Phân tích về giáo dục và thực hành Công tác Xã hội
ở Việt Nam và Canada
Douglas Durst
Nguyễn Thị Thái Lan
Lê Hồng Loan Do Trần Thị Hằng và Nguyễn Lê Trang dịch
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR)
Khoa Công tác Xã hội
Trường Đại học Tổng hợp Regina.
Khoa Công tác Xã hội
Trường Đại học Tổng hợp Regina
Regina, Saskatchewan, Canađa
S4S 0A2
Điện thoại: (306) 585-4117
Fax: (306) 585-5408
E-mail:
www.uregina.ca/spru
ISBN 0-7731-0579-4
Lời Cảm Ơn
Những người nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Khoa Học tập và Nghiên cứu sau Đại học
Trường Đại học Tổng hợp RRegina đã hỗ trợ kinh phí cho nghiên cứu này. Thông qua Các Hỗ
trợ Nghiên cứu, Nguyễn Thị Thái Lan và Lê Hồng Loan đã viết bản thảo đầu tiên bằng tiếng
Anh dựa trên nghiên cứu của khóa học Thạc sỹ về Công tác Xã hội của họ. Sau đó, báo cáo của
chúng tôi được Trần Thị Hằng và Nguyễn Lê Trang dịch sang tiếng Việt. Trần Thị Hằng cũng
được nhận Hỗ trợ từ Khoa Học tập và Nghiên cứu sau Đại học. Ngoài ra còn có sự hỗ trợ của
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR), Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Tổng
hợp Regina. Chúng tôi rất cảm ơn Merle Mills và Fiona Douglas của SPR đã trợ giúp về mặt
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội
Bộ phận Nghiên cứu Chính sách Xã hội (SPR) được thành lập từ năm 1980 với tư cách là bộ
phận nghiên cứu của Khoa Công tác Xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Regina. Mục đích
chính của SPR là tiến hành các nghiên cứu phân tích sâu nhằm nâng cao chất lượng sống của cá
nhân, gia đình và cộng đồng.
Bộ phận hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu của tất cả các thành viên của khoa và hỗ trợ cho sinh
viên và các đối tượng trong việc nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội và chính sách xã hội.
SPR làm việc với các tổ chức cộng đồng, các ban/ngành của chính phủ và các viện chính sách
và viện nghiên cứu khác nhằm góp phần vào việc phát triển chính sách xã hội và dịch vụ phục
vụ con người tại Saskatchewan và những nơi khác. Bộ phận này cũng phổ biến các kết quả
nghiên cứu về chính sách xã hội và phúc lợi xã hội qua các hội nghị, hội thảo, báo chí và các ấn
phẩm khác nhau, bao gồm báo cáo nghiên cứu và báo cáo nghiên cứu đã được các nhà nghiên
cứu bên ngoài đánh giá của SPR.
Các Báo cáo Nghiên cứu của SPR và những ấn phẩm của các hoạt động được thiết kế nhằm xúc
tiến thảo luận về các vấn đề đang nổi lên về chính sách xã hội và các thực hành về dịch vụ phục
vụ con người và để xác định các vấn đề nghiên cứu ưu tiên. Các Báo cáo Nghiên cứu đã được
các nhà nghiên cứu đánh giá của SPR nhằm tạo điều kiện tiếp cận với các kết quả nghiên cứu về
chính sách xã hội và dịch vụ phục vụ con người. Tất cả các ấn phẩm đều được coi là nguồn tài
liệu phục vụ phát triển chính sách và phục vụ việc giảng dạy và học tập tại trường đại học và tại
cộng đồng. Danh sách của các ấn phẩm được phát hành gần đây của SPR sẽ được in tại bìa sau
của báo cáo này. Hầu hết các ấn phẩm đều được đăng trên trang web của SPR: Các Báo cáo Nghiên cứu và Báo cáo Nghiên cứu đã được đánh giá của SPR được coi tương
áp dụng ở Canada và Việt Nam. Có những giá trị căn bản và nguyên tắc đạo đức thường có ở cả
hai nước bao gồm cả sự tôn trọng giá trị và chân giá trị của tất cả mọi người, mối quan tâm đối
với những nhóm người dễ bị tổn thương và sự nỗ lực để xóa bỏ sự phân biệt đối sử. Tuy nhiên,
ý tưởng về chính trị, nền văn hóa và truyền thống vẫn đang ảnh hưởng tới thực hành và giá trị
của thực hành công tác xã hội giữa xã hội định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xã hội
phương Tây định hướng cá nhân chủ nghĩa của Canada. Ở Canada Công tác xã hội đang được
gọt rũa và nó là sự phản ánh của sự đa dạng, tính đa nguyên và là một xã hội từng thay đổi mà
nó chứa đựng nhiều giá trị, niềm tin, và triển vọng của loài người. Từ những năm 1980 với cuộc
bầu cử của nhà nước tân tự do dân chủ, Canada đã và đang đẩy mạnh khái niệm về sự tư nhân
hóa và theo đuổi đến cùng các chương trình xã hội của thế giới. Những nhân viên công tác xã
hội đang phải đương đầu với sự lan tràn của ý tưởng tân tự do mà nó đã đang làm trầm trọng
thêm vấn đề thiếu hụt tính đồng nhất của Công tác xã hội. Các nhân viên Công tác xã hội ngày
càng nhận ra được công việc của họ phản ánh trách nhiệm đối với việc làm chủ xã hội hơn là sự
thay đổi xã hội. Ở Việt Nam, Công tác xã hội đã trải qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình
1
Với năm lĩnh vực thực hành công tác xã hội (Công tác xã hội với cá nhân, gia đình và nhóm,
Phát triển cộng đồng, Chính sách xã hội, Nghiên cứu xã hội, và Hành chính và quản lý), những
giá trị thích đáng, kiến thức và các kỹ năng phù hợp với Canada và Việt Nam đang được xác
định và bàn tới.
