BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA
THUẾ NHẬP KHẨU
GVHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
HVTH : TRỊNH THỊ QUỲNH TRANG
LỚP : NH ĐÊM 6 – K20
Danh mục tài liệu tham khảo
1. PGS.TS. Sử Đình Thành và TS. Bùi Thị Mai Hoài, “Tài chính công và phân
tích chính sách thuế”, Nhà xuất bản Lao Động năm 2010.
2. Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld , “Kinh tế học Vi Mô” , Nhà xuất
bản thống kê 1999
3. ThS. Nguyễn Thu Hiền, ThS Nguyễn Thị Bình Minh và Th.S Khúc Đình
Nam, “ Thuế, nhà xuất bẩn Lao Động 2012
4. Website :
5. Website :
6. Website :
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
1
LỜI MỞ ĐẦU
Thuế đóng vai trò là công cụ quan trọng của nhà nước để điều tiết quản lý sản
xuất kinh doanh, cũng như phân phối tiêu dùng thúc đẩy kinh tế phát triển. Có một
hệ thống chính sách thuế phù hợp, đồng bộ hoàn thiện và luôn theo kịp sự phát
triển với thực tiễn là điều kiện cấp bách. Trong quá trình vận hành và đổi mới nền
kinh tế, nước ta đã rất chú trọng đến cải cách hệ thống thuế, bao gồm chính sách
và bộ máy hành thu để đảm bảo hệ thống pháp luật thuế luôn luôn phù hợp và thực
thi có hiệu quả. Đặc biệt trong xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới và khu
vực, nước ta đã và đang từng bước hòa mình để phát triển kinh tế và quan hệ kinh
tế đối ngoại. Việc có thể quản lý được hoạt động mua bán giữa các nước, nhà nước
+ Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hiểu như là một quan hệ
pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người
nộp thuế), về việc tạo lập và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các
bên trong quá trình thu thuế nhập khẩu.
So với các loại thuế nội địa thì thuế nhập khẩu có nhiều điểm khác biệt. Đó là:
- Thuế nhập khẩu có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận chuyển
qua biên giới.
- Thuế nhập khẩu không hoàn toàn là thuế trực thu hay thuế gián thu.
- Thuế nhập khẩu có chức năng đặc trưng là bảo hộ sản xuất trong nước và điều
tiết hoạt động nhập khẩu.
2. Vai trò của Thuế nhập khẩu
Cũng giống như bất kỳ loại thuế nào, thuế nhập khẩu cũng thể hiện ba vai trò
cơ bản:
+ Tạo nguồn thu cho ngân sách; điều tiết hoạt động kinh tế.
+ Thuế nhập khẩu là công cụ thuế quan để bảo hộ ngành sản xuất trong nước,
tạo điều kiện để các sản phẩm trong nước có thể xuất khẩu ra nước ngoài và điều
tiết cung - cầu hàng hóa trong nước. Nguyên nhân chính là do thuế nhập khẩu cấu
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
3
thành trong giá cả hàng hóa, làm tăng giá hàng hóa, do đó có tác dụng điều tiết
nhập khẩu và hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội.
+ Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng của thuế nhập khẩu là đánh vào các hàng
hóa nhập khẩu và sau đó được cấu thành trong giá cả của hàng hóa nên loại thuế
này còn có một vai trò khá đặc thù, đó là bảo hộ nền sản xuất trong nước và chống
lại xu hướng cạnh tranh không cân sức giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa
ngoại nhập. Giúp cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn non trẻ trong
4
nước ngoài và họ sẽ làm điều này nếu nhập khẩu không bị hạn chế. Nhập khẩu làm
cho giá trong nước sẽ giảm xuống bằng với giá thế giới P
w
và ở mức đó sản xuất
trong nước sẽ giảm xuống còn Q
s
và tiêu dùng sẽ tăng lên Q
d
. Do đó lượng nhập
khẩu sẽ là số chênh lệch giữ tiêu dùng trong nước và số sản xuất được ở trong
nước (Q
d
- Q
s
).
