Báo cáo đồ án tốt nghiệp nghiên cứu các kỹ thuật tấn công, xây dựng chương trình trinh sát trên mạng - Pdf 13

Lời nói đầu
Ngày nay, tác chiến mạng (bao gồm tấn công và trinh sát mạng) không còn
là một vấn đề quá mới mẻ hay xa lạ. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản
lý và điều hành đã có mặt trong mọi lĩnh vực ngay cả trong chiến tranh hiện đại
cũng vậy. Chúng ta thử tưởng tượng xem, điều gì sẽ xảy ra một khi chúng ta xâm
nhập được vào hệ thống chỉ huy thông tin, liên lạc của đối phương và lấy thông tin
ở đó hay nguy hiểm hơn khi mà chúng ta chiếm quyền điều khiển để đưa ra thông
tin sai lệch hoặc ra lệnh … ngưng chiến. Thực tế trong cuộc chiến tranh Vùng vịnh
năm 1991, hệ thống thông tin và chỉ huy chiến trường của liên quân do Mỹ cầm
đầu đã bị một nhóm người tấn công người Libăng xâm nhập thành công, họ đã
điều chỉnh một số thông tin, thêm thông tin mình muốn vào và sự việc chỉ bị phát
hiện sau 2 ngày khi mà nhóm người tấn công này đã rút lui an toàn. Hay mới đây
trong cuộc chiến tranh xâm lược I-Rắc, hệ thống thông tin hậu cần của Mỹ đã bị
một nhóm người tấn công người Phần Lan xâm nhập, nhưng lần này họ chỉ đưa ra
lời cảnh báo mà không gây tác động gì.
Trên lý thuyết thì các nước có nền công nghệ thông tin phát triển càng cao
thì lỗ hổng an ninh mạng sẽ càng ít nhưng việc ảnh hưởng khi bị tác động sẽ càng
lớn. Thực tế thì lại cho thấy điều đó là khác hoàn toàn. Ở các nước có nền công
nghệ thông tin phát triển thì lỗ hổng an ninh mạng lại càng nhiều và lại là mục tiêu
cho các người tấn công xâm nhập. Chính vì vậy việc nghiên cứu các kỹ thuật tấn
công và trinh sát mạng trong thời đại tác chiến công nghệ cao như hiện nay là một
yêu cầu cấp thiết, không những nhằm mục đích tấn công, phá hoại đối phương mà
còn bảo vệ mình trước những sự tấn công của đối phương. Thấy được sự cấp thiết
này nên qua quá trình thực tập và làm đồ án tốt nghiệp cuối khóa, tôi chọn cho
mình đề tài : Nghiên cứu các kỹ thuật tấn công, xây dựng chương trình trinh
sát trên mạng.
1
Nhiệm vụ đồ án: Nghiên cứu, nắm được các kỹ thuật tiêu biểu trong tấn
công và trinh sát trên mạng, từ đó xây dựng chương trình tấn công hoặc trinh sát
mạng.
Nội dung đồ án gồm 3 chương:

+ Nếu ai đó gửi cho chúng ta một email với một đoạn mã java tóm IP, họ cũng
có thể tóm được IP của chúng ta
1.2 Proxy
Proxy cung cấp cho người sử dụng truy xuất internet với những host đơn.
Những proxy server phục vụ những nghi thức đặt biệt hoặc một tập những nghi thức
thực thi trên dual-homed host hoặc basion host. Những chương trình client của người
sử dụng sẽ qua trung gian proxy server thay thế cho server thật sự mà người sử dụng
cần giao tiếp. Proxy server xác định những yêu cầu từ client và quyết định đáp ứng
hay không đáp ứng, nếu yêu cầu được đáp ứng, proxy server sẽ kết nối với server thật
thay cho client và tiếp tục chuyển tiếp đến những yêu cầu từ client đến server, cũng
như đáp ứng những yêu cầu của server đến client. Vì vậy proxy server giống cầu nối
trung gian giữa server và client .
Proxy cho phép chúng ta truy xuất dịch vụ trên internet theo nghĩa trực tiếp.
Với dual host homed cần phải login vào host trước khi sử dụng dịch vụ nào trên
internet, điều này thường không tiện lợi và một số người trở nên thất vọng khi họ có
cảm giác thông qua firewall, với proxy nó giải quyết được vấn đề này. Tất nhiên nó
còn có những giao thức mới nhưng nói chung nó cũng khá tiện lợi cho người sử dụng.
4
Bởi vì proxy cho phép chúng ta truy xuất những dịch vụ trên internet từ hệ thống cá
nhân của ta, nó không cho phép packet đi trực tiếp giữa hệ thống sử dụng và internet,
đường đi là gián tiếp thông qua dual homed host hoặc thông qua sự kết hợp giữa
bastion host và screening rounter.
1.3 Vitual port
Vitual port (cổng ảo) là 1 số tự nhiên được gói ở trong TCP (Tranmission
Control Protocol) và UDP (User Diagram Protocol) header. Như chúng ta đã biết,
Windows có thể chạy nhiều chương trình 1 lúc, mỗi chương trình này có 1 cổng riêng
dùng để truyền và nhận dữ liệu. Ví dụ 1 máy có địa chỉ IP là 127.0.0.1 chạy
WebServer, FTP_Server, POP3 server, etc, những dịch vụ này đều đuọc chạy trên 1 IP
address là 127.0.0.1, khi một gói tin được gửi đến làm thế nào máy tính của chúng ta
phân biệt được gói tin này đi vào dịch vụ nào WebServer hay FTP server hay SM.

