kỷ yếu hội thảo quốc tế nghiên cứu, đào tạo và thực hành công tác xã hội tại việt nam - hiện trạng và tương lai - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA PHỤ NỮ HỌC

**********

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ
“NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO VÀ THỰC HÀNH
CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM :
HIỆN TRẠNG VÀ TƯƠNG LAI”

Với sự tài trợ của tổ chức Radda Barnen

Từ ngày18 đến 20 tháng 12 năm 2000
Tại ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG TP. HỒ CHÍ MINH
Tham luận 4 :
Quá trình lòch sử và đặc điểm của ngành công tác xã hội tại VN.
(Bà Nguyễn Thò Oanh, Th.s. Hội Tâm lý và Giáo dục học TP. Hồ Chí
Minh) ……………………………………………………………………
23
Tham luận 5 :
Công tác xã hội : Một nghề chuyên môn nhiều thử thách.
(TS Robert Doyle, ĐH Charles Sturt, Australia) ………………………
34
Tham luận 6 :
Giáo dục Công tác xã hội và những vấn đề đào tạo tại Singapore
và Anh quốc.
(Bà Catherine Briscoe, Khoa Công tác xã hội và Tâm lý, Đại học
quốc gia Singapore) ………………………………………………….………
42
Tham luận 7 :
Những nét đặc trưng của sự phát triển ngành Công tác xã hội tại
Âu Châu.
(GS. TS Sven Hessle, ĐH Stockholm, Thụy Điển) ………….…………
51
Tham luận 8 : Thực tập công tác xã hội trong công tác đào tạo tại Khoa Phụ Nữ
Học.
(Bà Nguyễn Thò Nhẫn, Khoa Phụ Nữ Học) ……………………………
58

3
Tham luận 9 : Trường Cao đẳng Lao động – Xã hội với đào tạo Công tác xã hội.

sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của Hội BTTE
TP.HCM
(Bà Nguyễn Thò Châu, Quỹ BTTE TP. HCM) ………………………….
95
Kết quả thảo luận nhóm ……………………………………………….
99
CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO QUỐC TẾ
4
“NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO VÀ THỰC HÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
TẠI VIỆT NAM : HIỆN TRẠNG VÀ VIỄN CẢNH TƯƠNG LAI” Chiều ngày 17.12.2000 :
Từ 14g00 đến 16g30 : Đại biểu đăng ký và nhận tài liệu
Đòa điểm : Đại Học Mở Bán Công TP. Hồ Chí Minh
Số 97 Võ Văn Tần, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh

NGÀY 1 ( 18.12. 2000)
Buổi sáng :

Từ 7g30 đến 8g30 : Đại biểu tiếp tục đăng ký và nhận tài liệu 8.30 – 9.00

sự phát triển của ngành công tác xã hội tại Việt Nam
( Bà Britta Ostrom, Radda Barnen )
11.00 – 11.30 Tham luận 4

Quá trình lòch sử và đặc điểm của ngành công tác xã
hội tại Việt Nam
( Th.s. Nguyễn Thò Oanh, Hội Tâm lý và Giáo dục học
TP. HCM )

5
Ăn trưa

Nhà hàng Thắng Lợi ( Victory ) số 14 Võ Văn Tần,
Quận 3, TP. HCM.

Buổi chiều :

14.00 – 14.30
15.45 – 17.00
Thảo luận nhóm
( 3 nhóm )

Nhóm 1
: Chúng ta phải làm gì để thúc đẩy ngành
công tác xã hội tại Việt Nam phát triển ?
Nhóm 2 : Đào tạo nhân viên xã hội như thế nào để
đáp ứng với tình hình phát triển xã hội hiện nay của
Việt Nam ?
Nhóm 3 : Nền tảng pháp lý như thế nào để bảo đảm
cho thực thi nghề nghiệp ?

17.30 - 20.00 Tiệc chiêu đãi tại Nhà hàng Chancery, lầu 7, số 196 Nguyễn Thò Minh Khai,
TP. Hồ Chí Minh
6

NGÀY 2 ( 19.12. 2000 )


Trường Cao đẳng Lao động – Xã hội với đào tạo công
tác xã hội
( TS. Nguyễn Tiệp, Hiệu trưởng Trường CĐLĐXH, Bộ
LĐ-TBXH )
9.30 – 9g45 Tham luận 10

Ứng dụng công tác xã hội trong các hoạt động của Hội
Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam ( Bà Trần Tiết Hạnh,
Giám đốc Trung tâm Công tác xã hội Thanh thiếu
niên)

9g45 – 10g15 Giải lao 10.15 - 10.30 Tham luận 11

Nhu cầu đào tạo nhân viên xã hội trong ngành Lao
Động, Thương binh và Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh
( Bà Võ Thò Bạch Tuyết, Giám đốc Sở LĐ-TBXH TP.
HCM)



Thảo luận nhóm
( 3 nhóm )

Nhóm 1 : Những thuận lợi và khó khăn mà nhân viên xã
hội gặp phải khi làm việc với các đối tượng và các bên
đối tác.

