TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN:
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU
NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hùng
Học viên thực hiện : Lê Minh Phú
Lớp-Khóa : NGÂN HÀNG ĐÊM 6 – K20
phương pháp thống kê, phân tích, … đi từ cơ sở lý thuyết đến thực tiễn
nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
4. Phạm vi nghiên cứu :
Trọng tâm nghiên cứu là luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ
chuyển nhượng vốn ở Việt Nam.
II. Phần nội dung:
Chương 1: Khung lý thuyết chung về thuế thu nhập cá nhân, thuế thu
nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn :
1.1Các khái niệm:
1.1.1 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân:
Thuế thu nhập cá nhân đã được áp dụng từ lâu ở các nước phát triển,
đối tượng nộp thuế này là mọi dân cư trong nước và người nước ngoài có
thu nhập phát sinh ở nước sở tại không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã
hội. Ðồng thời, tùy theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, người
ta chia thu nhập làm hai loại: thu nhập thường xuyên và thu nhập không
thường xuyên để tính thuế cho phù hợp. Lần đầu tiên ở Anh vào năm
1799 thuế thu nhập cá nhân được đưa vào thực hiện như một hình thức
thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp
và được chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nước tư bản
phát triển khác cũng áp dụng thuế này như: ở Nhật năm 1887, Ðức 1899,
Mỹ 1903, pháp 1916 và Liên Xô năm 1922.
Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế: Có nước tính
thuế vào từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, có nước tính thuế
trên tổng thu nhập của cả hộ gia đình:
• Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Ðiển,
các nước Châu Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp khắc…Ưu điểm của cách
này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà
nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu
nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu qủa và đáp ứng được sự công
bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo.
• Góp phần thực hiện công bằng xã hội:
Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức
khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu
nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó
khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Ở nhiều
nước còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh
nặng xã hội.
Ở nước ta hiện nay, thu nhập của các tầng lớp nhân dân có sự chênh lệch
nhau, số đông dân cư có thu nhập còn thấp, nhưng cũng có một số cá
nhân có thu nhập khá cao, nhất là những cá nhân làm việc trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong khu chế xuất hoặc có một
số cá nhân người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Mặc dù thuế thu
nhập cá nhân chưa mang lại số thu lớn cho ngân sách Nhà nước, song xét
trên phương diện công bằng xã hội và phương diện công cụ quản lý vĩ mô
của Nhà nước thì thuế thu nhập cá nhân có vị trí cực kỳ quan trọng, do đó
việc điều tiết thuế thu nhập đối với những người có thu nhập cao là cần
thiết, đảm bảo thực hiện chính sách công bằng xã hội.
1.3 Đối tượng chịu thuế :
Đối tượng áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển
nhượng vốn là các cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
Chương 2: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ
chuyển nhượng vốn tại Việt Nam
2.1Khái quát về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển
nhượng vốn tại Việt Nam.
Ở miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế
thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng năm 1962
và sau đó được cải cách vào năm 1972.
Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high – Income
earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù
B Thông tư 84/2008/TT-BTC): Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ
chuyển nhượng phần vốn góp là thu nhập tính thuế và thuế suất.
Tại khoản 4 Mục II Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC quy định: Thu
nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp trong các công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty hợp danh, công ty cổ phần, các hợp đồng hợp tác kinh
doanh, hợp tác xã, tổ chức kinh tế, tổ chức khác.
Trường hợp không xác định được giá mua và chi phí liên quan đến việc
chuyển nhượng chứng khoán thì thu nhập chịu thuế được xác định là giá
bán chứng khoán.
2.1.3 Thu nhập tính thuế: Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng phần
vốn góp là thu nhập chịu thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ
giá mua của phần vốn góp và các chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra
thu nhập từ chuyển nhượng vốn.
2.1. Giá chuyển nhượng :
Theo tiết 2.1.1.a, điểm 2, Mục II, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC
quy định giá chuyển nhượng là số tiền mà cá nhân nhận được theo hợp
đồng chuyển nhượng vốn.
Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá thanh toán
hoặc giá thanh toán trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ
quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng theo qui định của Luật
Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.
