BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRƯƠNG LAN OANH NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ðẶC ðIỂM DỊCH TỄ CỦA BỆNH
NEWCASTLE VÀ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VACXIN
PHÒNG BỆNH Ở CÁC ðÀN GÀ NUÔI TẬP TRUNG TRÊN
ðỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn
này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 1 năm 2014
Tác giả luận văn
Trương Lan Oanh
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp iiLỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc:
- Trước hết tới TS. Phạm Hồng Ngân - Người Thầy hướng dẫn khoa
học trực tiếp ñã tận tình chỉ bảo và ñóng góp nhiều ý kiến quan trọng từ
bước ñầu ñề xuất ñề cương nghiên cứu, ñến quá trình triển khai ñề tài, thu
thập thông tin, xử lý, tổng hợp số liệu, viết và hoàn chỉnh luận văn.
- Các thầy cô Bộ môn Thú y Cộng ñồng, các thầy cô và các ñồng
nghiệp Phòng thí nghiệm Trọng ñiểm công nghệ sinh học Thú y, cùng các
thầy cô giáo Khoa Thú y, Ban quản lý ñào tạo Sau ñại học Trường ðại học
Nông nghiêp Hà Nội ñã giúp ñỡ và tạo ñiều kiện thuận lợi cho tôi trong
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. VIRUS NEWCASTLE VÀ BỆNH DO CHÚNG GÂY RA 3
1.1.1. Virus Newcastle 3
1.1.2. Bệnh Newcastle 10
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH NEWCASTLE TRÊN THẾ GIỚI
VÀ TRONG NƯỚC 22
1.2.1. Trên thế giới 22
1.2.2. Trong nước 25
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG - NGUYÊN LIỆU - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. NỘI DUNG 30
2.1.1. Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Newcastle 30
2.1.2. Thực trạng tình hình sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle 30
2.2. NGUYÊN LIỆU 30
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.4. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 36
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
2. Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp v
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng TrangBảng 3.1. Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở các giống gà nuôi tập trung
trong các gia đình tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 38
Bảng 3.2a: Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở gà các lứa tuổi của các giống
gà thịt nuôi công nghiệp 40
Bảng 3.2b. Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở gà các lứa tuổi của các giống
gà thả vườn 42
Bảng 3.2c. Tỷ lệ chết do bệnh Newcastle ở gà các lứa tuổi của các giống
gà trứng thương phẩm 43
Bảng 3.3. Phân bố ổ dịch Newcastle ở các tháng trong thời gian nghiên
cứu 48
Bảng 3.4. Kết quả mổ khám kiểm tra bệnh tích Newcastle ở gà trong đàn
xảy ra bệnh 50
Hình 3.3. Xuất huyết niêm mạc dạ dày tuyến 53
Hình 3.4. Loét niêm mạc dạ dày tuyến, phần tiếp giáp dạ dày cơ 54
Hình 3.5. Loét niêm mạc dạ dày tuyến, phần tiếp giáp dạ dày cơ 54
Hình 3.6. Loét niêm mạc dạ dày cơ 55
Hình 3.7. Loét niêm mạc dạ dày cơ 55
Hình 3.8. Xuất huyết niêm mạc ruột non 56
Hình 3.9. Xuất huyết, loét nang lympho bề mặt ruột non 56
Hình 3.10. Xuất huyết, loét nang lympho manh tràng 57
Hình 3.11. Xuất huyết, loét nang lympho manh tràng 57Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT - CRD: Chronic Respiratory Disease – Bệnh đường hô hấp mạn tính
- EID50: Embryo Infective Dose – Liều gây nhiễm 50% phôi gà
- ELD50: Embryo Lethal Dose – Liều gây chết 50% phôi gà
- FAO: Food Agriculture Organisation – Tổ chức nông lương thế giới
-
HA: Haemagglutination Test – Phản ứng ngưng kết hồng cầu
nhiên, ở một số gia đình, mặc dù đàn gà đã được sử dụng vacxin theo đúng hướng