Nhóm 2 : Văn hóa Việt nam và Công tác xã hội : thuận
lợi và khó khăn

Nhóm 3 : Những vấn đề gì cần quan tâm khi xây dựng các
giá trò đạo đức nghề nghiệp cho ngành công tác xã hội
Việt Nam ? Ăn trưa Nhà hàng Thắng Lợi ( Victory ) số 14 Võ Văn Tần,
Quận 3, TP. HCM.

Buổi chiều :
Tham quan cơ sở

8NGÀY 3 ( 20.12. 2000 )
Buổi sáng :8.30 - 8.45 Báo cáo kết quả
thảo luận nhóm
Các thư ký của 3 nhóm báo cáo 8.45 - 9.30 Tham luận 14

Nhu cầu thực hành CTXH tại các cơ sở của Thanh
niên xung phong TP. HCM
( Ông Danh Quý, Giám đốc Trung Tâm Nhò Xuân,
Thanh Niên Xung Phong)
9.30 - 9.45 Tham luận 15

Ứng dụng phương pháp CTXH trong các hoạt động


Bế mạc Hội thảo Phát biểu bế mạc Hội thảo
9

BÀI PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI THẢO QUỐC TẾ
“Đào tạo, nghiên cứu và thực hành công tác xã hội tại Việt Nam :
Hiện tại và Tương lai”

X  W
Ông Lê Thế Dõng
Hiệu trưởng, ĐH Mở – Bán Công TP. HCM Đại học Mở Bán công TP. HCM rất hân hạnh và vui mừng đón tiếp các quý vò đại biểu khắp
mọi miền đất nước Việt Nam và từ các tổ chức xã hội, Đại học nước ngoài đến tham dự Hội
thảo quốc tế lần đầu tiên tại Việt Nam về vấn đề “đào tạo, nghiên cứu và thực hành công tác
xã hội tại Việt Nam”.

Như quý vò đại biểu đã biết, Việt Nam, sau những năm dài chiến tranh chống xâm lược và
thống nhất đất nước, đang nỗ lực hàn gắn những vết thương do chiến tranh gây ra, đang xây
dựng một hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn chỉnh hơn với những chính sách xã hội lớn

các tổ chức này đã tác động mạnh đến nhận thức chuyên nghiệp hóa công tác xã hội trong cả
nước và qua đó có thể khẳng đònh việc quản lý và điều hành các dự án phát triển ngày càng có
hiệu quả hơn. Ngoài ra, Khoa Phụ Nữ Học cũng đã đối tác với một số tổ chức quốc tế trong
nghiên cứu, đào tạo, cấp học bổng và thực hiện một số dự án phát triển tại cộng đồng. Sự
trưởng thành của Khoa Phụ Nữ Học hiện nay cũng một phần lớn nhờ vào sự hỗ trợ to lớn của
một số tổ chức phi chính phủ quốc tế, sự hỗ trợ này đã giúp cho chúng tôi khắc phục được
những khó khăn ban đầu và chúng tôi xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ của quý vò trong thời
gian qua và đặc biệt là sự tài trợ của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em của Thụy Điển ( Radda Barnen )
trong việc tổ chức Hội thảo quốc tế lần đầu tiên này.

Kính thưa Quý vò,

Hôm nay, chúng ta đến với Hội thảo này, cùng nhau góp ý để Đại học Mở Bán công TP. Hồ
Chí Minh và các tổ chức đào tạo khác có thêm điều kiện đóng góp công sức của mình vào tiến
trình chuyên nghiệp hóa ngành công tác xã hội nói riêng và nói chung cho sự công nhận về
mặt quốc gia ngành công tác xã hội như là một nghề chuyên môn như những nghề khác, một
nghề có những đặc thù riêng biệt, phù hợp với hoàn cảnh văn hoá, xã hội và chính trò của Việt
Nam hơn.