2.1.5 Giá mua : Giá mua của phần vốn góp được xác định đối với từng
trường hợp như sau:
- Nếu là chuyển nhượng vốn góp thành lập doanh nghiệp là trị giá phần
vốn tại thời điểm góp vốn. Trị giá vốn góp được xác định trên cơ sở sổ
sách kế toán, hoá đơn, chứng từ.
- Nếu là phần vốn do mua lại thì giá mua là giá trị phần vốn đó tại thời
điểm mua. Giá mua được xác định căn cứ vào hợp đồng mua lại phần vốn
góp.
2.1.6 Các chi phí liên quan được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
• Cá nhân cư trú
• Cá nhân không cư trú
2.1.11 Căn cứ tính thuế, kỳ tính thuế :
a) Đối với cá nhân cư trú :
Phần 1 : đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn :
Căn cứ tính thuế:
Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất 20%
Thu nhập tính thuế = Giá chuyển nhượng – Giá mua vốn góp – Chi phí
1. Giá chuyển nhượng: theo hợp đồng
2. Giá mua phần vốn góp: thời điểm góp vốn hoặc mua
3. Chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng: chi phí pháp lý, phí và lệ
phí của người chuyển nhượng, khác (có hóa đơn, chứng từ và liên quan
đến việc chuyển nhượng)
* Thời điểm xác định thu nhập: thời điểm giao dịch chuyển nhượng vốn
hoàn thành (thời điểm làm thủ tục chuyển quyền sở hữu với cơ quan đăng
ký kinh doanh)
Kỳ tính thuế: theo từng lần phát sinh thu nhập
Phần 2 : đối với thu nhập chuyển nhượng chứng khoán :
Căn cứ tính thuế: Thuế TNCN phải nộp = Thu nhập tính thuế x Thuế suất
Thu nhập tính thuế = Giá bán – giá mua – Chi phí – Chuyển lỗ
Giá bán: đối với chứng khoán niêm yết là giá chuyển nhượng thành công
tại công ty chứng khoán hoặc đối với chứng khoán chưa niêm yết là giá
hợp đồng tại thời điểm bán.
Hướng dẫn bổ sung theo Thông tư 62/2009/TT-BTC:
(Ngày hiệu lực của Thông tư số 62: sau 45 ngày kể từ ngày ký và áp dụng
cho các khoản thu nhập phát sinh từ ngày 1/1/2009.)
Thay đổi cách xác định giá bán đối với cổ phiếu chưa niêm yết, chưa
đăng ký giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán: căn cứ theo giá
ghi trên hợp đồng chuyển nhượng, nếu hợp đồng không ghi giá thì ghi
chuyển nhượng do người chuyển nhượng tự khai (Trước đây, theo Thông
Thời điểm khai thuế: Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng vốn phải
khai thuế TNCN đồng thời với việc thực hiện các thủ tục chuyển quyền
sở hữu phần vốn chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định
của pháp luật.
Hồ sơ khai thuế gồm:
(1) Tờ khai thuế TNCN áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ chuyển
nhượng vốn theo mẫu số 12/KK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này;
(2) Hợp đồng chuyển nhượng vốn (bản sao);
(3) Các chứng từ chứng minh chi phí liên quan đến việc xác định thu nhập
từ hoạt động chuyển nhượng vốn.
Hồ sơ khai thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn được nộp
tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở kinh doanh có diễn ra giao dịch
chuyển nhượng vốn hoặc Chi cục Thuế nơi cá nhân chuyển nhượng vốn
(người bán) cư trú.
Thời hạn nộp thuế :
Thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên Thông báo thuế theo mẫu số 12-
1/TB-TNCN ban hành kèm theo Thông tư này.
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc doanh nghiệp có vốn
chuyển nhượng chỉ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu vốn cho tổ chức, cá
nhân nhận chuyển nhượng vốn khi có chứng từ nộp thuế TNCN đối với
hoạt động chuyển nhượng vốn.
Thời hạn nộp thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng vốn góp, đầu
tư vốn (trường hợp phải khai thuế trực tiếp với cơ quan thuế),… là ngày
ghi trên thông báo nộp thuế của cơ quan thuế nhưng chậm nhất không quá
30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thuế.
