LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Ban lãnh
đạo Phân viện thú y Miền Trung, các thầy cô giáo trong Viện công nghệ sinh học và
môi trường, trong Khoa Chế biến, các cán bộ - Bộ môn Nghiên cứu Siêu Vi Trùng
và tập thể cán bộ công nhân viên ở Phân viện, cùng các cô chú cán bộ thú y cơ sở và
các bạn học cùng lớp.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang và Ban
lãnh đạo Phân viện thú y Miền Trung.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn PGS.TS. Ngô Đăng Nghĩa, người đã hướng dẫn tôi
cùng các thầy cô giáo trong bộ môn, trong Viện công nghệ sinh học và môi trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ths. Đỗ Văn Khiên, người đã trực tiếp hướng dẫn
tôi thực hiện và hoàn thành đồ án tốt nghiệp trong bộ môn nghiên cứu Siêu Vi
Trùng – Phân viện thú y Miền Trung. Đồng thời tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành
đến tập thể cô chú, anh chị trong bộ môn Siêu Vi Trùng đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo
trong thời gian tôi thực tập ở đây.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến những người thân trong gia
đình đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và làm đồ án.
Tôi cũng xin cảm ơn các cô chú cán bộ thú y cơ sở và các bạn học cùng lớp.
Nha Trang, ngày 18 tháng 11 năm 2008
Sinh viên
Lâm Thị Huế
1.6.1. Chẩn đoán lâm sàng 21
1.6.2. Bệnh tích mổ khám 22
1.6.3. Chẩn đoán phân biệt 22
1.6.3. Chẩn đoán thí nghiệm 22 1.7. PHÒNG BỆNH 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 28
NGHIÊN CỨU 28
2.1. ĐỐI TƯỢNG 28
2.2. NGUYÊN LIỆU 28
2.3. DỤNG CỤ VÀ HOÁ CHẤT 28
2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.4.1. Phương pháp điều tra dịch tễ 29
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu 30
2.4.3. Phương pháp xử lý mẫu 31
2.4.4. Phương pháp PCR 33
2.4.4.1. Chuẩn bị phản ứng 37
2.4.4.2. Thực hiện phản ứng 38
2.4.4.3. Chạy điện di 38
2.4.4.4. Đọc kết quả 39
2.5. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH ĐẬU DÊ, CỪU BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA DỊCH TỄ 40
3.1.1. Kết quả điều tra tình hình bệnh đậu trên dê, cừu theo tổng đàn điều tra 40
3.1.2. Kết quả điều tra tỷ lệ dê, cừu mắc bệnh đậu theo mùa vụ (tháng 1-
10/2008) 42
3.1.3. Kết quả điều tra tỷ lệ dê, cừu mắc bệnh đậu theo độ tuổi 43
3.1.4. Kết quả điều tra tỷ lệ mắc bệnh đậu theo phương thức chăn nuôi 44
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1. Sơ đồ bộ máy hoạt động của Phân Viện 3
Hình 1.2. Bệnh tích đậu trên da mặt và trên da bụng của dê 15
Hình 1.3. Cấu trúc của virus Capripoxvirus 17
Hình 2.1. Quy trình tách chiết ADN từ vảy mụn đậu 32
Hình 2.2. Các bước thực hiện phản ứng PCR 36
Hình 3.1. Biểu đồ biểu diễn kết quả điều tra tỷ lệ dê, cừu mắc bệnh đậu theo mùa 42
Hình 3.2. Biểu đồ biểu diễn kết quả điều tra tỷ lệ dê, cừu mắc bệnh đậu theo phương
thức chăn nuôi 45
Hình 3.3. Sản phẩm chạy PCR 46
Hình 3.4. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ mẫu dương tính với virus đậu dê theo độ tuổi 49
1
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, chăn nuôi có vai trò quan trọng trong cung cấp thực phẩm thịt sữa và
sức kéo cho cả nhân loại trên thế giới. Trong những năm đầu của thế kỷ 21 việc đẩy
mạnh phát triển về số lượng gia súc đang được nhiều quốc gia quan tâm nhằm đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của con người về thịt, sữa và các sản phẩm khác của
chăn nuôi.
Chăn nuôi dê, cừu cần ít vốn, quay vòng vốn nhanh, tận dụng được lao động và
điều kiện tự nhiên ở mọi vùng sinh thái. Chăn nuôi dê, cừu là định hướng hợp lý
cho phát triển chăn nuôi của nông dân nghèo. Khuyến khích chăn nuôi gia súc nhai
lại nhỏ là cuộc cách mạng thích hợp để giải quyết các vấn đề đói nghèo cho nhân
dân các tỉnh trung du và miền núi hơn các chương trình phát triển đại gia súc khác.