Tôi xin long trọng tuyên bố khai mạc Hội thảo và nhân dòp cuối năm, sắp bước qua năm mới
của thế kỷ mới, chúng tôi xin chúc quý vò nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.


rất tự hào về truyền thống “Con Rồng Cháu Tiên” của Việt Nam, nghóa đồng bào ruột thòt,
truyền thống tốt đẹp trong ca dao Việt Nam “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống
nhưng chung một giàn”, những câu nói như là “Thương người như thể thương thân”, “Uống nước
nhớ nguồn”, “Lá lành đùm lá rách”… Từ lâu đã trở thành phương châm xử thế và quan niệm
sống người Việt Nam chúng ta.
Trong điều kiện mới, nhất là trong hoàn cảnh phát triển của đất nước, chúng ta cần phải tiếp
tục phát huy truyền thống tốt đẹp này và còn phải làm tốt hơn nữa những gì mà ông cha ta đã
làm trước đây. Từ sau Cách mạng Tháng 8 cho đến nay, nhà nước Việt Nam đã hình thành rất
nhiều cơ sở xã hội. Để làm được công tác này ngoài việc quản lý nhà nước tức là đề ra chủ
trương chính sách và kiểm tra việc thực hiện thì nhà nước ta rất cần một đội ngũ cán bộ có
chuyên môn, có năng lực thực hiện. Những người làm công tác này rất cần cho xã hội vì ngoài
kiến thức khoa học họ còn có cả một tấm lòng. Đồng chí Hiệu Trưởng Đại học Mở – Bán Công
có nói là chúng ta đã đào tạo hơn 1.000 cán bộ trong lãnh vực này, thật ra con số này còn rất là
nhỏ bé so với nhu cầu xã hội hiện nay, cho nên việc mở rộng đào tạo và nghiên cứu khoa học
trong các đại học là nhu cầu cấp thiết nhất hiện nay.
Theo quy đònh hiện hành, hiện nay, việc mở rộng đào tạo là do Bộ trưởng Bộ Giáo dục quyết
đònh, còn các chuyên ngành thì do Hiệu trưởng các trường quyết đònh. Căn cứ vào nhu cầu của
xã hội, chúng tôi cho rằng chúng ta sắp bước vào thế kỷ 21 thì việc hội nhập vào đại học thế
giới là nhu cầu khách quan mà chúng ta cần phải thực hiện. Chúng tôi cho rằng việc mở ngành
đào tạo về Công tác Xã hội trong các trường đại học hiện nay là một nhu cầu cần thiết. Nhưng
để làm được việc này thì chúng ta phải trả lời được những câu hỏi rất cơ bản mà Thủ tướng
12
Phạm Văn Đồng đã nêu cho các trường đại học. Bốn câu hỏi tuy rất ngắn nhưng rất sâu sắc đó
là:
“ Dạy ai? Dạy cái gì? Dạy như thế nào và Dạy để làm gì? “
Bốn câu hỏi này, chúng ta phải trả lời được trước khi chúng ta bàn đến việc mở ngành đào tạo
mới trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam. 13ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI KHOA PHỤ NỮ HỌC –
ĐẠI HỌC MỞ BÁN CÔNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

X  W
TS. Thái Thò Ngọc Dư
Trưởng khoa Phụ Nữ học
Đại Học Mở-Bán Công TP. HCM 1. Một sự kết hợp liên ngành phù hợp với xu thế phát triển của các ngành khoa học xã
hội và đáp ứng nhu cầu của thực tế Việt Nam.
Trong chiều hướng phát triển các ngành mới về khoa học xã hội và nhân văn tại Đại học Mở –
Bán Công TP.HCM, lúc ấy còn là Viện Đại học mở rộng, khoa Phụ Nữ Học đã được thành lập
vào tháng 4 năm 1992 theo quyết đònh số 125/QĐ do Viện trưởng Viện Đào tạo mở rộng ký
ngày 29 tháng 4 năm 1992. Khoa Phụ Nữ Học đào tạo sinh viên theo chương trình Cử nhân Xã
hội học, chuyên ngành Phụ Nữ Học, hệ tập trung dài hạn 4 năm. Khóa đầu tiên khai giảng vào
tháng 10 năm 1992 với 45 sinh viên. Ngay từ đầu, các giảng viên chòu trách nhiệm xây dựng
chương trình đào tạo đã chọn con đường kết hợp phụ nữ học với xã hội học và công tác xã hội.
Một câu hỏi thường được các khách nước ngoài đặt ra khi đến thăm Khoa Phụ Nữ Học, nhất là
những người trong ngành công tác xã hội là: tại sao lại mở ngành CTXH trong Khoa Phụ Nữ
Học? Xin trả lời rằng xuất phát điểm là một sự hội tụ của nhiều sáng kiến từ cơ sở, một sự tình
cờ đầy may mắn tạo điều kiện cho các tiềm lực đã được nuôi dưỡng hòa nhập vào môi trường
đại học. Đó là:

nghề nghiệp của nhân viên xã hội: tự hào về ngành nghề của mình nhưng đồng thời khiêm tốn
biết rằng nghề CTXH càng phát huy tác dụng nếu nó càng liên kết với các ngành khoa học xã
hội, môi trường, văn hóa.
Việc liên kết các thành phần chính về xã hội học, PNH và CTXH trong một chương trình cử
nhân phù hợp với phương châm đào tạo mà ngành giáo dục đại học đã đề ra là đào tạo theo
diện rộng có chuyên môn hóa hợp lý. Quan niệm đào tạo này giúp sinh viên thích nghi với bối
cảnh thò trường lao động đòi hỏi kiến thức liên ngành, dễ thích nghi với nhiều loại công việc.
Đồng thời sinh viên có một chuyên môn hẹp hơn về lý thuyết kết hợp với kỹ năng thực hành.
Khoa PNH đã chọn một lãnh vực khó là tìm hiểu con người để làm việc với con người trong tất
cả sự đa dạng của họ. Chúng ta đang nói đến phát huy nguồn nhân lực, vậy nghiên cứu và
giảng dạy về những vấn đề bình đẳng giới, về tăng quyền lực cho những nhóm dân cư bò thiệt
thòi cũng đi vào hướng phát huy nguồn nhân lực.
− Trên nền tảng chung là hướng mọi hoạt động tiến đến công bằng, PNH với trọng tâm là bình
đẳng giới cùng có chung các mối quan tâm với CTXH: chống nghèo đói (chủ đề quan trọng
hàng đầu của chương trình hành động Bắc Kinh), tăng cường năng lực và quyền của phụ nữ
nghèo, trẻ em Có kiến thức CTXH, người học PNH được trang bò những kỹ năng làm việc
với phụ nữ, cộng đồng; có kiến thức PNH, người học CTXH hiểu rõ hơn những đặc điểm của
một đối tượng mà mình phục vụ là phụ nữ. Quan trọng hơn nữa là hiểu cách đặt vấn đề bình
đẳng giới, tiến đến xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa nam giới và nữ giới, từ đó
nhân viên xã hội sẽ có những hoạt động phong phú hơn cho nam giới và nữ giới trong cộng
đồng.
− CTXH không chỉ hỗ trợ những người bò tổn thương giải quyết vấn đề mà còn có trọng tâm
phát triển: phát triển xã hội, phát triển cộâng đồng > mở rộng phạm vi hoạt động của nhân
viên xã hội như là một tác viên phát triển đến các lãnh vực mới như: cộng đồng tham gia
phát triển đô thò, bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường
15
− CTXH càng tăng thêm giá trò và hiệu quả khi có sự liên kết với các hoạt động phát triển