Trường hợp cá nhân đang sở hữu một phần vốn góp tại một Công ty cụ
thể, khi cá nhân đó chuyển nhượng số vốn trên cho người khác, thì cá
nhân đó phải có nghĩa vụ thực hiện đăng ký thuế (nếu chưa đăng ký thuế
và chưa được cấp mã số thuế), nộp hồ sơ đăng ký thuế tại Chi cục Thuế
nơi cá nhân cư trú và khai thuế, nộp thuế đối với thu nhập từ hoạt động
+ Đối với chứng khoán chưa niêm yết nhưng đã thực hiện đăng ký giao
dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán là thời điểm Trung tâm giao
dịch chứng khoán công bố giá thực hiện.
+ Đối với chuyển nhượng chứng khoán không thuộc các trường hợp nêu
trên là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng chứng khoán có hiệu lực.
Trường hợp không có hợp đồng chuyển nhượng chứng khoán thì thời
điểm tính thuế là thời điểm đăng ký chuyển tên sở hữu chứng khoán.
Công ty chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao
dịch chứng khoán nơi nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch có trách nhiệm
khấu trừ thuế TNCN theo mức thuế suất 0,1% tính trên giá trị chứng
khoán từng lần chuyển nhượng của nhà đầu tư theo từng trường hợp nêu
trên và thông báo số thuế phải nộp cho người chuyển nhượng biết.
- Phương pháp nộp thuế:
+ Công ty chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao
dịch chứng khoán từ ngày 01/01/2010 có trách nhiệm khấu trừ thuế, khai
thuế TNCN và nộp tờ khai cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất
là ngày 20 của tháng sau đồng thời thực hiện nộp số thuế đã khấu trừ vào
Ngân sách Nhà nước.
+ Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nếu áp dụng nộp thuế thu nhập cá
nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán theo thuế suất 20%
thì phải thoả mãn điều kiện qui định tại khoản 2.2.2, tiết 2.2, điểm 2 Mục
II Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC và phải thực hiện đăng ký
phương pháp nộp thuế với cơ quan thuế trực tiếp quản lý công ty chứng
khoán mà cá nhân đăng ký giao dịch hoặc Chi cục Thuế nơi cá nhân cư
trú, chậm nhất là 31/12/2009.
Để triển khai thu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển
nhượng chứng khoán từ ngày 01/01/2010, Tổng cục Thuế đề nghị Cục
Thuế các tỉnh thành phố triển khai ngay một số việc sau đây:
1. Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại
chúng về nghĩa vụ nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng
năm 2007, Nghị định số 100/NĐ-CP ngày 08/09/2008 (“Nghị định 100”)
và Thông tư số 84/TT-BTC ngày 30/09/2008 (“Thông tư 84”). Tuy nhiên
vẫn còn một số vướng mắc :
+ Cổ phiếu trong công ty cổ phần có phải là chứng khoán ?
Theo quy định tại Nghị định 100 và Thông tư 84 thì chứng khoán
gồm: chứng khoán niêm yết; chứng khoán của công ty đại chúng chưa
niêm yết và chứng khoán của các đơn vị không thuộc hai trường hợp nêu
trên. Cũng theo các văn bản này thì việc chuyển nhượng cổ phần trong
công ty cổ phần nằm ở cả hai nội dung là chuyển nhượng chứng khoán
hoặc chuyển nhượng phần vốn góp. Tuy nhiên, các văn bản này không
làm rõ việc cổ phần trong trường hợp nào được xem là chứng khoán và
trường hợp nào được xem là vốn góp. Trong khi đó, chính sách thuế
TNCN của cá nhân cư trú áp dụng cho giao dịch chuyển nhượng chứng
khoán và chuyển nhượng vốn hiện tại là tương đối khác nhau. Theo đó,
nếu là “chuyển nhượng vốn” thì thuế TNCN là 20% trên lợi nhuận còn
nếu xem là “chuyển nhượng chứng khoán” thì cá nhân chuyển nhượng chỉ
được áp dụng cách tính thuế 20% trên lợi nhuận nếu đã đăng ký phương
thức đóng thuế theo biểu thuế toàn phần với mức thuế suất 20% với cơ
quan thuế trong năm trước năm giao dịch xảy ra, nếu không đăng ký thì
áp dụng thuế suất 0,1% trên giá trị giao dịch.