Chăn nuôi gia súc lớn đầu tư vượt quá khả năng của đa số nông dân, thời gian thu
hồi lâu hơn và tiềm ẩn nhiều nguy cơ về kinh tế. Chăn nuôi dê, cừu phát triển góp
phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, ổn định kinh tế và xã hội, giảm đói nghèo,
tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp.
Những năm gần đây, nhờ có chính sách đầu tư và hỗ trợ của nhà nước cùng
nhiều tiến bộ trong việc lai tạo giống cũng như kỹ thuật chăn nuôi cho nên chăn
nuôi dê, cừu được nhiều hộ nông dân ở khu vực Miền Trung quan tâm đầu tư phát
triển với quy mô từ vài chục đến vài trăm con cho mỗi đàn. Một số tỉnh như Khánh
Hòa, Ninh Thuận có điều kiện tự nhiên thuận lợi và người dân ở đây có nhiều kinh
nghiệm chăn nuôi dê, cừu giống và dê, cừu thương phẩm. Theo số liệu thống kê của
Cục chăn nuôi, cả nước hiện có 757 trang trại nuôi dê, cừu trong đó Ninh Thuận dẫn
đầu với 470 trang trại [41], tuy nhiên dịch bệnh vẫn đang là lực cản lớn. Ngoài các
bệnh nguy hiểm như lở mồm long móng, viêm loét miệng truyền nhiễm, bệnh về
đường hô hấp và tiêu hóa,…hiện nay còn xuất hiện bệnh đậu dê, cừu gây nhiều thiệt
hại đáng kể, làm giảm khả năng sinh sản và chất lượng của thịt, lông, da và thiệt hại
lớn về kinh tế. .
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 . GIỚI THIỆU MỘT VÀI NÉT VỀ PHÂN VIỆN THÚ Y MIỀN TRUNG
Phân viện trưởng Phân Viện Thú Y Miền Trung: TS. Nguyễn Đức Tân
Phân Viện Thú Y Miền Trung được thành lập theo quyết định số 213 NN/TC-
QĐ ngày 23 tháng 7 năm 1977 của Bộ Nông Nghiệp (nay là Bộ Nông Nghiệp và
PTNT).
Phân Viện Thú y hoạt động theo cơ chế 115 từ ngày 27/06/2007 theo QĐ –
178/QĐ – BNN – TCCB của Bộ NN & PTNT. Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
KHCN số 05/2007/SKHCN ngày 04/12/2007.
Sơ đồ bộ máy hoạt động của phân viện:
Tài
chính
kế
toán
Kí
sinh
trùng
Vi
trùng
Virus
Chuyển
giao
TBKT
Tổ SX VX
vi trùng
Tổ kiểm
nghi
ệm
Tổ SX VX
virus
Hành
chính
Dê cũng thuộc loài gia súc nhỏ và dễ tính như cừu, được nuôi để lấy thịt và sữa.
Với nông dân các nước hoặc các vùng khô hạn, điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt
và nghèo như Nam Á (Ấn Độ, Pa-kit-xtan, Băng-la-đét…), châu Phi (Xu-đăng, Ni-
giê-ri-a, Ê-ti-ô-pi…), Indonêxia, dê là nguồn đạm động vật quan trọng [38],[43].
Dê được coi là “con bò sữa của người nghèo”. Đàn dê trên thế giới hiện có trên
700 triệu con [38].
5
Bảng 1.1: Số lượng các gia súc chính trên toàn thế giới qua các năm 2000-2003
Vật nuôi 2000 2001 2002 2003
Bò 1.336.940.650
1.349.477.690
1.355.947.790
1.371.116.510
Trâu 164.296.647
165.458.021
167.440.966
170.661.098
Lợn 906.066.043
Nguồn tổ chức nông lương thế giới FAO, 2004
1.2.2. Tại Việt Nam
Nước ta có điều kiện khí hậu nóng ẩm, nhiều đồi núi, nơi có nhiều cây cỏ phát
triển thích hợp với việc nuôi dê. Chăn nuôi dê, cừu cần ít vốn, dê sinh sản nhanh
nên nhanh quay vòng vốn. Thời gian cho sữa nhanh (17 tháng tuổi) hơn bò (36 - 48
tháng tuổi). Dê, cừu cho nhiều sản phẩm: thịt, sữa, da, lông. Phân dê còn tận dụng
nuôi giun nuôi thủy sản, phân bón rất hiệu quả. Dê có tính thích nghi cao, có thể
phát triển ở cả những vùng khô cằn, đồi núi hoang hóa nên có thể phát triển ở
những vùng không thể nuôi bò. Nhiều thành tựu về nghiên cứu, đầu tư và phát triển
thị trường đã phát huy hiệu quả rõ rệt, kể cả những vùng sâu, xa như các huyện
của Hà Giang, Nghệ An, …
Thịt dê, cừu là đặc sản và bổ dưỡng, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng
ngày càng cao của nhân dân. Định kiến về thịt dê, sữa dê hôi đã được xóa bỏ,
chuyển biến tích cực của người tiêu dùng với sản phẩm chăn nuôi dê, cừu đã và
đang là động lực mạnh mẽ cho chăn nuôi dê, cừu phát triển.
Chăn nuôi dê, cừu ở nước ta đã và đang bắt đầu được đầu tư cả về chính sách,
nguồn lực và có một hứa hẹn thị trường trong và ngoài nước không ngừng được
phát triển. Công tác nghiên cứu về giống, thức ăn, thú y, mô hình chuồng trại và sản
xuất, kinh doanh đã và đang có nhiều thành tựu. Đa số các tỉnh đều có kế hoạch
tăng trưởng đàn dê. Một số dự án nghiên cứu, điều tra, quy hoạch phục vụ chăn
nuôi dê, cừu ở Việt Nam đã được hoàn thành. Thu hút được nhiều tổ chức Quốc tế 6
như FAO, DED (của Đức), ILRI, SAREC - SIDA Thụy Điển, Hà Lan, Hội đồng
Anh, … tham gia hiệu quả vào công tác nghiên cứu, đầu tư và phát triển sản xuất
[42].
Bảng 1.2: Mười tỉnh có số lượng đàn dê, cừu nhiều nhất nước
1.3.1. Giới thiệu chung về bệnh
Bệnh đậu dê, cừu là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho dê và cừu được Tổ
chức dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào bảng A-bảng các bệnh truyền nhiễm cực kỳ
nguy hiểm [6],[36].
Căn nguyên gây bệnh là chủng virus thuộc giống Capripoxvirus, họ Poxviridae.
Trong giống Capripoxvirus, ngoài virus gây bệnh đậu dê còn có virus gây bệnh đậu
cừu, virus gây bệnh da nổi cục ở bò và một số virus gây bệnh đậu khác. Tuy nhiên
chỉ có bệnh đậu dê và đậu cừu có thể lây chéo cho 2 loài dê và cừu, còn virus gây
bệnh da nổi cục ở bò không lây sang dê, cừu trong điều kiện tự nhiên [36].
Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009 2010 2015
Tăng
đàn
(con)
1.492.919
1.695.956 1.926.606 2.188.624 2.486.277 4.176.946
Sản
lượng
thịt
(tấn)
11.704 14.246 17.262 20.835 25.360 42.604
Sản
lượng
sữa
(tấn)
399 510 675 914 1.259 2.473
9
Bảng 1.4: Phân bố tình hình bệnh đậu dê trên thế giới
(World Animal Health, 2004)
Nước/vùng lãnh thổ
có dịch
Phân bố hiện
tại
Thiệt hại về kinh tế Tác giả công bố
Europe
Bulgaria Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1996
Greece Đang tồn tại Không có số liệu Kitching, 1994
Italy Đang tồn tại Không có số liệu Kitching, 1994
Norway Đang tồn tại Không có số liệu Hutyra et al., 1949
Russia (Europe) Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1995
Sweden Đang tồn tại Không có số liệu Bakos, Brag, 1957
Asia
United Arab
Emirates
Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1998
Afghanistan Lây lan rộng Không có số liệu Kitching, 1994
Bangladesh Lây lan rộng Không có số liệu
Kitching et al.,
1987
Bahrain Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1998
[China]
-Fujian Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1999
-Gansu Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1999
-Hubei Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1999
-Hebei Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1999
-Lakshadweep Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1998
-Maharashtra Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1998
-Madhya Pradesh Đang tồn tại Không có số liệu Joshi et al., 1999
-Nagaland Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1995
-Orissa Lây lan rộng Không có số liệu
Bandyopadhyay
et al., 1984
-Rajasthan Đang tồn tại Không có số liệu Nagpal et al.,
1990
-Tamil Nadu Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1998
-Uttar Pradesh Đang tồn tại Không có số liệu Das et al., 1978
-West Bengal Lây lan rộng Không có số liệu
Bhowmik et al.,
1986 11
Nước/vùng lãnh thổ
có dịch
Phân bố hiện tại Thiệt hại về kinh tế Tác giả công bố
Iraq Lây lan rộng Không có số liệu Hussein et al.,
1989
Iran Lây lan rộng Không có số liệu Fernandez, 1991
Jordan Đang tồn tại Không có số liệu
Abo-Shehada,
1990
Kirgizia Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1996
Kuwait Đang tồn tại Không có số liệu Fernan dez, 1991
Lebanon Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1993
Sri Lanka Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1996
Algeria Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1990
Egypt Đang tồn tại Không có số liệu Soad et al., 1996
Eritrea Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1998
Ethiopia Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1999
Guinea Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1994
Kenya Lây lan rộng Không có số liệu Kilelu, 1991
Libya Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1992
Morocco Đang tồn tại Không có số liệu Fernandez, 1991
Mali Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1995
Mauritania Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1998
Mozambique Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1997
Niger Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1991
Nigeria Lây lan rộng Không có số liệu
Okaiyeto et al.,
1995
Sudan Đang tồn tại Không có số liệu Hajer et al., 1988
Senegal Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1999
Somali Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1985
Chad Đang tồn tại Không có số liệu Bidjieh et al., 1990
Togo Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1995
Tunisia Lây lan rộng Không có số liệu OIE, 1998
Tanzania Đang tồn tại Không có số liệu Kavishe, 1998
Uganda Đang tồn tại Không có số liệu OIE, 1985
North America
USA Dịch địa phương
Không có số liệu Renshaw, Dodd,
1978
-Washington Đang tồn tại Không có số liệu Renshaw, Dodd,
1978
gây nhiễm cho cừu [12],[16],[22],[33],[34]. Có thể nói rằng vật chủ ưa thích của các
chủng khác nhau là do khả năng thích nghi của chúng trên dê hoặc cừu trong một
vùng địa lý hạn chế. Tuy nhiên, khi giám định sinh hoá các chủng phân lập được,
không phát hiện sự khác nhau rõ ràng giữa virus phân lập được trên dê và trên cừu.
Khi giải trình tự hệ gen, hệ gen virus đậu dê và virus đậu cừu có chiều dài khoảng 14
150 kb và đáng chú ý là chúng rất giống nhau, biểu hiện 96% nucleotide đồng nhất
trên toàn bộ chiều dài hệ gen [35]. Có một vài chủng có vật chủ ưa thích rõ ràng
trong khi các chủng khác kém xác định vật chủ và sẽ nhiễm tự nhiên vào bất cứ vật
chủ nào khi nó tiếp xúc [24]. Cá biệt, người ta đã phát hiện thấy có một số chủng
virus đậu dê có khả năng gây bệnh cho người [12],[26].
Bệnh đậu dê có thể xảy ra ở dê và cừu mọi lứa tuổi, mọi giống, trên cả con đực
và con cái, nhưng thường xảy ra nghiêm trọng trên động vật non, động vật cái cho
sữa và động vật già. Các giống Châu Âu cảm nhiễm nhất. Tỷ lệ chết cao đặc biệt
khi bị nhiễm kết hợp với các bệnh khác như các dịch bệnh của tiểu gia súc nhai lại,
hoặc do quản lý kém. Không có nguyên nhân rõ ràng của ổ dịch đậu dê.
1.3.4. Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích
Động vật mẫn cảm mắc bệnh đậu dê, đậu cừu có triệu chứng đặc trưng là sốt
cao 40 – 41
0
C, xuất hiện các nốt đậu ở da, sưng hạch lympho, chảy nước mắt, nước
mũi và chảy nhiều dãi. Thời gian ủ bệnh kéo dài từ 1 - 2 tuần, con vật bắt đầu sốt,
suy nhược, ủ rũ, khó thở, kém ăn, kết mạc mắt đỏ, lưng cong, sưng hạch lympho,
chảy nước mũi đặc. Sau 1 - 2 ngày, những vùng ban đỏ xuất hiện ở các niêm mạc
nhìn thấy được (như niêm mạc mũi, niêm mạc miệng và âm hộ), ở da, đặc biệt là
vùng da mỏng của cơ thể như ở đầu, cổ, phía trong chân và dưới đuôi, dần dần
những nốt ban này sần lên phát triển thành mụn nước, tiếp đến là mụn mủ và kết
thúc là tạo thành các vảy đậu.
Con vật có thể hồi phục trong vòng 3 - 4 tuần, tuỳ theo mức độ nghiêm trọng
của bệnh, các nốt đậu có thể liền hoàn toàn hay để lại vết sẹo to sâu. Vẩy đậu trên
cơ thể con bệnh có thể mang mầm bệnh trong nhiều tháng sau đó.
1.4. VIRUS ĐẬU DÊ, CỪU (GOAT AND SHEEP POX VIRUS)
1.4.1. Phân loại virus
Virus đậu dê là ADN virus 2 sợi có vỏ bọc, thuộc nhóm Capripoxvirus, họ
Poxviridae [23]. Trong nhóm Capripoxvirus, ngoài virus gây bệnh đậu dê còn có
virus gây bệnh đậu cừu, virus gây bệnh u da ở bò (Lumpy skin disease virus –
LSDV) và một số virus gây bệnh đậu khác. Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên chỉ
có virus đậu dê và đậu cừu có thể gây nhiễm chéo cho hai loài dê và cừu, còn virus
gây bệnh u da ở bò không lây sang dê, cừu. Khi giải trình tự hệ gen cho thấy bộ gen
của virus đậu dê và virus đậu cừu có chiều dài khoảng 150 kb và đáng chú ý là
chúng rất giống nhau, biểu hiện 96% thành phần các nucleotid giống nhau trên toàn
bộ chiều dài hệ gen giữa 2 chủng gây bệnh cho dê và cừu. Đối với kiểu gen thông
thường chúng có ít nhất 147 gen, bao gồm các gen bảo tồn sự nhân lên của virus và 16
các cấu trúc gen có liên quan tới độc lực của virus và khả năng gây bệnh ở vật chủ.
Gen của virus đậu dê và đậu cừu rất giống nhau và giống với gen của virus gây
bệnh u da ở bò, có tới 97% thành phần nucleotide giống nhau [25],[35].
Tất cả các gen của virus đậu dê, cừu đều có mặt trong hệ gen của virus gây
bệnh u da ở bò. Điểm khác biệt là trong bộ gen của virus đậu dê, cừu không có mặt
của 9 gen quy định độc lực và hệ vật chủ của LSDV bao gồm 1 gen cho LSDV là
LSDV 132 và các gen tương tự như những gen mã hoá cho thụ thể Interleukin-1,
Myxoma M003.2 và M004.1 (mỗi loại 2 gen) cùng các gen virus vaccine F11L,
N2L, K7L. Sự vắng mặt của những gen này trong hệ gen của virus đậu dê, cừu được
phỏng đoán là chúng có vai trò quan trọng trong xác định phạm vi vật chủ là bò
[35],[37].
Hệ gen của virus đậu dê, cừu có chứa các nucleotide đặc hiệu khác nhau, được
Trong cùng là phân tử ADN hình sợi xoắn lại theo chiều ngược nhau. Hình 1.3. Cấu trúc của virus Capripoxvirus
Về cấu trúc kháng nguyên của virus đậu có khác với virus có kích thước nhỏ,
vì virus có thêm lớp vỏ bọc ngoài nên ngoài kháng nguyên nucleoprotein còn có
kháng nguyên hoà tan, kháng nguyên này nằm trên bề mặt của virion. Những
nghiên cứu về cấu trúc chính của các polypeptide của virus đậu được xác định bằng
sự phân tích điện di gel polyacrylamide (PAGE), kết quả cho thấy có hơn 20 vạch
có thể phân biệt từ một virus đã được tinh khiết bao gồm một kháng nguyên kết tủa
chính có trọng lượng phân tử 67kDa [20]. Những kháng nguyên kết tủa này được
gọi là kháng nguyên hoà tan, loại kháng nguyên đại diện cho một công cụ chẩn
đoán có giá trị đối với sự nhiễm virus đậu [28],[30] . 18
Các kháng nguyên hoà tan có khả năng kích thích virus tạo ra số lượng lớn
kháng nguyên trong quá trình nhân lên của virus. Kháng huyết thanh kháng lại
chúng tăng lên có thể trung hoà đặc hiệu tính gây bệnh của virus vì có một số kháng
nguyên hoà tan có cấu trúc là thành phần của virus [30].
1.4.3. Đặc tính nuôi cấy và sự nhân lên của virus
Virus đậu dê thích hợp nuôi cấy trên các môi trường là mô tổ chức có nguồn
gốc từ bò, dê, cừu, đặc biệt trên môi trường tế bào thận cừu, dịch hoàn cừu sơ cấp
hoặc thứ cấp. Tuy nhiên, virus đậu dê chỉ gây bệnh tích tế bào sớm nhất 4 ngày sau
khi gây nhiễm, vì vậy cần kiểm tra các môi trường tế bào đã nhiễm virus trong vòng
14 ngày.