| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21) 11
Thảo luận về nâng cao sức khỏe tại Việt Nam
Lại Đức Trường (*)
Mục đích của bài báo là phiên giải nâng cao sức khỏe (NCSK) và các khái niệm liên quan trong điều
kiện Việt Nam, từ đó giúp hiểu rõ hơn và thúc đẩy các hoạt động NCSK. Bằng trích dẫn đònh nghóa
của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1946 về NCSK, tác giả đã giải thích sức khỏe tồn tại dưới ba
trạng thái: Khỏe mạnh, không bệnh không tật và có bệnh, tật. Các trạng thái này luôn chuyển đổi
do tác động của các yếu tố quyết đònh sức khỏe. Các yếu tố này bao gồm yếu tố cá nhân (sinh học
và xã hội); môi trường nơi sống, làm việc, học tập; môi trường xã hội; bối cảnh chung và môi trường
tự nhiên. Các tiếp cận đối với sức khỏe cũng được xác đònh, bao gồm: tiếp cận lâm sàng, tiếp cận
phòng bệnh và tiếp cận NCSK. Từ đó tác giả đã đưa ra giải thích về đònh nghóa NCSK và phân biệt
với các khái niệm khác rất thông dụng ở Việt Nam như truyền thông - giáo dục sức khỏe, phòng bệnh.
Các lónh vực hoạt động và các giải pháp đối với các nhóm yếu tố quyết đònh sức khỏe cũng được chỉ
rõ. Các lónh vực này bao gồm phát triển kiến thức và kỹ năng cá nhân, xây dựng môi trường sống,
học tập, làm việc NCSK, xây dựng và thực hiện các chính sách và cuối cùng là hợp tác toàn cầu.
Discussion on health promotion in Vietnam
Lai Duc Truong (*)
The purpose of this article is to interpret Health Promotion (HP) and related concepts in the
Vietnamese context to facilitate the understanding and promote action for HP. The article begins with
citing the World Health Organization definition about health from 1946 and explains that health
status exists in three states: Good health, absence of diseases and infirmity, and lastly illness. These
three states are constantly changing from one to another. The article then summarizes the
determinants of health. These include individual factors (biological and social), setting factors
(residence, workplace, school); social determinants; and global and natural factors. Health
approaches including clinical, preventive and HP approaches are identified. The article then outlines
the HP concept and differentiate it from other common concepts in Vietnam such as heath education
and communication; disease prevention. Lastly the article summarizes the action area, strategies and
measures appropriate for each group of health determinants. These mainly comprise of developing
personal knowledge and skills, promoting healthy settings, developing and implementing healthy
policies, and global collaboration.
với truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK).
Trong thực hành, các hoạt động phòng bệnh/NCSK
chỉ thiên về TTGDSK, các giải pháp khác không
được coi trọng. Hoạt động TTGDSK nhiều khi lại
khiến cho cộng đồng hoang mang sợ hãi vì hoạt
động này tập trung vào nâng cao hiểu biết về một
bệnh/tật nào đó trong khi năng lực y tế, nhất là y tế
cơ sở chưa đủ để giải quyết vấn đề này. Việc phân
công trách nhiệm hệ thống điều trò, y học dự phòng
và TTGDSK không rõ ràng và có sự chồng chéo.
Bài viết nhằm giúp hiểu rõ và tăng cường các
hoạt động NCSK tại Việt Nam.
2. Sức khỏe và các yếu tố quyết đònh
sức khỏe.
2.1. Tình trạng sức khỏe.
Năm 1946, WHO đưa ra đònh nghóa về sức khỏe
như sau [1, 2, 15]:
Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể
chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ có nghóa là
không bệnh tật.
Theo đònh nghóa này, có thể hiểu rằng sức khỏe
tồn tại dưới ba trạng thái:
(a) bệnh tật: Có sự hiện diện của một bệnh/tật
nào đó.
(b) không bệnh, không tật: mặc dù khám lâm
sàng và cận lâm sàng không thấy có bệnh tật nhưng
không hoàn toàn khỏe mạnh. Những người có rối
loạn đường máu, mỡ máu nhưng chưa tiến triển
thành bệnh đái tháo đường, bệnh tim-mạch có thể
xếp vào nhóm này.
nhân (social determinants of health) được quan tâm
Hình 1. Các trạng thái sức khỏe.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21) 13
nhiều. Từ đó đã dẫn tới mô hình thứ 3, mô hình của
John Germov (2005). Mô hình này đề cập chi tiết
hơn các yếu tố xã hội của sức khỏe [9].
2.2.2. Mô hình đề xuất.
Dưới đây tác giả sử dụng mô hình của Dahlgren
và Whitehead làm cơ sở để xây dựng mô hình mới
diễn tả các yếu tố quyết đònh sức khỏe một cách đơn
giản và dễ hiểu.
Như minh họa ở trang dưới, mô hình này chỉ ra
các yếu tố quyết đònh sức khỏe bao gồm 4 lớp: cá
nhân; môi trường nơi sống, làm việc, học tập; môi
trường xã hội; các yếu tố toàn cầu và môi trường tự
nhiên.
2.3. Các yếu tố quyết đònh sức khỏe.
2.3.1. Các yếu tố cá nhân.
Các yếu tố cá nhân bao gồm hai nhóm: yếu tố
sinh học và yếu tố xã hội.
+ Yếu tố sinh học:
- Yếu tố sinh học là bản chất sinh vật của con
người, bao gồm (a) Tuổi, giới, chủng tộc, kiểu gien…
Đây là những yếu tố hầu như không thể thay đổi
được với trình độ khoa học kỹ thuật hiện tại. (b) Các
đặc tính, thuộc tính khác của một cơ thể sống mà
con người có. Các yếu tố này khi rối loạn, tổn
thương sẽ gây bệnh tật.
- Yếu tố sinh học là đối tượng chủ yếu của các
việc, học tập. Mỗi nơi có những quy đònh, văn hóa
và điều kiện làm việc riêng. Thông thường người
lãnh đạo của các tổ chức này có vai trò rất quan
trọng đối với sức khỏe các thành viên.
2.3.3. Môi trường xã hội.
- Bao gồm các yếu tố kinh tế - xã hội của khu
vực, của quốc gia. Ví dụ như trình độ phát triển kinh
tế, luật pháp, văn hóa, tôn giáo Dòch vụ y tế cũng
là một trong các yếu tố này.
- Môi trường xã hội bao gồm cả môi trường vật
chất do con người tạo ra kể cả ô nhiễm môi trường.
- Các yếu tố xã hội ảnh hưởng tới sức khỏe ngày
càng được quan tâm vì vai trò quan trọng của chúng
trong nâng cao sức sức khỏe của người dân. Các yếu
tố này còn được gọi là các yếu tố xã hội quyết đònh
sức khỏe. Các yếu tố này có thể thay đổi để tạo ra
Hình 2. Tình trạng sức khỏe, các yếu tố quyết đònh
sức khỏe và các cách tiếp cận.
14 Tạp chí Y tế Công cộng, 10.2011, Số 21 (21)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
môi trường có lợi cho sức khỏe.
- Một số ví dụ về các yếu tố xã hội quyết đònh
sức khỏe bao gồm: thu nhập và đòa vò xã hội; an toàn
thực phẩm và an ninh lương thực; nhà ở và cung cấp
nước sạch; giao thông vận tải; mức độ ô nhiễm môi
trường; tình trạng các dòch vụ y tế; bình đẳng giới;
trình độ văn hóa; nghèo đói; chiến tranh, xung đột,
bạo lực [13];
2.3.4. Bối cảnh chung và môi trường tự nhiên.
- Bối cảnh chung bao gồm các yếu tố có tính
chất…Tiếp cận y học chủ yếu giải quyết những rối
loạn các yếu tố sinh học của các cá thể. Bệnh lý tâm
thần là những trường hợp đặc biệt bao gồm cả rối
loạn về yếu tố sinh học và xã hội do vậy trong điều
trò bên cạnh về thuốc cần phải quan tâm tới tâm lý
trò liệu thì mới có thể đạt kết quả cao. Để thực hiện
cách tiếp cận lâm sàng đòi hỏi phải có hiểu biết về
y học lâm sàng.
- Tiếp cận phòng bệnh: Áp dụng các giải pháp
ngăn ngừa bệnh tật phát sinh thông qua loại
trừ/giảm bớt tác động của các yếu tố gây bệnh. Ví
dụ đeo khẩu trang trong môi trường có bụi silic là
giải pháp phòng bệnh bụi phổi silic. Tiêm vắc-xin
phòng bệnh cũng là một ví dụ về phòng bệnh. Tiếp
cận phòng bệnh sử dụng các giải pháp như sàng lọc,
phát hiện sớm đối tượng nguy cơ cao để có các can
thiệp sâu hơn so với cộng đồng chung. Để thực hiện
cách tiếp cận phòng bệnh đòi hỏi cả kiến thức về y
học lâm sàng và về y tế công cộng (làm việc với số
đông/cộng đồng/quần thể).
- Tiếp cận NCSK: Chủ yếu cho cộng đồng
chung, bao gồm những người khỏe mạnh (không bò
bệnh và không phải là đối tượng nguy cơ cao). Tiếp
cận NCSK toàn diện hơn và cao hơn đối với tiếp cận
phòng bệnh. NCSK còn tác động loại bỏ môi
trường, điều kiện nguy cơ, tạo ra môi trường có lợi
cho sức khỏe. Nếu có thể chia dự phòng cấp I (ngăn
ngừa không cho bệnh phát triển) làm hai phần thì
phần trước (dự phòng cấp 0) là NCSK, phần sau (dự
phòng cấp I thực sự) là phòng bệnh. Ở thí dụ trên,
cá nhân.
Ở đây cần xác đònh rõ NCSK có hai lónh vực
chính: cải thiện môi trường và phát triển kiến thức,
kỹ năng cá nhân [5], trong đó cải thiện môi trường
là quan trọng hơn.
Sự khác biệt của NCSK và các khái niệm liên
quan khác.
- NCSK và phòng bệnh/dự phòng: NCSK cũng
là phòng bệnh nhưng ở mức độ cao và toàn diện
hơn. Phòng bệnh là các hoạt động nhằm giúp mọi
người đạt được tình trạng "không bệnh, không tật"
[1, 2, 15] trong khi đó NCSK là quá trình giúp mọi
người đạt được tình trạng "hoàn toàn thoái mái về
thể chất, tinh thần và xã hội" [1, 2, 15]. Phòng bệnh
chủ yếu tác động vào các yếu tố cá thể để ngăn
ngừa tác động của các yếu tố có hại tới cá thể.
NCSK chủ yếu tác động vào môi trường để làm cho
các yếu tố có hại cho sức khỏe không phát sinh. Tuy
nhiên ranh giới giữa phòng bệnh và NCSK là không
rõ ràng. Một số nước trên thế giới tách riêng phòng
bệnh và NCSK, một số đưa phòng bệnh vào NCSK.
- NCSK và TTGDSK hay thông tin, giáo dục và
truyền thông sức khỏe (IEC): TTGDSK/IEC chỉ là
một phần của NCSK nhằm vào phát triển kiến thức
và kỹ năng cá nhân.
3.2. Các lónh vực hoạt động và giải pháp
trong NCSK.
Có 4 lónh vực hoạt động NCSK tương ứng với
bốn nhóm yếu tố quyết đònh sức khỏe được mô tả ở
phần trên. Trong mỗi nhóm có những giải
sức khỏe nào đó cho cộng đồng. Ngoài các hình
thức trên còn sử dụng các hình thức cung cấp thông
tin cho cộng đồng khác như phát tờ rơi, dựng pano,
tổ chức hội nghò, hội thảo
- Tiếp thò xã hội: Sử dụng kỹ thuật trong kinh
doanh để bán các sản phẩm sức khỏe. Các sản phẩm
này có thể là sản phẩm cụ thể như thuốc phòng và
chữa bệnh, bao cao su hay là những hành vi có lợi
cho sức khỏe như không hút thuốc lá, rửa tay bằng
xà phòng. Tiếp thò xã hội thường được thực hiện dựa
vào các phương tiện thông tin, đại chúng.
- Quản lý kiến thức: Thường là dựa vào internet.
Với hình thức này, những trang web có những thông
tin cần thiết cho một vấn đề sức khỏe được xây dựng
để mọi người quan tâm có thể khai thác phục vụ cho
nhu cầu chăm sóc sức khỏe cá nhân, gia đình.
3.2.2. Xây dựng nơi sống/làm việc/học tập nâng
cao sức khỏe.
Xây dựng nơi sống/làm việc/học tập NCSK
có nghóa là xây dựng nơi diễn ra các hoạt động
thường xuyên của con người có lợi cho sức khỏe. Ở
những nơi này các yếu tố quyết đònh sức khỏe được
xem xét một cách toàn diện và được giải quyết lồng
ghép và theo thứ tự ưu tiên. Yếu tố nào mà tác động
vào đó vừa kinh tế, vừa hiệu quả trong NCSK người
dân thì được quan tâm nhiều hơn. Việt Nam cũng
đang triển khai phong trào xây dựng nơi sống/làm
việc/học tập NCSK như: Làng văn hóa-sức khỏe,
trường học nâng cao sức khỏe, nơi làm việc nâng
cao sức khỏe Đối với nơi sống thì các yếu tố gia
mình và của cộng đồng. Ví dụ như cấm hút thuốc nơi
công cộng nhằm bảo vệ người không hút thuốc lá
đối với hút thuốc lá thụ động, quy đònh bắt buộc đội
mũ bảo hiểm khi đi xe máy để phòng chống chấn
thương sọ não. Loại chính sách thứ hai là các chính
sách tạo ra sự lựa chọn có lợi cho sức khỏe là những
sự lựa chọn dễ dàng, cuốn hút và có sẵn ở mọi nơi.
Loại chính sách này cần sự đầu tư lớn của chính
phủ, tạo ra chuyển đổi về kinh tế vó mô có lợi cho
sức khỏe. Ví dụ như xây dựng hệ thống giao thông
công cộng tốt để người dân không phải sử dụng xe
máy đi lại từ đó giảm chấn thương sọ não do tai nạn
giao thông. Để có được một chính sách sức khỏe tốt
là rất khó khăn. Tuy nhiên để triển khai chính sách
đó còn khó khăn hơn nhiều. Nó đòi hỏi sự tham gia
của bộ máy chính quyền, của toàn xã hội. Mặc dù
vậy lợi ích của các chính sách này mang lại không
chỉ là NCSK phòng chống bệnh tật mà còn nâng
cao chất lượng cuộc sống.
Các giải pháp chủ yếu bao gồm :
- Vận động xã hội: Tổ chức các chiến dòch nhằm
vận động sự ủng hộ cho một vấn đề sức khỏe nào
đó.
- Tổ chức các sự kiện thu hút sự chú ý và tham
gia của xã hội.
- Xây dựng liên minh, đối tác: Các lãnh đạo
chính quyền phải giải quyết nhiều việc khác nhau.
Do vậy việc xây dựng mạng lưới, liên minh, hợp tác
liên ngành để có tiếng nói lớn hơn trong vận động
ủng hộ là rất quan trọng.
3. WHO (2006), Giáo dục sức khỏe - Sách học về giáo dục
sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, (Sách dòch).
Tiếng Anh
4. Bernie Marshall (2009), outline of health promotion
training manual, mission report of consultancy for Viet Nam
in 2009.
5. Department of Human Service, Victoria state, Australia,
2008, Integrated health promotion resource kit.
6. Dahlgren, G., whitehead, M.(1991). Policies and
strategies to promote social equity in health. Stockholm:
Institute of Future Studies.
7. Helen Keleher and Bernie Murphy (2004).
Understanding Health: A determinant approach.
8. Jenie Naidoo, Jane Wills (2000), Health Promotion-
Foundations for practice.2nd edition
9. John Germov (2005). Second Opinion - An Introduction
to Health Sociology. 3rd edition.
10. Karen Glanz et all (2002). Health Behavior and Health
Education. Theory, Research and Practice, 3rd ed,
published by Jossey-Bass.
11. World Health Organization (2009), Milestone in Health
Promotion: Statement from Global Conference (available
at: />12. World Health Organization, 2008, Regional Strategy for
Health Promotion for South- East Asia.
13. WHO (2003). Social determinants of health: 10 solid
facts.
14. World Health Organization, Regional Office for the
Western Pacific, 2002, Regional framework for Health
Promotion.
15. World Health Organization (1986), Ottawa Charter for