Hình A D
Q
P
S
w
. Với mức thuế
như vậy, sẽ không có nhập khẩu nữa và chính phủ sẽ không có thu nhập từ thuế
nhập khẩu. Ảnh hưởng đối với người tiêu dùng và người xuất khẩu như sau:
+ Tổng thay đổi trong thặng dư người tiêu dùng ΔCS = - A - B - C
+ Thặng dư nhà sản xuất tăng thêm một lượng biểu thị bằng hình thang A :
ΔPS = A
Thay đổi trong tổng thặng dư ΔCS + ΔPS = - B – C. Đây là phần mất không, phần
thiệt hại của những người tiêu dùng lớn hơn phần đựoc lợi của nhà sản xuất.
Thông thường, chính sách của Chính phủ nhằm hạn chế nhập khẩu chứ không thủ
tiêu nhập khẩu. Chính sách này được thể hiện qua Hình B. Với tự do hóa thương
mại, giá trong nước sẽ bằng với giá thế giới P
w
và số nhập khẩu sẽ bằng (Q
d
- Q
s
).
Gỉa sử mức thuế nhập khẩu là T đôla cho một đơn vị hàng hóa nhập khẩu. Trong
trường hợp này giá trong nước sẽ tăng đến P* (mức giá thế giới cộng với thuế
nhập khẩu): sản xuất trong nước sẽ tăng, và tiêu dùng trong nước sẽ giảm. Với
mức thuế nhập khẩu này:
+ Thặng dư tiêu dùng thay đổi là: ΔCS = -A - B - C - D
+ Thặng dư sản xuất ẫn thay đổi là: ΔPS = A
s
Q
d
* Q
d
Q
P S
D
P*
A
C
D
B
T
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
7
Chương II: Đánh giá thực trạng của thuế Thuế nhập khẩu tại
Việt Nam
1. Cơ sở pháp lý của thuế Thuế nhập khẩu
* Đối tượng chịu thuế nhập khẩu:
Đối tượng chịu thuế nhập khẩu là những Hàng hoá được phép nhập khẩu
qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam, kể cả hàng hoá từ khu chế xuất đưa ra thị
hàng hóa.
* Gía cả hoặc việc bán hàng hóa không phụ thuộc vào những điều kiện hay các
khoản thanh toán mà vì chúng không xác định đựơc trị giá của hàng hóa cần xác
định trị giá tính thuế.
* Sau khi bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hóa, người mua không phải
trả thêm bất kỳ khoản tiền nào từ số tiền thu được do việc định đoạt hàng hóa nhập
khẩu mang lại.
* Người mua và người bán không có mối quan hệ đặc biệt hoặc nếu có thì mối
quan hệ đặc biệt đó không ảnh hưởng đến trị giá giao dịch.
Công thức tính trị giá giao dịch:
Trị giá giao dịch = Gía mua trên hóa đơn + Các khỏan tiền người mua phải trả
nhưng chưa tính vào giá mua ghi trên hóa đơn + Các khoản điều chính cộng - Các
khoản điều chỉnh trừ.
b/ Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt:
Hàng hóa nhập khẩu giống hệt là những hàng hóa nhập khẩu giống nhau về mọi
phương diện như đặc điểm vật chất, chất lượng, thương hiệu, xuất xứ.
Phương pháp xác định tương tự như phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa
nhập khẩu tương tự nhau.
c/ Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự:
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
9
Hàng hóa nhập khẩu tương tự là những hàng hóa mặc dù không giống nhau về mọi
phương diện nhưng có các đặc trưng cơ bản giống nhau như: làm từ các nguyên
liệu, vật liệu tương đương; có cùng phương pháp chế tạo; có cùng chức năng, mục
đích sử dụng; chất lượng tương đương; có thể hoán đổi cho nhau trong giao dịch
thương mại và sản xuất ở cùng một nước.
trong tờ khai hải quan x Mức thuế tuyệt đối quy định trên mỗi đơn vị hàng hóa.
4. Những tác động của Thuế nhập khẩu tại Việt Nam sau khi gia nhập WTO
4.1 Tác động của cam kết thuế nhập khẩu
Việc cắt giảm thuế nhập khẩu, giảm bảo hộ sẽ thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế
phát triển theo hướng hiệu quả, chuyên môn hoá và sản xuất quy mô lớn tăng, phát
huy tốt hơn các lợi thế so sánh về lao động, tài nguyên. Các dự án đầu tư sản xuất
thay thế NK dựa trên bảo hộ cao sẽ phải định hướng lại sản xuất.