Phần đầu của bài viết sẽ tóm tắt ngữ cảnh của Công tác xã hội ở Canada và Việt Nam. Các độc
giả sẽ được cung cấp về tổng quan của lịch sử phát triển Công tác xã hội và giáo dục Công tác
xã hội ở cả hai nước. Phần thứ hai sẽ tập trung vào sự phân tích có so sánh về thực hành công
tác xã hội ở cả hai nước. Tất cả các nội dung sẽ được trình bày với sự tôn trọng tới sự khác
nhau và tính đa dạng của cả hai nền văn hóa. Phần kết luận và đề xuất ý kiến sẽ kết thúc bài
viết. Những bài học sẽ được rút ra cho nghề Công tác xã hội còn non trẻ ở Việt Nam.
Nghiên cứu đưa ra tài liệu về thực hành công tác xã hội ở Canada và Việt Nam. Ở Việt Nam,
giáo dục Công tác xã hội ở trình độ đại học mới chỉ được công nhận như một nghề vào tháng 5
hội này được ủy nhiệm để đưa ra một bộ phận lãnh đạo cho nghề nghiệp, chu cấp cho hiệp hội
trên phạm vi tỉnh, khuyến khích và trợ giúp cho sự phát triển chuẩn ngành, tiến hành nghiên cứu
và phổ biến rộng rãi thông tin về các vấn đề xã hội hiện hành ( theo Foley, năm 1999). Hiệp hội
các trường Công tác xã hội của Canada đã được thành lập vào năm 1948. Đó là hiệp hội của
những nhà giáo dục công tác xã hội, một hiệp hội có trách nhiệm cho việc chính thức công nhận
chương trình công tác xã hội ở trình độ đại học và phổ biến rộng rãi thông tin về giáo dục Công
tác xã hội ở Canada.
Kendall (năm 2000) đã khẳng định rằng sự phát triển Công tác xã hội ở Canada trong thế kỷ này
đã đang tiến tới công việc vững chắc của những nhà giáo dục và những người hành nghề để nuôi
dưỡng những giá trị, xây dựng kiến thức và phát triển những kỹ năng chủ yếu đối với nghề
nghiệp mà nó kết hợp giữa tình thương với khả năng trong mối quan hệ phức tạp với những
người có vấn đề và hoạt động có tính chất xây dựng đối với các vấn đề xã hội. Để có sự cân
nhắc kỹ lưỡng, thực hành công tác xã hội ở Canada hiện nay đang cố gắng phấn đấu để làm tăng
khả năng ngành nghề này.
disregard
Mối đe dọa lớn đối với nghề công tác xã hội ở Canada là làn sóng của chủ nghĩa tân tự do hiện
thời và sự công kích dữ dội của nó vào các dịch vụ phục vụ con người. Trào lưu toàn cầu đối
với những triết lý hướng tới thị trường, thứ triết lý làm tăng sự không quan tâm đếm xỉa đến
những thành viên yếu thế của xã hội, chỉ có thể đối lập với nguyên tắc của công tác xã hội mà
nó làm tăng thêm những ý niệm của chân giá trị và sự tôn trọng đối với các cá nhân cũng như
những giá trị xã hội nền tảng (Theo Teeple, năm 1995). Về mặt lịch sử, các cơ quan dịch vụ xã
hội của nhà nước Canada đang bàn tới những mối quan tâm về mặt xã hội và kinh tế trong xã
hội. Hơn thế nữa, các chương trình và các chính sách xã hội của Canada đang được định rõ đặc
điểm đặc thù bởi tầm nhìn có tính can thiệp của đất nước. Từ những năm 1980, nhà nước liên
bang đã tăng cường khái niệm chung về sự tư nhân hóa và theo đuổi tới đích cuối cùng cho các
chương trình xã hội mang tính toàn cầu. Canada cũng như các quốc gia an sinh khác, đã từng
trải qua những cuộc tấn công nghiêm trọng vào các nguyên lý của sự phân phối lại và sự dự
phòng các dịch vụ sức khỏe và xã hội. Do vai trò của nhà nước liên bang trong dự phòng các
dịch vụ con người bị suy yếu, khu hành chính tỉnh và các cộng đồng đã thấy được sự nâng cao
Nam bắt đầu từ động cơ thúc đẩy của những người theo chủ nghĩa nhân đạo. Tuy nhiên, trong
suốt những thời kỳ thuộc địa và tân thuộc địa nghề Công tác xã hội đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ
bởi các mô hình từ thiện của nước ngoài.