dẫn của nhà sản xuất nhưng bệnh Newcastle vẫn xảy ra. Diễn biến bệnh phức tạp,
không điển hình, nhiều trường hợp triệu chứng, bệnh tích không đặc trưng, khó
chẩn đoán phát hiện, chủ gia trại, trang trại tìm mọi biện pháp để can thiệp, chi phí
khá tốn kém nhưng không hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số
ñặc ñiểm dịch tễ của bệnh Newcastle và thực trạng sử dụng vacxin phòng bệnh ở
các ñàn gà nuôi tập trung trên ñịa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh Newcastle ở các đàn gà nuôi tập
trung trong các gia đình tại Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Tìm hiểu tình hình sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle cho gà nuôi tại
địa phương dẫn đến tình trạng bệnh xảy ra trong đàn.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
- Góp phần làm rõ thêm đặc điểm dịch tễ của bệnh Newcastle và chỉ ra
cho chủ cơ sở chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu thấy những tồn tại, những thiếu
sót trong việc sử dụng vacxin phòng bệnh dẫn đến tình trạng bệnh Newcastle ở
các đàn gà nuôi.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề xuất biện pháp khắc phục và lịch sử
dụng vacxin phòng bệnh phù hợp cho gà, giúp chăn nuôi ổn định và phát triển.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Năm 1926, tại ngoại ô thành phố Newcastle, nước Anh xảy ra một số ổ
dịch ở gà rất giống Bệnh dịch tả gà cổ điển đã có từ trước đó rất lâu, nhưng kết
tròn, hình trụ hay hình sợi. Virus có vỏ bọc lipit nên rất mẫn cảm với các chất
làm tan mỡ như ete, cloroform…
Kích thước virion (hạt virus) từ 150-400 nm. Virus có cấu trúc
nucleocapsit dạng xoắn ốc dài 1000 nm, đường kính 17-18 nm. Vỏ bọc được bao
phủ bởi các gai glycoprotein dài 8-12 nm (Dubois, 1984). Trọng lượng phân tử
của virus Newcastle khoảng 500 x 10
6
dalton. Phân tử virus chứa khoảng 20-
25% lipid, 6% hydrocacbon (Alexander và Senne, 2008)
1.1.1.2. Cấu trúc kháng nguyên
Mật mã di truyền của ARN virus có chứa 6 gen mã hóa các thông tin di
truyền tổng hợp các protein cấu trúc (Samson, 1988). Đó là:
- Haemagglutinin – Neuraminidaza (HN): Có đặc tính gây ngưng kết hồng
cầu và có hoạt tính của men Neuraminidaza có tác dụng phá hủy các điểm thụ
cảm trên bề mặt hồng cầu
- Fusion protein (F) là những thụ thể nhỏ nằm trên bề mặt của hạt
virus, có tác dụng liên hợp các tế bào bị nhiễm virus với nhau thành các tế
bào khổng lồ đa nhân
- Nucleo protein (N), giống như Hístin, là một protein bảo vệ ARN
- Matrix protein (M) có tác dụng gắn ARN của virus với vỏ bọc
- Nucleo protein phospho (NP) có tác dụng gắn kết các Nucleocapsit
với nhau
- Large protein (L) là men polymeraza liên kết trực tiếp ARN với
nucleocapsid
Các protein cấu trúc sắp xếp quanh một trục theo hình xoắn ốc, rỗng giữa,
bên trong là axit nucleic quyết định hình dạng của virus. Trình tự các protein cấu
trúc trong bộ gen của virus là 3
’
N-P-M-F-HN- L5
’
1.1.1.3. ðặc tính nuôi cấy (ðặc tính gây nhiễm)
a. Gây nhiễm cho gà
Gà là động vật thường xuyên và hiệu quả nhất trong việc nuôi cấy (gây
nhiễm) virus Newcastle. Thông thường người ta chọn gà dò 2-3 tháng tuổi để gây
nhiễm bằng cách tiêm bắp hoặc dưới da, với điều kiện biết chính xác gà chưa
được sử dụng vacxin phòng bệnh Newcastle và có nguồn gốc từ những đàn chắc
chắn không bị bệnh Newcastle để trong huyết thanh của chúng không có kháng
thể. Virus sẽ phát triển và gây bệnh cho gà với những triệu chứng và bệnh tích
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 6
giống như ở gà mắc bệnh ngoài tự nhiên (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978).
Ngoài ra, có thể gây nhiễm cho bồ câu, chim sẻ, chim cút
b. Gây nhiễm cho phôi thai gà
Tất cả các chủng virus Newcastle đều nhân lên trong phôi thai gà đang
phát triển. Thời gian và khả năng gây chết phôi thai phụ thuộc vào độc lực của
chủng virus Newcastle. Gây nhiễm virus vào xoang niệu mô của phôi thai gà ấp
10-12 ngày thì các chủng có độc lực cao và vừa thường gây chết phôi trong vòng
60 giờ, các chủng có độc lực thấp phải trên 100 giờ. Kiểm tra thấy bệnh tích trên
phôi chủ yếu là xuất huyết điểm ở da vùng đầu và cánh, có trường hợp xuất huyết
khắp phôi thai. Phôi càng non thì khả năng gây nhiễm và thời gian gây chết phôi
càng nhanh và tỷ lệ phôi chết càng cao (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001; Nguyễn
Như Thanh và cs, 2006)
Đường gây nhiễm vào phôi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của
virus Newcastle. Nếu gây nhiễm vào túi lòng đỏ sẽ gây chết phôi nhanh hơn gây
nhiễm vào xoang niệu
c. Gây nhiễm vào môi trường tế bào
Virus Newcastle có thể nhân lên trong nhiều loại môi trường tế bào khác
nhau. Lancaster (1966) đã liệt kê tới 18 loại tế bào sơ cấp và 11 loại tế bào dòng
mẫn cảm với virus Newcastle. Từ đó đến nay đã có rất nhiều loại tế bào khác nữa
đã được bổ xung vào danh sách những tế bào mẫn cảm với virus Newcastle.
mạc mắt, sốt và nhức đầu (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978; Nguyễn Như Thanh
và cs, 2001).
- Trong phòng thí nghiệm:
Gây bệnh thí nghiệm cho gà dò 2-3 tháng tuổi. Sau khi tiêm truyền virus
Newcastle, gà sẽ bị bệnh và có triệu chứng, bệnh tích giống như gà bị bệnh ở
ngoài tự nhiên.
Cũng có thể gây bệnh cho bồ câu bằng cách tiêm bắp huyễn dịch bệnh
phẩm là não, gan, lách của gà bệnh. Sau 6-8 ngày, bồ câu xuất hiện triệu chứng
liệt và chết sau 15-16 ngày (Nguyễn Như Thanh và cs, 2006).
b. Phân loại virus Newcastle
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001): virus Newcastle có nhiều chủng,
mỗi chủng có khả năng gây bệnh khác nhau cho gà và cho động vật thí nghiệm.
Có nhiều cách phân loại virus:
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 8
* Phân loại dựa vào tính kháng nguyên của virus
- Phản ứng trung hòa và phản ứng kết tủa khuyếch tán trong thạch xác
định được rất ít sự biến đổi về tính kháng nguyên của các chủng virus khác nhau
nhưng có y nghĩa trong chẩn đoán để xác định mầm bệnh
- Kỹ thuật kháng thể đơn dòng được sử dụng để chứng minh sự khác
nhau về tính kháng nguyên giữa các chủng virus Newcastle. Kỹ thuật này có
thể phát hiện những biến đổi nhỏ nhất của kháng nguyên như là sự thay đổi
trình tự các axit amin trên các epitop của kháng nguyên gắn với kháng thể. Vì
vậy bằng kỹ thuật này người ta không chỉ phát hiện được sự khác nhau giữa
các chủng virus mà còn phát hiện sự khác nhau giữa các quần thể virus khác
nhau của cùng một chủng
Russell và Alexander (1983) đã sử dụng kỹ thuật kháng thể đơn dòng để
phân loại chủng virus Newcastle. Các tác giả đã phân các chủng virus Newcastle
thành các nhóm khác nhau dựa vào kết quả phản ứng với các kháng thể đơn dòng
virus vào não gà con 1 ngày tuổi
- IVPI (Intra Venous Pathogenicity Index) – Chỉ số gây bệnh khi tiêm
virus vào tĩnh mạch của gà 6 tuần tuổi
* Phân loại dựa vào đặc tính bộ gen của virus
Do công nghệ gen phát triển, trình tự gen của các chủng virus Newcastle đã
được giải mã và lưu ngân hàng dữ liệu gen và là cơ sở để phân loại các chủng virus
Newcastle
1.1.1.5. Sức ñề kháng của virus
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) do virus Newcastle có vỏ bọc
là lipit nên rất dễ bị tiêu diệt, làm mất khả năng gây nhiễm bởi ete,
cloroform, phenon và focmon nhưng không làm ảnh hưởng đến tính sinh
miễn dịch của virus
Khả năng chịu nhiệt của các chủng virus Newcastle có khác nhau, đây là
một đặc tính di truyền của chúng. Ở nhiệt độ 100
0
C virus bị diệt trong vòng 1
phút, ở 60
0
C trong 30 phút. Ở nhiệt độ âm, virus tồn tại hàng năm
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 10
pH của môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại của virus Newcastle.
Môi trường có pH < 2 hoặc pH >10 thì virus mất khả năng gây nhiễm
1.1.2. Bệnh Newcastle
1.1.2.1. Loài vật cảm nhiễm và bị bệnh
Gà là loài động vật cảm thụ nhất với virus Newcastlee, tiếp đến là gà tây.
Gà mọi giống, mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh. Tuổi gà càng tăng thì khả năng
cảm thụ bệnh càng giảm.
Ngoài gà và gà tây thì chim cút, bồ câu, chim sẻ, sáo, vẹt và một số loại
thống tuần hoàn, virus phá hủy thành mạch quản gây xuất huyết và thấm dịch
thẩm xuất vào các xoang (xoang bụng, xoang bao tim) của cơ thể. Mầm bệnh
không trực tiếp gây viêm phổi nhưng gà bị bệnh Newcastle thường có triệu
chứng khó thở nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là do virus tác động gây rối
loạn hệ tuần hoàn và trung khu hô hấp của hệ thần kinh trung ương. Phần lớn gà
bị bệnh ở thể cấp tính. Một số ít, bệnh tiến triển ở thể mạn tính do virus về sống ở
hệ thần kinh làm cho con vật có những triệu chứng thần kinh đặc trưng (Nguyễn
Vĩnh Phước và cs, 1978; Lê Văn Năm, 2004)
Chỉ sau 5-6 giờ gây nhiễm, virus Newcastle đã nhân lên trong nguyên sinh
chất tế bào vật chủ ở mức tối đa. Vì thế ngay sau 3-4 giờ gây nhiễm, bằng phản
ứng kết hợp bổ thể hay phản ứng miễn dịch huỳnh quang đã có thể phát hiện
được kháng nguyên đặc hiệu của virus Newcastle.
Virus vào cơ thể, sau khi nhân lên, gây tổn thương thực thể tế bào rồi bị
thải ra ngoài qua phân. Vì thế có thể phát hiện virus trong phân của gà bệnh vào
ngày thứ 3-5 sau khi nhiễm (Nguyễn Vĩnh Phước va cs, 1978)
1.1.2.4. Các thể bệnh Newcastle
Căn cứ vào đặc tính sinh học và khả năng gây bệnh khác nhau của
các chủng virus, bệnh Newcastle được chia thành 5 thể sau đây (Beard và
Hanson, 1984):
* Thể Doyle (Viscerotropic Velogenic):
Thể này được Doyle nói đến đầu tiên vào năm 1927, do các chủng thuộc
nhóm Velogen gây ra. Bệnh thường tiến triển ở thể cấp tính. Gà mọi lứa tuổi đều
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 12
có thể bị bệnh và tỷ lệ chết cao, 90-100%. Gà bệnh thường chết nhanh với bệnh
tích đăc trưng là xuất huyết niêm mạc đường tiêu hóa
* Thể Beach (Neurotropic Velogenic):
Beach là người đầu tiên miêu tả bệnh vào năm 1942, bệnh do các chủng
virus thuộc nhóm Velogen gây ra. Gà mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh. Bệnh
thường tiến triển ở thể cấp tính, gà bị bệnh thường chết nhanh. Bệnh tích đặc
số con chết nhanh có khi chưa xuất hiện triệu chứng. Gà bệnh có cả triệu chứng
hô hấp và tiêu hóa. Trên nền chuồng có nhiều bãi phân trắng, nhớt. Gà ủ rũ, lông
xù xơ xác, cánh sã, không muốn vận động, mào yếm tím tái. Nhiều con mắt lim
dim nửa nhắm nửa mở.
Sau vài ngày thấy một số con có triệu chứng thở khó rất rõ: vươn cổ, há
miệng, vẩy mỏ để bắn dịch nhớt trong xoang miệng ra cho dễ thở. Tiếng ho hen
phát ra liên tục kèm theo tiếng rít mạnh, đôi khi nghe rõ tiếng tooc, tooc (Lê Văn
Năm, 2004). Nếu bắt gà bị bệnh, cầm hai chân, dốc ngược đầu xuống thì thấy từ
miệng chảy nước nhớt chua, khắm. Sờ nắn vào diều thấy phần dưới mềm như sờ
vào túi bột nhão, phần trên căng phồng, đầy hơi do thức ăn không tiêu, tích lại
lên men.