Tín hiệu rất tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tăng niềm tin vào định
hướng mở cửa và tiềm năng phát triển của Việt Nam.
Cùng với việc thực hiện cam kết WTO, trong thời gian tới tiến trình AFTA sẽ
được đẩy nhanh, việc đi vào thực hiện các thoả thuận về cắt giảm thuế đối với một
số khu vực mậu dịch tự do khác với các đối tác thương mại chính của Việt Nam
(ASEAN-Trung Quốc từ năm 2006, ASEAN-Hàn Quốc từ năm 2008, các khu vực
mậu dịch tự do khác vào năm 2008-2009) sẽ đồng thời tạo ra sức ép cạnh tranh rất
lớn đối với các doanh nghiệp trong nước. Cần khẩn trương có điều chỉnh thích hợp
trong các ngành đang được bảo hộ cao và sẽ có cắt giảm thuế nhiều như: dệt may,
điện-điện tử, thực phẩm chế biến, thép, ôtô/xe máy, giấy, hàng chế tạo khác
Một số ngành bị ảnh hưởng bất lợi có thể sẽ phải thu hẹp hoặc chuyển hướng
sản xuất có thể dẫn đến một số biến động cục bộ về về sản xuất, lao động- việc
làm. Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
11
4.2 Tác động đến NSNN
Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết gia nhập WTO sẽ làm ảnh
12
thu cho ngân sách nhà nước. Chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam trong thời
gian đã mạng lại nhiều thành quả. Tuy nhiên trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế sắc thuế này cũng đã bộc lộ một số tồn tại như:
+ Thông tin về giá tham khảo tính thuế còn nhiều hạn chế, chưa cập nhật kịp thời;
+ Quy định về thời gian ân hạn thuế dẫn đến tình trạng nợ đọng thuế nhiều;
+ Phân loại hàng hoá trong danh mục biểu thuế nhập khẩu với danh mục mô tả mã
hàng hoá chưa thống nhất dẫn đến việc áp mã, áp mức thuế suất trong một số
trường hợp còn nhầm lẫn gây thất thu cho ngân sách nhà nước hoặc ngược lại gây
thiệt hại cho người nhập khẩu;
+ Công cụ bảo hộ sản xuất trong nước như thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ
chưa thật sự phát huy trong điều kiện hội nhập WTO. Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu 14
việc xác định số thuế nhập khẩu phải nộp, giá tính thuế có tác động mạnh đến số
thu ngân sách, số thuế phải nộp và cũng là tâm điểm chú ý của các đơn vị, tổ chức
quốc tế có quan hệ kinh tế với Việt Nam nên giá tính thuế mang tính nhạy cảm và
có ảnh hưởng đến mở việc rộng quan hệ thương mại quốc tế.
Thông thường gian lận qua giá là đơn vị nhập khẩu sẽ kê khai giá tính thuế thấp
hơn giá mua thực tế, do đó, việc nắm bắt thông tin liên quan đến thương mại quốc
tế như giá mua, giá bán các mặt hàng trên thế giới, các mối quan hệ của người
mua, người bán để từ đó hình thành nên một ngân hàng dữ liệu về giá của hàng
hoá nhập khẩu để cơ quan hải quan có thể tham vấn, đối chiếu với giá do nhà nhập
khẩu khai báo là quan trọng. Căn cứ vào giá tham vấn sẽ có thể phát hiện ra các
trường hợp gian lận về thuế nhập khẩu của doanh nghiệp nhập khẩu hoặc phát hiện
sự móc ngoặc giữa của nhân viên hải quan với người nhập khẩu để chiếm đoạt tiền
thuế của Nhà nước.
Nguồn thông tin chủ yếu được cơ quan Hải quan sử dụng trong việc kiểm tra đối
chiếu là từ giá chào hàng trên internet, giá thị trường, hệ thống thông tin về dữ liệu
giá trong nội bộ ngành Hải quan. Tuy nhiên, việc xây dựng ngân hàng dữ liệu về
giá của hàng hoá nhập khẩu của ngành Hải Quan chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, dữ
liệu về giá còn sơ sài, chưa cập nhật kịp thời nên gây trở ngại cho công tác tham
vấn về giá.