Trước năm 1945 Việt Nam đã là thuộc địa của riêng Pháp. Công tác xã hội ở Việt Nam lấy dạng
mô hình từ thiện mà đã được phổ biến ở các nước phương Tây thời đó. Về cơ bản nó là phạm vi
của các tổ chức tôn giáo (Theo Kelly, năm 2003). Ở các vùng tôn giáo phía nam của đất nước,
Pháp đã duy trì vững chắc các nguyên tắc thực dân. Pháp đã khống chế sự phát triển của nghề
công tác xã hội, thực hành và triết lý của công tác xã hội. Trong suốt thời gian này, Công tác
xã hội phục vụ chủ yếu một nhóm những thân chủ của Pháp. Thêm vào đó, công tác xã hội đã
phục vụ những người công nhân Việt Nam trong các công ty lớn của Pháp và một số lượng trẻ
còn ẵm ngửa, những người quả phụ và người già ở các thị trấn. “Mô hình công tác xã hội đã
đưa các thuộc địa cũ đứng tách rời khỏi các trào lưu quốc gia, và nó không có ảnh hưởng tới
hàng triệu người nghèo, người mù chữ và người thất nghiệp.
Suy nghĩ về công việc được thực hiện dựa trên mô hình của Pháp này, một số lượng các nhà văn
đã phê phán nó như là một công việc không có hiệu quả bởi nó đã không thể chứng minh và còn
là sự gợi ý mang tính gia trưởng, một sự gợi ý không dẫn tới sự trao quyền hợp pháp cho thân
chủ (Theo Kelly, năm 2003). Các hội truyền giáo thiên chúa đã đưa vào các mô hình chăm sóc
có tính chất từ thiện như các trại mồ côi, trung tâm nuôi dưỡng người già và những người tàn
tật. Các nhà nghiên cứu thường nghi ngờ tới sự thích hợp của những mô hình được đưa vào như
thế khi mà gia đình mở rộng truyền thống và cộng đồng vẫn còn có thể xoay xở được. Trong
giới hạn nghề nghiệp, đã có một vài nhân viên công tác xã hội nữ đã được đào tạo với thời gian
hai năm (Theo Nguyễn, năm 2002).
Thời gian cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, năm 1954, Việt Nam được chia làm
hai miền. Đất nước được chia thành hai miền: miền Bắc và miền Nam cho đến khi thống nhất
đất nước năm 1975. Từ năm 1945 đến năm 1975 miền Bắc Việt Nam dưới chế độ Xã hội chủ
nghĩa đã không phát triển công tác xã hội.
Cho đến giữa những năm 1980, sự yếu kém của nền kinh tế tập trung định hướng Xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam đã trở nên rõ ràng. Đất nước bước vào sự khủng hoảng về kinh tế và xã hội.
Để đối phó với tình hình này, Việt Nam đã bước vào công cuộc đổi mới với tên gọi là “Doi
Moi” vào năm 1986. Công cuộc đổi mới đã tập trung vào sự định hướng lại nền kinh tế Việt
Nam hướng tới “nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa dưới sự điều hành của Ban
Giám đốc quốc gia” (Giải pháp của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ sáu năm 1986).
Duy trì ý tưởng của chủ nghĩa xã hội, hai sự đột phá chủ yếu của công cuộc đổi mới ở Việt Nam
để hiện đại hóa là mức độ mở rộng lớn lao thị trường tự do và chính sách mở cửa nhằm mục
đích hướng tới sự hòa nhập dần dần của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và nền kinh tế toàn
cầu. Doi Moi đã tạo khả năng cho quá trình cải cách kinh tế và xã hội, nó mở ra những khả năng
to lớn cho nhân dân Việt Nam nhưng cũng đặt ra những vấn đề và những thách thức mới cho xã
hội. Nhiều vấn đề mới đang nổi lên trong sự kết nối với quá trình chuyển đổi kinh tế và xã hội,
ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe và hạnh phúc của các gia đình và trẻ em Việt Nam. Các vấn
đề xã hội đã mất đi trong một khoảng thời gian nay lại nhanh chóng xuất hiện lại. Theo Nguyễn
(năm 2002) đã miêu tả như sau “Việt Nam đang bị đe dọa bởi hàng loạt những vấn đề kết nối
với sự hiện đại hóa, và các vấn đề này đang phát triển nhanh hơn người ta tưởng:
6
Đói nghèo ở thành thị và nông thôn;
Sự di cư từ nông thôn ra thành thị dẫn tới các vấn đề của trẻ em sống và/hoặc làm việc
trên đường phố
Những công nhân di cư và những ngôi nhà ổ chuột;
Gái điếm - nạn buôn bán phụ nữ trong và ngoài nước;
Ma túy;
HIV/AIDS và
Sự đổ vỡ gia đình, sự thờ ơ đối với trẻ em và lạm dụng trẻ em” (Theo Nguyễn, năm
2002, trang 88).
Việt Nam đã công bố rằng Việt Nam chấp nhận nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ lập trường
nghề. Các Tổ chức phi chính phủ ở địa phương như Tổ chức nghiên cứu phát triển xã hội và hội
thảo ở thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức an sinh trẻ em, Hiệp hội thanh niên thành phố Hồ Chí
Minh, nhóm đào tạo các nhân viên công tác xã hội ở phía Bắc và các phòng của chính phủ đặt
tại địa phương đã góp sức cho sự phát hiện và khai sinh ra Công tác xã hội trong ngữ cảnh mới
của xã hội Việt Nam.
7
Các tổ chức quốc tế bao gồm những người tình nguyện của Liên hiệp quốc, Quĩ Nhi đồng Liên
hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ như Tổ chức Bảo vệ trẻ em Vương quốc Anh, Tổ chức
Bảo vệ trẻ em Thụy Điển, Hội quan tâm thế giới, Ủy ban trung tâm tín đồ dòng Menno - chi
nhánh tin lành ở Hà Lan và quốc tế cũng đã nhận thức được sự cần thiết và bắt đầu phát triển có
đối thoại với các chuyên gia và chính phủ của các tổ chức này. CIDA Canada cũng đã tham gia
vào một cách tích cực.