Dùng tay mở miệng gà ra có thể thấy trên niêm mạc miệng có những nốt
hoại tử nhỏ phủ bựa màu trắng xám. Gà bệnh bị rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng,
không ăn, uống nước nhiều, ỉa chảy phân trắng loãng có khi có cả những vết
máu. Niêm mạc hậu môn có những vệt, những sọc xuất huyết.
Những gà có sức đề kháng cao thường chống đỡ được bệnh trong thời
gian đầu, gà không bị chết và chuyển sang thể mạn tính. Ở thể này gà có triệu
chứng thần kinh do virus tác động vào hệ thần kinh trung ương. Gà bị rối loạn
vận động: đi đứng không vững, loạng choạng, đi vòng tròn, đi giật lùi, đang đi thì
dừng lại. Đầu và cổ thõng xuống hoặc ngẹo về một bên hoặc vặn lên phía lưng.
Gà mổ không đúng hạt thức ăn. Nếu xua đuổi hoặc đụng chạm đến thì gà ngã lăn
ra, lên cơn động kinh, co giật. Những gà không bị chết thường để lại di chứng
thần kinh lâu dàì
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 14
1.1.2.7. Bệnh tích
Bệnh tích đại thể của bệnh Newcastle ở gà chỉ xuất hiện sau khi đã xuất
hiện triệu chứng lâm sàng và phụ thuộc vào chủng virus gây bệnh. Những gà chết
ở thể cấp tính khi mổ khám có thể thấy những bệnh tích đặc trưng tập trung ở bộ
máy tiêu hóa (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978):
bệnh tích cần chú ý phân biệt với:
+ Bệnh cúm gia cầm (Cúm gà): Gà bị bệnh cúm cũng có một số đặc điểm
dịch tễ và những biểu hiện bệnh giống như ở gà bị bệnh Newcastle. Tuy nhiên,
bệnh cúm có những đặc điểm dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích đặc trưng (Trần Văn
Cổn và cs, 2004) sau đây để phân biệt với bệnh Newcastle:
- Bệnh cúm gia cầm (Avian Influenza) là bệnh truyền nhiễm cấp tính của
loài chim, kể cả gia cầm, thủy cầm, dã cầm (Chim hoang dã). Bệnh do các subtyp
khác nhau thuộc nhóm virus cúm A (Influenza virus A genus), họ
Orthomyxoviridae gây ra
Bệnh xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh, luôn ở thể quá cấp tính và cấp
tính, tỷ lệ chết, tỷ lệ tử vong rất cao, có khi 100% trong vài ngày . Mào, tích thâm
tím có khi xuất huyết. Gà khó thở, vươn cổ, há miệng, vẩy mỏ để bắn đờm dãi
trong miệng ra cho dễ thở. Đờm thường đặc quánh, mũi chảy dịch nhớt màu
hồng do viêm thành các xoang vùng mặt. Một số con có triệu chứng thần kinh:
đầu giật rung liên tục, lắc lư hoặc ngẹo về một bên, nhảy lên dẫy dụa xoay tròn
rồi chết. Những vùng da không lông, nhất là ở cẳng chân và kẽ các ngón xuất
huyết điễm hoặc vệt.
Mào, yếm sưng, tím bầm. Mí mắt phù
Xuất huyết nặng ở nhiều cơ quan nội tạng:
- Xuất huyết điểm hoặc lan tràn trên bề mặt dạ dầy tuyến
- Xuất huyết màng thanh mạc (Mặt ngoài xoang bao tim, mặt ngoài dạ dầy
tuyến, dạ dầy cơ, ruột, màng treo ruột ).
- Xuất huyết mỡ thành bụng, mỡ vành tim, mỡ dính trên màng treo ruột.
- Tụy dòn, các điểm xuất huyết và các điểm hoại tử nhỏ, trắng trên bề mặt
tuyến tụy.
- Xuất huyết, hoại tử bề mặt lách.
- Xuất huyết rất nặng niêm mạc ruột, nhất là niêm mạc ruột non.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp 16
- Gà, vịt đẻ: xuất huyết buồng trứng, tế bào trứng thoái hóa, xuất huyết