Hiện nay Việt Nam đã hội nhập sâu rộng trong quan hệ thương mại quốc tế thì số
lượng, chủng loại hàng hoá nhập khẩu ngày càng đa dạng nên áp lực càng tăng đối
với công tác quản lý giá tính thuế. Để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước
trong quá trình phát triển kinh tế là khuyến khích đầu tư, tạo môi trường đầu tư
thông thoáng, công bằng giữa các đối tượng, đồng thời hạn chế thất thu ngân sách
thì công tác quản lý giá tính thuế nhập khẩu cần được hoàn thiện:
phẩm nhưng có thể các cơ quan chức năng lại xác định khác nhau. Để hạn chế tình
trạng cùng một loại hàng hoá nhập khẩu nhưng lại có nhiều cách áp mã khác nhau
thì biểu thuế nhập khẩu cần được cập nhật bổ sung chi tiết, cụ thể phù hợp với
danh mục HS trong điều kiện hàng hoá nhập khẩu ngày càng nhiều.
+ Kê khai nộp thuế:
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
16
Trong thời gian tới nên nâng cao hiệu quả cơ chế tự khai tự nộp thuế. Theo kinh
nghiệm của các nước tiên tiến, nếu thực hiện triệt để cơ chế tự khai, tự nộp thuế sẽ
nâng cao ý thức tự giác, đề cao trách nhiệm trước pháp luật của đối tượng nộp thuế,
giảm bớt chi phí thông báo thuế, rút ngắn thủ tục hành chính, tạo khung pháp lý
minh bạch và thuận tiện đối với hoạt động nhập khẩu, bởi vì một trong những yếu
tố gây cản trở lớn và làm giảm đi tính hấp dẫn là sự kém minh bạch trong chính
sách và việc mất quá nhiều thời gian trong việc giải quyết các vấn đề thủ tục hành
chính, đây là thuộc nhóm vấn đề các rào cản vô hình và tạo ra những chi phí cơ
hội, chi phí không đoán trước đối với doanh nghiệp. Cùng với thực hiện cơ chế tự
khai tự nộp đòi hỏi phải tăng cường công tác tuyên truyền, cung cấp các dịch vụ
hỗ trợ thuế, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra việc chấp hành chính sách thuế
để ngăn ngừa và trừng phạt kịp thời các trường hợp lợi dụng cơ chế tự khai tự nộp
để gian lận thuế.
Theo quy định hiện hành, để khuyển khích nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu… phục vụ cho sản xuất xuất khẩu quy định hiện hành cho phép một số
trường hợp đơn vị nhập khẩu được nợ thuế nhập khẩu từ 30 đến 270 ngày, thực
chất đây là hình thức Nhà nước tài trợ cho doanh nghiệp thông quan phương thức
cho vay vốn nhưng không thu lãi để doanh nghiệp tạm thời không mất đi một
khoản vốn lưu động để nộp thuế Nhập khẩu, quy định này đã tạo điều kiện thuận
Phân tích tác động của Thuế Nhập Khẩu
18
Kết luận
Chính sách thuế quan của Việt nam được Quốc hội thông qua ngày 29-12-1987,
được sử đổi và bổ sung vào năm 1991-1993 để phù hợp với chính sách kinh tế
hướng ngoại và thực thi thương mại trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hàng
năm chính sách thuế quan đã có những hoạt động nhằm bảo vệ nền sản xuất trong
nước, thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và nó đã tạo ra một
nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách Nhà nước.
Tuy thời gian qua chính sách thuế quan của Việt Nam đã phát huy được tác dụng
tích cực của nó. Nhưng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đặc biệt là xu thế
thương mại hoá toàn cầu, thì thuế suất của ta bộc lộ nhiều yếu điểm còn tồn tại.
Cho nên cần phải có những chính sách, giải pháp về thuế quan thích hợp để khắc
phục những yếu kém còn tồn tại, nhằm thúc đẩy sự hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam.