaster,1966). Muỗi cũng có thể truyền virus Newcastle (Beard và Hanson,
1984) Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
17
2.2.3. Cơ chế sinh bệnh
Virus có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, qua niêm mạc hầu,
họng sau đó vào máu gây nhiễm trùng huyết và gây viêm hoại tử nội mô huyết
quản, gây xuất huyết do thành huyết quản bị phá hủy và xuất dịch vào các xoang
trong cơ thể.
Virus không tác động trục tiếp lên phổi nhưng thường gây khó thở do tác
động của virus làm rối loạn hệ thống tuần hoàn và trung khu hô hấp của hệ thần
kinh trung ương.
Theo Hanson (1975), sau khoảng 24 giờ virus bắt đầu nhân lên tại vị trí xâm