Một trong những trọng tâm đào tạo CTXH là nâng cao sự hiểu biết và thâm nhập thực tế của
Việt Nam. Các giảng viên đã có nhiều nỗ lực “Việt Nam hóa” các giáo trình về công tác xã
hội, tiến hành nghiên cứu để làm rõ hơn những nét đặc thù của bối cảnh văn hóa-xã hội Việt
Nam. Do đó, một mặt, Khoa đã mở rộng hợp tác để học hỏi, tiếp cận những xu hướng phát
triển mới của đào tạo CTXH trên thế giới, một mặt không ngừng suy nghó về một phương thức
hòa nhập những kiến thức mới mẻ này vào bối cảnh VN, luôn tư vấn về những điều thích hợp
16
hay không thích hợp với đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội của VN. Các giảng viên đã tích lũy,
thu thập được nhiều trường hợp điển cứu từ công tác thực tập và đã hoàn thành một tập tài liệu
về các trường hợp điển cứu liên quan đến trẻ em, gia đình.
Một bước phát triển mới trong năm 2000: Khoa Phụ Nữ học đã xây dựng ba chuyên ngành đào
tạo: Giới và phát triển, Xã hội học ứng dụng và Công tác xã hội. Chương trình đã được Ban
Giám hiệu chấp thuận và sẽ bắt đầu áp dụng cho các khóa sinh viên từ 1999 trở đi. Như vậy,
khi lên năm thứ ba, đến giai đoạn chuyên ngành, sinh viên có thể chọn một trong ba chuyên
ngành, trong đó có công tác xã hội. Nhờ xây dựng chương trình chuyên ngành, nội dung của
từng chuyên ngành được tăng cường. Chương trình của chuyên ngành CTXH được tăng cường
phần thực tập và các nội dung liên quan đến trẻ em, đến tham vấn.
3. Kết quả đào tạo
Khóa đầu tiên khai giảng vào tháng 10 năm 1992 với 45 sinh viên. Đến năm 1999, Khoa Phụ
Nữ Học đã tổ chức được 8 khóa học với tổng cộng số sinh viên được tuyển vào là 1.143 sinh
viên, đang chuẩn bò tuyển sinh khóa học thứ 9 (2000 – 2004). Đã có 176 sinh viên tốt nghiệp
(25% so với số tuyển vào). Hàng năm, Khoa Phụ nữ học tuyển sinh với số lượng trung bình là
80 – 100 sinh viên/ năm, năm cao nhất được 250 sinh viên (khóa 1993 – 1997). Tổng số sinh
viên hiện đang học hệ cử nhân là 433 sinh viên của các khóa học từ 1996 đến 1999.
Khoa Phụ Nữ Học đã hợp tác với Hội Liên Hiệp Phụ Nữ TP. HCM và trường Cán bộ phụ nữ
Trung ương 2 đào tạo cử nhân cho cán bộ của các cấp hội LHPN. Trường Cán bộ phụ nữ trung
ương 2 đã phối hợp tổ chức hai khóa đào tạo cử nhân cho cán bộ hội LHPN các tỉnh phía Nam,

đã giúp họ đạt rất nhiều tiến bộ trong công việc. Điều mà sinh viên tâm đắc là họ đã thay đổi
cách tiếp cận các vấn đề, cách nhìn nhận đối tượng mà họ phục vụ theo hướng thấy rõ hơn tiềm
năng của họ và hiểu thế nào là phát triển vì con người.
Đối với những sinh viên trẻ, một số đã tìm được việc làm ngay trong những dự án do Khoa
PNH quản lý thông qua những hợp đồng hợp tác như dự án tái hòa nhập trẻ có vi phạm pháp
luật vào cộng đồng, công tác xã hội học đường, phát triển cộng đồng ở Phường 12, Phường 15 -
Q. Bình Thạnh, chống bạo hành phụ nữ ở Phường Cô Giang – Quận 1, giáo dục môi trường
trong trường học thuộc dự án “Làm sạch Kênh Tân Hóa – Lò Gốm và nâng cấp đô thò” Sinh
viên tốt nghiệp cũng được các cơ quan về phát triển xã hội, dự án phát triển cộng đồng, các
đoàn thể xã hội tuyển dụng.
Chúng tôi thiết nghó, nếu nghề CTXH được chính danh, được nhà nước chính thức công nhận và
ghi trong danh mục ngành nghề thì sinh viên tốt nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tìm được việc làm
hơn nữa.
4. Khó khăn
Ở đây chúng tôi không đề cập đến những khó khăn chung của người làm công tác đào tạo.
Ngay từ khi thành lập Khoa PNH và xây dựng ngành học, chúng tôi đã ý thức rằng đây là một
thử thách mà chúng tôi tự nguyện nhận lấy, và như vậy, với sự hỗ trợ của nhà trường, nỗ lực tự
thân vận động của giảng viên là hết sức cần thiết cho sự tồn tại của khoa PNH và cho sự phát
triển của ngành học PNH, XHH và CTXH. Chúng tôi chỉ nêu ra những khó khăn mà các Bộ,
ngành có thể giúp giải quyết được.
Khó khăn chung cho sinh viên Đại học mở: đó là sự phân biệt bằng cấp giữa đại học công lập
và ngoài công lập. Nếu xã hội còn phân biệt thì chủ trương chính sách của nhà nước nên tránh
củng cố thêm sự phân biệt này.
Ngành CTXH, qua hơn 8 năm thử thách trong khuôn khổ một chương trình đào tạo cử nhân ở
đại học, đã chứng minh được lý do tồn tại của ngành khoa học này, thực lực của đội ngũ giảng
18
viên có thể đảm đương được, nhu cầu đào tạo và sử dụng của xã hội ngày càng tăng, nhưng

Trẻ Em của Thụy Điển tại Việt Nam.

Trước hết, Radda Barnen đã hoạt động tích cực qua đào tạo công tác xã hội năm 1993 từ khi
sự hợp tác giữa Khoa Phụ Nữ Học và Radda Barnen được bắt đầu. Đối với Radda Barnen, đó là
một quyết đònh mang tính chiến lược vì lúc ấy, Khoa Phụ Nữ Học được biết đến như là đại học
duy nhất trong nước đã mở lại đào tạo công tác xã hội từ sau khi đất nước thống nhất. Lúc đó,
Radda Barnen nhận thấy có một nhu cầu to lớn cần hỗ trợ cho sự phát triển ý tưởng và các dòch
vụ công tác xã hội và cùng làm việc với cơ sở đào tạo ở đại học như Đại học Mở Bán công TP.
Hồ Chí Minh là một cơ hội tuyệt vời.
Việt Nam có truyền thống lâu đời giải quyết an sinh xã hội dựa trên cộng đồng và trên bình
diện quốc gia. Trong cuộc sống làng xã, gia đình thường đóng một vai trò trọng yếu. Nếu
chúng ta gạt qua một bên “cái lăng kính nghề nghiệp” và nhìn một cách toàn diện hơn các
niềm tin và các thực hành xã hội thì ta dễ thấy rằng tại Việt Nam luôn có một truyền thống
mạnh mẽ về sự hỗ trợ phi chính quy cho các thành viên cộng đồng “thiếu may mắn”. Thực
hành tại cộng đồng trong những năm tháng xã hội chủ nghóa cũng đã củng cố thêm ý thức tập
thể và các giá trò “tập thể” tiêu biểu cho xã hội truyền thống.
Theo bối cảnh lòch sử, những bước đầu đào tạo công tác xã hội trước năm 1975 tại miền Nam
Việt Nam đều dựa vào Trường Công tác Xã hội Quốc gia và Trường Caritas, tất nhiên đó là
những tài nguyên đáng giá trong việc đào tạo các nhân viên xã hội cho một xã hội thời đó với
đặc điểm của nó là chiến tranh và đầy biến động xã hội. Những bước đầu do các nhân viên xã
hội được đào tạo thực hiện là quy tụ lại, nhắm đến việc tái lập công tác xã hội như là một nghề
nghiệp trong thời gian 1990 gần đây được xem là nhìn xa thấy rộng và có lợi ích cho Việt Nam
ngày nay và như thế đã trải qua một giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế và xã hội
của đất nước.

Những sự kiện gần đây hơn đã đưa Việt Nam gần với phần còn lại của thế giới, với đà phát
triển quốc tế và những bước đầu đã tạo ra những tài nguyên tốt hơn cho nhận thức và cách làm

tế dân chủ với nền tảng thử thách của chính các cổ động viên và các chiến lược, chúng tôi
không hẳn là một tổ chức dễ làm việc nhất với người khác. Mối quan hệ Radda Barnen đã có
với các tổ chức đối tác Việt Nam nhiều hơn là do những động lực đặc biệt. Đôi khi chúng tôi
đấu tranh để hiểu biết lẫn nhau, nhưng từ viễn cảnh của Radda Barnen, chúng tôi có thể nói là
phần lớn những kinh nghiệm được chia sẻ của chúng tôi là kích thích và là kinh nghiệm học hỏi
duy nhất trong lãnh vực công tác xã hội.

Trong những năm gần đây, Radda Barnen rất vui mừng tham dự không chỉ vào sự phát triển
công tác xã hội một cách tổng quát mà còn vào sự phát triển công tác xã hội đang dần dần có
được sự thừa nhận trẻ em nữ và nam như là những công dân với những nhu cầu và quyền riêng
biệt của chính họ. Ở tất cả các quốc gia, chúng tôi càng ngày càng học hỏi được về những tinh
túy của công tác xã hội với trẻ em và trẻ em và gia đình. Chúng tôi cần tiếp tục học và tiếp tục
phối hợp những cố gắng của chúng tôi.
21

Liên quan đến những sáng kiến hành động đặt trọng tâm vào trẻ em và gia đình, Radda Barnen
đặc biệt vui mừng kết hợp với hoạt động bảo vệ trẻ em của Trung Tâm Công tác xã hội tại TP.
Hồ Chí Minh và Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương tại Hà Nội cũng như các khía cạnh công
tác xã hội/phát triển cộng đồng của công tác với trẻ em khuyết tật tại Vónh Phúc và Tiền Giang
và thanh thiếu niên làm trái pháp luật trên khắp đất nước. Công tác xã hội tại trường học hiện
đang được triển khai, nhận thức về giới trong công tác xã hội và quyền trẻ em được xem như là
nền tảng của mọi công tác xã hội liên quan đến trẻ em.

Hình thức hỗ trợ cho công tác xã hội được triển khai bởi các tổ chức quốc tế tại Việt Nam hình
như rất đa dạng và phần lớn chòu ảnh hưởng bởi hình thức quan hệ đối tác giữa tổ chức quốc tế
và tổ chức đối tác Việt Nam. Các loại mục tiêu và các hoạt động chú trọng đến sự hợp tác tất
nhiên cũng có một ảnh hưởng lớn trên toàn bộ đặc tính của sự “liên kết” khác nhau trong lãnh


22
động đầy đủ của công việc của chúng ta. Tuy nhiên, điều rõ ràng chính yếu là niềm vui to lớn
về sự phát triển công tác xã hội tại Việt Nam ngày nay.

Và như công tác xã hội tại Việt Nam đang tiếp tục phát triển có những cách tiếp cận khác nhau
và các lãnh vực chuyên biệt như tư vấn gia đình, tham vấn HIV/AIDS, công tác xã hội với
người nghiện và trong khi đó vấn đề bạo lực gia đình hay buôn bán phụ nữ cũng đang trên đà
gia tăng. Chúng tôi muốn nhân cơ hội này chúc các cơ sở đào tạo công tác xã hội tại Việt Nam
vững bước qua những thử thách khác nhau của sự phát triển công tác xã hội và đặc biệt về vấn
đề biện hộ bảo đảm cho sự tham gia đầy đủ của trẻ em ở mọi khía cạnh của công tác xã hội và
phát triển cộng đồng.

23
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG TÁC XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM NGÀY NAY

Z  Y
Nguyễn Thò Oanh, Th.s.
Phát triển Cộng đồng
DẪN NHẬP
Ở khắp nơi trên thế giới, CTXH chuyên nghiệp bắt đầu với hoạt động nhân đạo. Lúc đầu, cách
tiếp cận để giải quyết vấn đề tùy thuộc vào tính chất của vấn đề, vào cách tổ chức có thẩm
quyền nhìn nhận chúng và tài nguyên vật chất và xã hội sẵn có.
Sau này trong giai đoạn thực dân và thực dân mới, CTXH chòu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những
mô hình từ bên ngoài đưa vào. Đối với Việt Nam, bắt đầu với giai đoạn trước thời thực dân
Pháp để tìm hiểu từng giai đoạn phát triển khác nhau của CTXH là một điều lý thú.

Ngoài các vấn đề xã hội kể ở phần trên thì có thêm nạn mại dâm. Tình hình trở nên trầm trọng
hơn ở chỗ việc buôn bán á phiện trở thành hợp pháp mà là một độc quyền của chính quyền
Pháp cùng với rượu và muối. Mại dâm phát triển mạnh để phục vụ quân đội, công chức Pháp
và người Việt Nam phục vụ cho họ. Theo tài liệu thời đó, nạn mại dâm đã mang tính quốc tế
với sự có mặt của các cô gái nước ngoài (từ Rô-ma-nia, Hy Lạp và các nước khác thuộc vùng
BalKan) và vấn đề phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại đã được đề cập đến (Vương Hồng Sển,
1943 – Nguyễn Khắc Viện, 1967).
Tuy nhiên, các vấn đề trên không phải là mối quan tâm của nhà cầm quyền Pháp hồi đó. Thay
vào đó, là các mô hình chăm sóc tập trung như viện mồ côi, viện dưỡng lão dành cho người già
và người khuyết tật được du nhập bởi các nhà truyền giáo công giáo như họ đã làm ở các nơi
khác. Những nhà nghiên cứu đặt câu hỏi liệu việc du nhập các mô hình này có phù hợp không
khi mà đại gia đình và cộng đồng truyền thống còn rất nhiều tiềm năng an sinh xã hội. Tuy
nhiên, Việt Nam không quên công lao của người Pháp về Trường Mù Nguyễn Đình Chiểu (ở
TP. Hồ Chí Minh) và Trường Câm Điếc Lái Thiêu đã được chính quyền Việt Nam tiếp quản,
hiện đại hóa và còn hoạt động tới ngày nay. Phục hồi gái mại dâm và thanh thiếu niên phạm
pháp cũng là một đóng góp có ý nghóa vì nó giúp cho xã hội hiểu rằng đối với các đối tượng
này không chỉ có sự trừng phạt và loại trừ. Tuy nhiên, công việc này không được thành công và
phát triển lâu dài.
Cũng nên ghi chú rằng hoạt động an sinh xã hội lúc ấy chỉ do sáng kiến và trách nhiệm của các
tổ chức tôn giáo. Một điều lý thú là trong lúc người Pháp bành trướng các mô hình chăm sóc
tập trung khá ngoại lai để giải quyết các vấn đề xã hội với xu hướng từ thiện, thì những người
yêu nước và cách mạng Việt Nam đã nỗ lực tổ chức các mạng lưới thanh niên, sinh viên, công
nhân (những người đánh xe ngựa, thợ mộc, thợ giày, phu khuân vác) nhằm vào “các dòch vụ
cứu trợ đỏ” để phục vụ người nghèo và xây dựng sự tương thân tương trợ. Bắt đầu một cách bí
mật vào những năm 30, các phong trào này bò dập tắt sau đó, nhưng trong suốt quá trình lòch sử,
chúng nói lên rằng Việt Nam luôn có tiềm năng sáng tạo các mô hình phát triển của chính
mình (Nguyễn Thò Oanh, Saigon – TP. Hồ Chí Minh, 300 năm, 1997).
GIAI ĐOẠN SAU THỰC DÂN PHÁP Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1945 – 1954)
Từ 1945 đến 1975, chúng tôi chỉ bàn về miền Nam Việt Nam bởi vì sau cuộc Cách Mạng 1945,
chỉ miền Bắc dành độc lập bền vững và thiết lập chế độ XHCN nên không phát triển ngành

người tò nạn miền Bắc, đa phần là người Công giáo. Sau đó qua tài liệu Peutagon Papers được
biết đây là một phong trào do CIA tổ chức để khai thác tinh thần chống Cộng của người Việt
Nam Công giáo. Những người này sau này cũng bò sử dụng trong cuộc chiến tranh chống Cộng.
Các tổ chức phi chính phủ quốc tế lớn (INGO) đã được chuẩn bò để hỗ trợ cuộc di cư như Tổ
chức Cứu trợ Công giáo Mỹ (Catholic Relief Services – CRS), Tổ chức Hợp tác của Mỹ để cứu
trợ khắp nơi (Cooperation for American Relief Everywhere – CARE) và Tổ chức Cứu nguy
Quốc tế (International Rescue Committee – IRC). Các tổ chức an sinh xã hội, an sinh nhi đồng
khác cũng lần lượt tới ngay sau đó như Hội Cha Mẹ Nuôi (Foster Parents Plan), Quỹ Trẻ em Cơ
đốc giáo (Christian Children Fund), Tổ chức Mennonite, Tổ chức Cơ đốc Adventist. Cứu trợ và
đònh cư người tò nạn trở thành một hoạt động bình thường cho tới khi chiến tranh chấm dứt, bởi
lẽ nó không chỉ phục vụ người di cư từ miền Bắc và chính sách “đô thò hóa cưỡng ép” đã tạo ra
hàng triệu người di dân từ nông thôn về các thành phố để cho Mỹ dễ bề lục soát, bắt bớ những
du kích cộng sản hầu chấm dứt phong trào cách mạng.
Sự hiện diện của Mỹ đã tạo ra những vấn đề xã hội to lớn như nạn mại dâm, thanh thiếu niên
phạm pháp, các băng nhóm tội phạm, và tệ nghiện ma túy xung quanh các trung tâm của quân
đội Mỹ. Các vấn đề này ít được quan tâm ngoại trừ vài chương trình nhỏ cho trẻ đánh giày. Hệ
thống an sinh xã hội khổng lồ (với cả trăm tổ chức phi chính phủ và quốc tế đã tham gia hoạt
động sau này) và hàng triệu đô-la Mỹ đầu tư vào cái gọi là “dòch vụ con người” chỉ là “cuộc
chiến kia” (“the other war”). Cuộc cứu trợ người tò nạn chỉ là xoa dòu hậu quả chiến tranh, công
cuộc “bình đònh nông thôn” có khi còn gọi là “phát triển cộng đồng nông thôn” chỉ nhằm vào
việc thu phục “trái tim và khối óc” người Việt Nam để họ ngả về phía Mỹ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status