+ Giải quyết bằng văn bản dưới luật – vẫn vướng :
Để giải quyết vướng mắc này, ngày 02/6/2010 Tổng cục Thuế ban
hành Công văn số 19109/TCT-TNCN giải thích về chính sách thuế
TNCN (“Công văn 1919”). Theo đó, Tổng cục Thuế cho rằng để cổ phần
được xem là chứng khoán thì có hai điều kiện: công ty cổ phần phải chia
vốn điều lệ thành các phần bằng nhau và cổ phần đã được ghi nhận trong
sổ kế toán hoặc công ty cổ phần đã phát hành cổ phiếu cho số cổ phần đó.
Công văn 1919 được ban hành căn cứ theo các quy định về công ty cổ
phần trong Luật Doanh nghiệp 2005 và quan trọng là đã vận dụng đúng
theo định nghĩa về chứng khoán trong Điều 6.1 của Luật Chứng khoán, cụ
đầu tư A có thể đóng thuế TNCN với mức thuế suất 20% trên lợi nhuận
trên tổng các giao dịch trong năm dương lịch (phương pháp 1) nếu A đã
đăng ký phương thức đóng thuế theo biểu thuế toàn phần với mức thuế
suất 20% với cơ quan thuế trong năm trước năm giao dịch xảy ra hoặc
0,1% trên giá giao dịch (phương pháp 2) nếu chưa đăng ký, cụ thể:
Phương pháp 1:
Số thuế A phải đóng = 20% x lợi nhuận = 20% x (giá bán – giá mua + chi
phí) = 20% x (100 triệu – 50 triệu + (giả định chi phí bằng 0)) =
10.000.000 VND
hoặc
Phương pháp 2:
Số thuế A phải đóng = 0,1% x giá chuyển nhượng = 0,1% x 100 triệu =
100 nghìn VND.
Tuy nhiên, nếu xem đây là chuyển nhượng vốn thì nhà đầu tư A phải
đóng thuế TNCN theo phương pháp 1 nêu trên, tức là phải đóng 10 triệu
đồng.
Nguyên tắc giải thích luật :
Xét tính nhất quán của việc ban hành và hướng dẫn áp dụng các quy
phạm pháp luật trong lĩnh vực này, chúng tôi cho rằng việc hiểu thế nào là
chuyển nhượng chứng khoán thì phải tuân theo định nghĩa tại Điều 6.1
của Luật Chứng khoán bởi lẽ như đã đề cập thì pháp luật về thuế hiện
chưa có quy định nào làm rõ nội dung này.
Trường hợp cơ quan thuế có thay đổi chính sách tận thu thuế liên
quan đến hoạt động chuyển nhượng cổ phẩn, về mặt logic cần thiết phải
giải quyết các vấn đề mang tính kỹ thuật lập pháp trước. Cụ thể, cần sửa
đổi quy định của Thông tư số 84 để xác định rõ cách hiểu về chứng khoán
trong lĩnh vực thuế TNCN hoặc điều chỉnh quy định tại Điều 6.1 trên cho
nhất quán về mặt chính sách thuế. Khi việc điều chỉnh nêu trên chưa được
thực hiện thì hướng dẫn nêu tại Công văn 12501 chưa phù hợp với quy
định pháp luật hiện hành.
đồng/cổ phần) = 132.700.000 đồng
- Số thuế TNCN = 132.700.000 đồng x 20% = 26.540.000 đồng
(chưa tính đến các khoản chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng)
2.4 Nguyên nhân :
-Tình trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả từ những bất cập
trong quy định của luật thuế cũng như từ những yếu tố khác, như:
- Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế ưa chuộng tiền mặt,
phần lớn các khoản thu nhập cá nhân đều được chi trả bằng tiền mặt, do
đó, khó có thể tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách chính
xác và hiệu quả.
- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành thuế với các cấp chính
quyền địa phương, với các tổ chức, cơ quan liên quan trong việc hợp tác
triển khai Luật thuế TNCN, dẫn đến những khó khăn trong việc xác định
và quản lý gia cảnh người nộp thuế, quản lý hoạt động của các cá nhân
kinh doanh tự do, hành nghề độc lập,
- Hiện tượng tiêu cực và bất công trong việc nộp thuế TNCN vẫn
chưa được xử lý triệt để, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả thực tế và công
bằng của Luật thuế, gây một số bức xúc trong quần chúng nhân dân.
- Trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành Luật của một bộ phận lớn
dân cư còn hạn chế, tâm lý trốn thuế còn lan truyền, trong khi lực lượng
cán bộ thuế còn mỏng, không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thuế TNCN
trên diện rộng để phát hiện các hành vi vi phạm và xử lý.
Chương 3: Kiến nghị phương hướng, một số giải pháp nhằm hoàn thiện
luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam đối với thu nhập từ chuyển
nhượng vốn
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở Việt Nam :
- Thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn phải được quy
định phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định: “Áp dụng thuế TNCN
thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng
- Luật thuế TNCN phải đảm bảo nguyên tắc hội nhập quốc tế.
Luật thuế TNCN phải thể hiện được tinh thần của các hiệp định tránh
đánh thuế hai lần hoặc chí ít cũng cần quy định các nguyên tắc áp dụng
những hiệp định này trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nước
ngoài có thu nhập tại Việt Nam hoặc thu nhập của công dân Việt Nam ở
nước ngoài. Nguyên tắc này cũng cho phép áp dụng biểu thuế thống nhất
đối với tất cả các cá nhân, không kể đó là công dân Việt Nam hay người
nước ngoài.
Cần quy định việc áp dụng các hiệp định tránh đánh thuế hai lần làm
cơ sở đảm bảo quyền lợi đối với các đối tượng có thu nhập từ nhiều quốc
gia khác nhau, không nên quy định chung chung về việc áp dụng điều ước
quốc tế.
- Đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người nộp thuế
Để thuận lợi cho người nộp thuế và giảm khối lượng phải quyết toán
thuế không cần thiết, Bộ Tài chính đề xuất cá nhân có thu nhập chịu thuế
có trách nhiệm tự kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào ngân sách Nhà nước và
quyết toán thuế theo quy định của Chính phủ.
3.2 Một số kiến nghị cụ thể đóng góp cho Luật thuế TNCN đối với thu
nhập từ chuyển nhượng vốn :
- Luật thuế TNCN quy định đánh thuế vào lãi góp vốn, cổ tức được
chia là không hợp lí. Những khoản thu nhập này là phần còn lại được chia
sau khi doanh nghiệp đã chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Về bản chất,
khoản thu nhập từ lãi góp vốn, cổ tức được chia khác với lãi gửi ngân
hàng, vì lãi gửi ngân hàng là khoản chi phí được khấu trừ khi xác định thu
nhập chịu thuế của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, nếu nhà làm luật muốn
điều tiết thu nhập, thì cần xác định những khoản thu nhập này vào thu
nhập thường xuyên, chứ không phải thu nhập không thường xuyên như
dự thảo quy định vì đây là khoản thu nhập có được theo định kì (thường
là một năm).
- Không nên quy định thu nhập từ lãi mua trái phiếu Chính phủ, tín
Qua hơn 3 năm thực hiện, Luật thuế TNCN đã đạt được những mục
tiêu đề ra khi ban hành Luật, cụ thể:
- Đã bao quát và mở rộng được đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế,
theo đó, số người nộp thuế đã tăng lên qua các năm, các loại thu nhập
mới phát sinh trong nền kinh tế đã dần bao quát được. Cụ thể:
Về đối tượng chịu thuế: Ngoài việc kế thừa có chọn lọc các chính sách
điều tiết thu nhập trước đây (thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao,
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân kinh doanh, thuế
chuyển quyền sử dụng đất), Luật thuế TNCN đã bổ sung điều tiết đối với
các khoản thu nhập mới phát sinh, như: thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập
từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ thừa kế,
quà tặng là chứng khoán, phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, bất
động sản và các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử
dụng.
Tiền thuế thu được do bổ sung điều tiết đối với các khoản thu nhập
từ chuyển nhượng vốn, chứng khoán như sau:
Chỉ tiêu Đơn vị
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
Thu từ chuyển nhượng vốn, chứng
khoán
Tỷ
đồng
3,7 188,7
210,0