8
PHÂN TÍCH CÓ SO SÁNH VỀ THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ
CANADA
Định nghĩa về Công tác xã hội
Các định nghĩa có tính quốc gia về Công tác xã hội là tính đến cả thời gian và văn hóa. Các vấn
đề làm thay đổi sự nhấn mạnh của Công tác xã hội. Các định nghĩa có tính quốc tế về Công tác
Thực hành Công tác xã hội ở Canada nói chung là tự nhiên và bao trùm cả năm lĩnh vực thực
hành. Các nhân viên công tác xã hội được nhìn nhận là có phông kiến thức và kỹ năng rộng. Kỹ
năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng hòa giải, kỹ năng trị liệu gia
đình, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quan hệ, hiểu biết quá trình, kiến thức về kỷ luật nội bộ, kiến
thức về đói nghèo, kỹ năng biện hộ, nhận dạng nguồn gốc xã hội của các căn bệnh cá nhân và sự
tự nhận thức là tất cả phần định hướng thực hành tổng hợp. Khả năng giao tiếp có hiệu quả theo
cách giúp con người sát lại gần nhau là trung tâm của công tác xã hội cũng như là sự hiểu biết
các vấn có liên quan đến đói nghèo và áp bức.
Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, sự thiếu hụt về định nghĩa công tác xã hội đang được
đề cập đến như là vấn đề nền tảng của Công tác xã hội ở Canada.
Giáo dục Công tác xã hội: Giáo dục Công tác xã hội ở Canada là có chất lượng cao. Kiến thức
và các kỹ năng đào tạo nói chung đạt được sự mong đợi của những người lao động. Các chuẩn
để có được lòng tin một cách nghiêm ngặt là chỗ đứng cho cả hai văn bằng cử nhân và thạc sĩ
Công tác xã hội. Có sự tăng về số lượng chương trình đào tạo nghiên cứu sinh do các trường
Công tác xã hội ở Canada đề nghị. Các khả năng mới cho việc nghiên cứu sinh đã được phát
triển trong vòng 10 năm qua ở trường Đại học Tổng hợp Calgary, Trường Đại học Tổng hợp
Memorial tỉnh Newfoundland, trường Đại học Tổng hợp Manitoba và ở chương trình kỷ luật nội
bộ ở trường Đại học Tổng hợp McGill. Ở một số tỉnh như Alberta, British Columbia và Ontario,
sự liên kết được tạo ra giữa các chương trình đào tạo văn bằng cao đẳng cộng đồng và chương
trình đào tạo văn bằng cử nhân trình độ đại học cho phép các sinh viên chuyển đổi từ chứng chỉ
sang văn bằng (Theo Westhues và các tác giả khác, năm 2001). Công tác xã hội với cá nhân, Gia đình và Nhóm
Phát triển nghề nghiệp là quá trình mà ở đó những nhân viên công tác xã hội làm việc nơi buồng
bệnh được nâng cao kiến thức của mình và kỹ năng can thiệp thông qua kinh nghiệm và thực
đình họ trong những ngữ cảnh đa dạng của xã hội. Sự nhấn mạnh cần được đánh giá đúng để
hiểu rõ được sức mạnh mà nhiều nhóm gia đình đem lại kinh nghiệm của việc nuôi nấng con cái
và cách sử dụng thực hành kết hợp để làm việc hướng tới mục đích đã được quyết định qua lại
lẫn nhau. Các sinh viên cần kiểm tra sự đánh giá và can thiệp của các mô hình thực hành gia
đình để đảm bảo sự phù hợp của họ với công việc với gia đình có kết hợp và dựa trên sức mạnh.
Việc nghiên cứu cần dạy cho sinh viên xác định và phát triển các chiến thuật cho các tình huống
mà ở đó các giá trị cá nhân và nghề nghiệp mâu thuẫn với các giá trị của thân chủ và những
người trợ giúp các dịch vụ khác trong hệ thống. Đây là những bài học quan trọng cho sự hồi
sinh nền giáo dục công tác xã hội như ở Việt Nam.
Các nhân viên công tác xã hội thường phải đương đầu với sự căng thẳng của môi trường công
việc. Sự căng thẳng này liên quan không chỉ tới số lượng công việc mà còn liên quan tới sự mâu
thuẫn giá trị của việc kiểm soát xã hội và hoạt động xã hội trong công tác xã hội mà các nhân
viên công tác xã hội có thể trải qua. Câu hỏi giáo dục công tác xã hội sẽ chuẩn bị cho các sinh
viên sắp tốt nghiệp đại học tốt như thế nào đối với sự căng thẳng của môi trường công việc sao
cho xứng với sự chú ý trong việc phát triển giáo dục công tác xã hội ở Canada. Phát triển Cộng đồng
Công tác xã hội là một nghề dựa vào cộng đồng; và đây là đặc trưng quan trọng của định hướng
thực hành công tác xã hội nói chung ở Canada. Các nhân viên công tác xã hội được nhìn nhận là
có sự kết nối mạnh với cộng đồng thông qua sự đa dạng của môi trường công việc. Các nhân
viên công tác xã hội được nhận thức để nhạy cảm với cộng đồng như là kết quả của cách tiếp
cận giáo dục công tác xã hội dựa vào cộng đồng của Canada. Đây là sự phù hợp với xã hội văn
hóa đa dạng như Canada.
Có sự phù hợp về văn hóa được tăng lên trong giáo dục công tác xã hội ở Canada. Khắp đất
nước có 34 chương trình về công tác xã hội phản ánh nhu cầu đa dạng và mật độ dân số. Một số
lượng chương trình có sự tập trung đặc biệt vào những người thổ dân và các vấn đề của vùng
nghĩ lại việc thực hành của chúng ta sao cho tốt hơn để đạt được mục đích của những người
đang ở bên lề của xã hội" (Trích lời của Westhues và các tác giả khác, năm 2001). Bà ủng hộ
cho những nhân viên công tác xã hội không chấp nhận những sự thay đổi có tác động mạnh tới
nghề nghiệp.
Các nhân viên công tác xã hội thường không được nhìn nhận là người biện hộ cho các nhóm
người bị áp bức hoặc cho sự thay đổi của xã hội. Westhues và các tác giả khác (năm 2001) đã
trình bày về quan điểm của những nhóm người thổ dân mà thế giới quan của họ khác với những
nhóm người chủ đạo. Triển vọng của người thổ dân đã nhìn nhận công tác xã hội của Canada
như là sự ảnh hưởng còn dư lại của chế độ thực dân hóa, và vì thế nó có liên quan tới cái đã xảy
ra của sự đàn áp và thống trị. Nó ngấm vào viễn cảnh có ưu thế hơn mà được nhìn như bị áp bức
bởi người thổ dân và các nhóm người thiểu số khác.
Nghiên cứu xã hội
Nghiên cứu có chất lượng là sự phê phán trong việc làm giảm bớt hố ngăn cách giữa lý thuyết
và thực hành. Có sự thúc bách để lựa chọn theo lối kinh nghiệm các biện pháp trị liệu và sự can
thiệp bởi vì để có hiệu quả, người nhân viên cần phải biết cái gì là hiệu quả. Khi cộng đồng
những người đang thực hành một kỹ năng, những nhà nghiên cứu, và các sinh viên ham muốn
được áp dụng các phương pháp khoa học để phân tích các vấn đề về công tác xã hội tiếp tục
12
phát triển thì nhu cầu cần thiết để công bố có tính chất chuyên môn đối với kết quả của thực
hành công tác xã hội chẳng bao giờ là lớn lao hơn cả. Nghiên cứu là lĩnh vực thực hành quan
trọng. Người ta đã nói rất rõ trong phần đề cương khóa học của báo cáo đại học Khoa Công tác
xã hội ở trường đại học tổng hợp Regina (năm 2002): “Các sinh viên công tác xã hội cần kỹ
năng nghiên cứu để giữ những thông tin cập nhật với thực hành và để lượng giá việc thực hành
của riêng họ. Kỹ năng nghiên cứu cung cấp cơ sở mà từ đó có thể dẫn tới hoạt động xã hội và
các dạng phát triển cộng đồng khác nhau. Cũng là quan trọng khi các sinh viên hiểu được điều
nghiên cứu có thể được dùng như thế nào để hoặc là trao quyền hoặc là áp bức con người”
(trang 45).
xã hội cũng cần nghiên cứu có tính đặc biệt và kỹ năng sử dụng máy tính để chuẩn bị cho kế
hoạch đề xuất và lượng giá để trợ giúp hoặc tăng cường các chương trình và dịch vụ. Hành chính và Quản lý
Từ “hành chính” bắt nguồn từ từ gốc “ministrate” có nghĩa là phục vụ, chăm sóc, giúp đỡ. Định
nghĩa này cung cấp sự hiểu biết rõ ràng và thích hợp về vai trò của hành chính. Nghĩa thực của
13
từ hành chính có liên quan tới thực hành có thực của công tác xã hội thông qua việc phục vụ
thân chủ. Trong công tác xã hội, hành chính được hiểu như phục vụ người thực hành kỹ năng
bởi việc cung cấp các nguồn, các cấu trúc và môi trường tạo nên thực hành có khả năng và nghệ
thuật giúp đỡ (Theo Rosenberg, năm 1984).
Thực hành công tác xã hội ở Canada đang vận động hướng tới qui tắc thông qua chứng chỉ và
đăng ký. Tất cả các tỉnh của Canada hiện nay đều có một số dạng luật gắn liền với qui tắc nghề
nghiệp (Theo Westhues và các tác giả khác, năm 2001). Sự tự nhiên của qui tắc làm thay đổi
đáng kể qua các tỉnh, nhưng sự phát triển này nói chung được xem như là sức mạnh mà ở đó nó
có nghĩa là những người thực hành kỹ năng công tác xã hội hiện nay đang phải chịu trách nhiệm
nhiều hơn đối với công chúng mà họ phục vụ.
Một nghiên cứu về công tác xã hội thuộc khu vực quốc gia (năm 1999) cho biết giữa năm 1991
và 1996 đã có sự tăng lên 22.9 phần trăm về số lượng vị trí công tác xã hội trên khắp đất nước.
Sự gia tăng này tuy nhiên không phải là giống nhau ở tất cả các tỉnh. Quebec, Saskatchewan và
British Columbia đã trải qua sự gia tăng lớn lao trong khi Newfoundland, Ontario và Nova
Scotia chỉ nhìn thấy sự giảm rất nhỏ trong tổng số các vị trí của công tác xã hội. Năm 1996 tỷ lệ
thất nghiệp có tính quốc gia đối với công tác xã hội là 3.6 phần trăm so sánh với tỷ lệ có tính
quốc gia đối với tất cả các nghề là 10.1 phần trăm. Dữ liệu từ sự điều tra dân số của Canada đã
chỉ ra sự thay đổi từ việc làm của chính phủ tới việc làm trong các tổ chức như chính phủ hoặc
các cơ quan dựa vào cộng đồng hoặc các hiệp hội giữa năm 1991 và năm 1996. Đối với những
Một đề tài khác về sự yếu kém đang nổi lên đó là các nhân viên công tác xã hội và tổ chức công
tác xã hội dường như không có khả năng để tăng cường và trao đổi ngành nghề. Công tác xã hội
được xem như là có những kỹ năng yếu kém trong các mối quan hệ quần chúng khi nó đi đến sự
tự nâng cao (Theo Westhues và các tác giả khác, năm 2001). Sự liên kết giữa Lý thuyết và Thực hành
Một trong những mặt mạnh mà nó đặc trưng cho công tác xã hội ở Canada là sự định hướng
thực hành nghề nghiệp. Sự định hướng thực hành được miêu tả như một cách tiếp cận có hệ
thống và chính thể luận hướng tới sự hiểu biết con người và cấu trúc xã hội. Cách tiếp cận này
được áp dụng rộng rãi qua nhiều cơ sở và khu vực thực hành. Giáo dục công tác xã hội ở
Canada kết nối lý thuyết với thực hành, đặc biệt là ở lĩnh vực hợp thành của giáo dục. Sự yêu
cầu được chính thức công nhận của Hiệp hội các trường Công tác xã hội của Canada (Theo
CASSW, năm 1998) đã đưa ra những điều kiện tối thiểu là phải đạt được 700 giờ ở lĩnh vực
giáo dục đối với bằng cử nhân Công tác xã hội, 900 giờ đối với bằng thạc sĩ Công tác xã hội với
thời gian đào tạo 2 năm (sau cử nhân), và 450 giờ đối với bằng thạc sĩ trong thời gian đào tạo 1
năm (sau cử nhân xã hội). Điều này yêu cầu các sinh viên phải dành thời gian vào một tổ chức
hoặc một cơ quan áp dụng kiến thức và kỹ năng của mình dưới sự hướng dẫn của người dạy
được chấp thuận trong lĩnh vực này. Những yêu cầu được công nhận tương tự cũng đặt ra những
kỹ thuật cho việc kết nối giữa cộng đồng thực hành và viện giáo dục ví dụ như đào tạo cho một
cơ quan dựa vào lĩnh vực của người dạy và đầu vào của sự kết hợp nghề nghiệp trong sự xem
xét được chính thức thừa nhận.
VIỆT NAM
Định nghĩa về Công tác xã hội: Thuật ngữ của Việt Nam về công tác xã hội là thuật ngữ chung
mà nó bao gồm tất cả những việc tốt và việc từ thiện mà bất kỳ ai cũng có thể làm được (Theo
Nguyễn, năm 2002). Đối với những người ở các trường đại học thì công tác xã hội được hiểu
công tác xã hội, đặc biệt là ở phía nam. Chỉ phải mất nửa thập niên để chuyển đổi từ “không biết
gì về công tác xã hội” ở phía bắc đến việc có được công tác xã hội ở trường đại học và các tổ
chức quần chúng như một cách tốt hơn để nói đến các vấn đề hiện đại (Theo Kelly, năm 2003).
Trường Cao đẳng Lao động - Xã hội ở Hà Nội (gọi tắt là COLSA) hiện đang đào tạo ở trình độ
cao đẳng về Quản lý lao động, Công tác xã hội, Hạch toán Kế toán và Kỹ thuật chỉnh hình.
Trường Cao đẳng Lao động - Xã hội đang đào tạo chương trình Công tác xã hội với thời gian 3
năm từ năm 1997. Trong năm 2005 trường đã được công nhận lên Đại học và có thể đào tạo
chương trình ở trình độ cử nhân. Trường có khoa Công tác xã hội. Một số lượng học viện đào
tạo ở phía nam như Trường Đào tạo Hội liên hiệp phụ nữ và Trường Đào tạo Hội thanh niên
cũng đã kết hợp chặt chẽ công tác xã hội với triết học làm việc cộng đồng và giáo học pháp
trong các chương trình đào tạo của mình.
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã bắt đầu đào tạo Công tác xã hội của trường vào năm 1996
sử dụng hướng đi có tính chất học thuật thông qua các môn học có tính chất bắt buộc trong
chương trình Xã hội học của Khoa Xã hội học với kết quả là bằng cử nhân xã hội học. Từ việc
bắt đầu này các giảng viên đại học và những nhân viên đã di chuyển mau lẹ, qua đào tạo, vượt
qua sự thăm hỏi và lòng nhiệt tình, để tới với mô hình công tác xã hội phù hợp đối với ngữ cảnh
của Việt Nam.
Từ giữa những năm 90, việc đào tạo tại chức ngắn hạn đã được mở ra cho các nhân viên của Ủy
ban Chăm sóc và Bảo vệ trẻ em (gọi tắt là CPCC), Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh
niên cũng như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội. Các cuộc hội thảo và các khóa học này đã
cung cấp những kỹ năng cơ bản, kiến thức thành thạo tới trình độ của năng lực quy định đối với
hàng ngàn nhân viên cơ sở ở cộng đồng.
Giáo dục và đào tạo ở Việt Nam phản ánh sự kết hợp của chính sách xã hội, gia đình và cộng
đồng, những niềm tin ý thức hệ và ngữ cảnh. Nó tạo ra khung toàn diện cho sự phát triển của
những con người hữu ích và có trách nhiệm, những người phản ánh nền giáo dục hệ tư tưởng
chính trị của Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển nhân cách, gia đình và phát triển xã hội bằng
năng ghi âm).
Gia đình là đơn vị xã hội cơ bản trong xã hội chúng ta. Chức năng của gia đình là để khuyến
khích, bảo vệ và làm cho trẻ em thích nghi với xã hội. Trong suốt thời gian lịch sử các nhân viên
công tác xã hội cung cấp dịch vụ trực tiếp cho gia đình với sự nhận thức rằng gia đình thực hiện
chức năng trong phạm vi ngữ cảnh chính trị, kinh tế và xã hội rộng lớn. Các dịch vụ được cung
cấp trong phạm vi sắp đặt cả của công cộng và cá nhân trong đó có các trường học, bệnh viện,
nhà tù, trạm y tế sức khỏe tâm thần, các cơ quan an sinh trẻ em, bệnh viện điều dưỡng, nhà an
toàn và những nơi nương tựa. Khi các nhân viên công tác xã hội phát triển và thay đổi khung
đặc biệt và kỹ năng trị liệu để tăng cường chức năng tối ưu của tất cả các gia đình, họ được
hướng dẫn bởi các giá trị và đạo đức công tác xã hội trợ giúp cho sự chuyển dịch vụ hợp lý tới
các thân chủ những người bày tỏ sự ham thích khác nhau và nhu cầu và với sự tôn trọng tính
cách sắc tộc, giai cấp, giới, tôn giáo và/hoặc định hướng giới tính của các thành viên trong gia
đình.
Trong làm việc với nhóm, các nhân viên phải có các kỹ năng làm việc với nhóm và kỹ năng làm
cho thuận tiện. Quan trọng là biết các vai trò và ý nghĩa của nhóm đối với cuộc sống con người.
Nó bao gồm các khái niệm, mục tiêu và những đặc điểm của làm việc với nhóm, các loại hình
17
và các giai đoạn của nhóm trong công tác xã hội; quá trình nhóm và quá trình tương tác; vai trò
của người lãnh đạo và các kỹ năng cần thiết để thực hiện công tác nhóm.
Theo chương trình công tác xã hội phác thảo ở Việt Nam, đề tài này yêu cầu 22 đơn vị học trình.
Nó cũng được chia ra làm các luận đề trong đó bao gồm cả làm việc với cá nhân; làm việc với
gia đình và làm việc với nhóm. Thời gian phụ được dành thêm cho kỹ năng thực hành phát triển.
Rõ ràng là tầm quan trọng hơn nên được dành cho làm việc với nhóm.
Vì thực hành có kỹ năng trong công tác xã hội ở buồng bệnh là đa kích cỡ, chương trình cần bao
gồm cả sự tập trung vào sự tương tác của các cá nhân, gia đình, các cặp vợ chồng và các nhóm
trong các ngữ cảnh môi trường của họ. Nó chứa đựng những chức năng của sự chẩn đoán và
nhóm, hướng dẫn cho những sự lầm đường lạc lối, phát triển cộng đồng và các chủ đề khác.
Hầu hết những người đã được đào tạo trong các khóa học ngắn hạn về công tác xã hội đều đã
làm việc với trẻ em.
Mặc dù vẫn còn phải đương đầu với các cản trở lớn, các kỹ năng công tác xã hội đang được sử
dụng để đề cập đến một số các vấn đề và để đưa ra những thay đổi có thể chấp nhận được, đặc
18
biệt là trong lĩnh vực giao tiếp mở, sự tham gia tới tận gốc rễ, kỹ năng lãnh đạo, …v.v. Phát
triển cộng đồng hiện nay đang được sử dụng như là cách tiếp cận với việc xóa đói nghèo và khôi
phục thành phố. Có nhiều công tác xã hội ở buồng bệnh hơn; và tham vấn đang được giới thiệu
và chấp nhận dần dần như là một giải pháp cho các vấn đề mới giống như sự đổ vỡ của gia đình,
ma túy và mại dâm.
Về mặt truyền thống, Việt Nam có sự động viên cộng đồng rất mạnh. Những tình nguyện viên
và các hiệp hội ở địa phương đã giúp theo nhiều cách khác nhau. Các cộng đồng đã xây dựng
các quỹ để bày tỏ sự mạnh mẽ trong ý thức cộng đồng. Khi Việt Nam trở nên quen thuộc hơn
với triết lý công tác xã hội và các phương pháp thì việc áp dụng của những triết lý và phương
pháp này với các cử tri riêng của mình và trong cộng đồng có thể đưa Việt Nam tới mức độ
phân phối dịch vụ ít hơn trong hệ thống an sinh xã hội mà nó đang là gánh nặng ở Canada và
nhiều nước phát triển khác bởi vì khả năng xây dựng và trao quyền là đang căng thẳng.
Khác với Canada, Việt Nam có một hệ thống gắn liền để thúc đẩy những người dân thường và
tăng cường mục tiêu của nghề công tác xã hội và chương trình trợ giúp thông qua các kết cấu tổ
chức quần chúng của mình. Tuy nhiên, vấn đề có liên quan về mặt văn hóa tới giáo dục công tác
xã hội ở Việt Nam đã không được chú ý đầy đủ. Các vấn đề về giới trong tất cả các khía cạnh
của công tác xã hội yêu cầu rất cơ bản nhưng sự chú ý là kiên định bởi vì các vấn đề về giới vẫn
còn là mới mẻ đối với Việt Nam. Các vấn đề về người dân tộc thiểu số còn chưa được phản ánh
trong chương trình giáo dục công tác xã hội.
nên có khả năng làm công việc nghiên cứu. Tuy nhiên, việc học tập về các phương pháp nghiên
cứu không được xác định như một môn học theo yêu cầu trong chương trình công tác xã hội.
Thêm vào đó, chỉ bốn giờ cho một đơn vị học trình được tập trung vào các phương pháp và kỹ
năng ở cả hai nghiên cứu định lượng và định tính. Điều đó phụ thuộc vào định hướng của các
phương pháp nghiên cứu xã hội học. Hơn thế nữa, nó nhấn mạnh vào các lý thuyết như vai trò
của nghiên cứu trong ý thức xã hội học, mối quan hệ giữa sự nhận thức về mặt lý thuyết và sự
nhận thức về mặt kinh nghiệm. Phạm vi của kỹ năng và kỹ thuật nghiên cứu tập trung vào việc
hướng dẫn nghiên cứu xã hội như thế nào thì không được đưa ra nhiều sự chú ý và cái được đưa
ra chủ yếu là lý thuyết chứ không phải là thực hành. Phương pháp nghiên cứu định lượng thì trội
hơn, sao lãng phương pháp nghiên cứu định tính.
Khác với Canada, một hạn chế khác tới sự phát triển của việc học theo cách nghiên cứu xã hội ở
Việt Nam là việc tiếp cận với máy tính còn nghèo nàn. Rất khó cho các sinh viên tinh thông các
kỹ năng về máy tính thống kê được sử dụng trong nghiên cứu.
Các văn bản chính thức nhận biết nghiên cứu xã hội như là sự ưu tiên trong các viện giáo dục và
đào tạo ở Việt Nam. Tầm quan trọng của nghiên cứu xã hội không được hiểu đầy đủ, do đó nó
không bao gồm hoặc nhấn mạnh vào nhiều chương trình giảng dạy. Hành chính và Quản lý
Giống như ở Canada, hành chính và quản lý về công tác xã hội ở Việt Nam nhằm mục đích
cung cấp kiến thức cơ bản về hành chính trong các tổ chức phục vụ con người. Nội dung bao
gồm định nghĩa về hành chính, quản lý, người quản lý, và quản lý tài chính trong công sở, tài
liệu quản lý ca, và các hình thức quản lý. Quan trọng là phải phân biệt được sự khác nhau giữa
hành chính và quản lý trong công việc với việc phục vụ con người. Một số người nghĩ rằng
“Quản lý” không tồn tại trong công tác xã hội và quên đi việc hiểu thấu tầm quan trọng của nó.
Sự liên kết giữa Lý thuyết và Thực hành
“Lĩnh vực công việc không được hiểu một cách đúng đắn ở Việt Nam. Trong chương trình hiện
có ở Hà Nội, rất ít thời gian dành cho thưc tập (chỉ 10 đơn vị học trình). Công tác xã hội hoặc
được coi như hoàn toàn là môn học về lý thuyết hoặc được coi như “một công việc tốt” mà bất
kỳ ai cũng có thể làm được. Cả hai viện đào tạo công tác xã hội ở miền bắc và miền nam đều
bày tỏ những mối quan tâm lo lắng đến khó khăn của việc sắp đặt truy cập công tác xã hội cho
các sinh viên của học viện. Ngày nay người ta tin tưởng rộng rãi rằng hoạt động này là một yếu
tố thiết yếu đối với những sinh viên đang phát triển để trở thành các nhân viên công tác xã hội
chuyên nghiệp. Với sự rõ ràng của việc tập trung, điều cốt yếu của khoa học ứng dụng (như là
công tác xã hội) đang có khả năng được thực hiện các kỹ năng đã được học sau khi được cấp
bằng. Nguyễn (năm 2002) thấy rằng các kỹ năng được cấp bằng chưa phải là đủ đối với tình
trạng chuyên nghiệp:
Một nhân viên công tác xã hội nhờ vào bằng cấp thì không trở thành một nhà công tác
xã hội chuyên nghiệp ngay được. Người đó chỉ có thể tham gia một kỳ kiểm tra để có
bằng thực hành quốc gia sau vài năm làm việc dưới sự giám sát của nhà chuyên môn có
kinh nghiệm (Theo Nguyễn, năm 2002).
Còn nữa, giá trị của việc học xảy ra đồng thời được nhìn nhận hoàn toàn là thực chất, như được
trình bày sau đây:
Kinh nghiệm sắp xếp việc làm nếu được khai thác, đã được kết nối với lý thuyết công
tác xã hội và được phân tích, là một cách đảm bảo mạnh mẽ cho thực tế của trẻ em và
dựa vào cộng đồng cung cấp thông tin và nâng cao chất lượng của việc học có tính chất
học thuật, cũng như đảm bảo cho sinh viên có trách nhiệm đối với việc học tập của
chính mình (Theo McAuthur, nhà cố vấn, Tổ chức Bảo vệ Trẻ em Thụy Điển, năm
2003).