Cái ping làm là gửi một gói tin đến một máy tính, sau đó xem xem mất bao lâu
gói tin rồi xem xem sau bao lâu gói tin đó quay trở lại, cách này xác định được tốc độ
của kết nối, và thời gian cần để một gói tin đi và quay trở lại và chia bốn (gọi là ``trip
time``). Ping cũng có thể được dùng để làm chậm đi hoặc đổ vỡ hệ thống bằng lụt
ping. Windows 98 treo sau một phút lụt ping (bộ đệm của kết nối bị tràn – có quá
nhiều kết nối). Một cuộc tấn công “ping flood” sẽ chiếm rất nhiều băng thông của
chúng ta, và chúng ta phải có băng thông lớn hơn đối phương (trừ khi đối phương là
một máy chạy Windows 98 và chúng ta có một modem trung bình, bằng cách đó
chúng ta sẽ hạ gục đối phương sau xấp xỉ một phút lụt ping). Lụt Ping không hiệu quả
lắm đổi với những đối phương mạnh hơn một chút, trừ khi chúng ta có nhiều đường
6
và chúng ta kiểm soát một số lượng tương đối các máy chủ cùng ping mà tổng băng
thông lơn hơn đối phương.
Chú ý: option –t của DOS không gây ra lụt ping, nó chỉ ping mục tiêu một cách
liên tục, với những khoảng ngắt quãng giữa hai lần ping liên tiếp. Trong tất cả các hệ
Unix hoặc Linux, chúng ta có thể dùng ping -f để gây ra lụt thực sự. Thực tế là phải
ping -f nếu chúng ta dùng một bản tương thích POSIX (POSIX - Portable Operating
System Interface dựa trên uniX), nếu không nó sẽ không phải là một bản Unix/Linux
thực sự, bởi vậy nếu chúng ta dùng một hệ điều hành mà nó tự cho nó là Unix hay
Linux, nó sẽ có tham số -f.
1.6 Cookie
Cookie là những phần dữ liệu nhỏ có cấu trúc được chia sẻ giữa web site và
trình duyệt của người dùng. Các cookie được lưu trữ dưới những file dữ liệu nhỏ dạng
text (size dưới 4k). Chúng được các site tạo ra để lưu trữ/truy tìm/nhận biết các thông
tin về người dùng đã ghé thăm site và những vùng mà họ đi qua trong site.
Những thông tin này có thể bao gồm tên/định danh người dùng, mật khẩu, sở
thích, thói quen Cookie được trình duyệt của người dùng chấp nhận lưu trên đĩa cứng
của máy mình, ko phải trình duyệt nào cũng hỗ trợ cookie. Sau một lần truy cập vào
site, những thông tin về người dùng được lưu trữ trong cookie. Ở những lần truy cập
sau đến site đó, web site có thể dùng lại những thông tin trong cookie (như thông tin

chiến trong mọi cuộc chiến tranh bất kể quy mô hay hình thức. Nhưng trong bài báo
cáo này tôi chỉ tập trung vào yếu tố đặc thù của chiến tranh mạng – Yếu tố kỹ thuật –
bằng cách phân tích một số kỹ thuật trinh sát và tấn công tiêu biểu.
Trong trinh sát và tấn công mạng có rất nhiều kỹ thuật được sử dụng. Có thể liệt
kê dưới đây một số kỹ thuật chính :
Kỹ thuật trinh sát bao gồm :
- Quét mạng
- Điểm danh mạng
- Dò đường
9
- Nghe trộm
- Lấy dấu tay giao thức
- Lấy dấu tay dịch vụ và ứng dụng
- In dấu chân
- Sử dụng các phần mềm gián điệp kiểu Trojan
- Sử dụng yếu tố con người (Social engineering)
Kỹ thuật tấn công chính bao gồm :
- Dò phá mật khẩu
- Tấn công tràn bộ đệm
- Tấn công tiêm mã
- Tiêm mã SQL
- Tiêm mã khác
- Tấn công giả mạo
- Giả mạo địa chỉ
- Giả mạo thư tín
- Tấn công từ chối dịch vụ
Ngoài ra còn có nhiều kỹ thuật hỗ trợ cho trinh sát và tấn công như :
- Kỹ thuật che dấu thông tin (steganography)
- Kỹ thuật mã và giải mã
Trong mỗi kỹ thuật tấn công chính có thể có nhiều kỹ thuật nhỏ. Ví dụ như tấn

+ Các công ty hoặc thực thể liên quan
+ Các kết nối hoặc tin tức có được
11
+ Các ngôn ngữ bảo mật nêu rõ các cơ chế bảo mật đã thiết đặt (cấu hình fire
wall chẳng hạn)
+ Các số điện thoại , tên liên lạc và Email
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể xem lại mã nguồn HTML để tìm những sơ hở
trong lập trình , bên cạnh đó , những chú thích nằm trong các thẻ HTML như < . và ~
cũng là một "tài nguyên" đáng khai thác.
Sau khi nghiên cứu trang web, chúng ta tìm thêm những thông tin cung cấp các
manh mối bổ sung về tình trạng của tổ chức và tình hình an ninh của nó ( trên báo chí,
các bản tin trên NET chẳng hạn). Những động cơ tìm kiếm là chìa khoá cho chúng ta .
Sau đây là một vài công cụ tìm kiếm :





2.1.3.2 Bước 2 : điểm danh mạng
Trong bước này, việc đầu tiên là định danh các domain và mạng có liên quan
đến victim. Muốn làm điều này, hãy truy xuất dữ liệu của network solution
(ww.networksolution.com) và American Registry for Internet Number (www.arin.net)
Một số kiểu truy vấn :
+Organizational : Tất cả các thông tin có liên quan đến một tổ chức cụ thể
+Domain: domain
+Network: mạng hoặc IP
+Point of contact: 1 cá nhân cụ thể (admin)
2.1.3.3 Bước 3 : Truy vấn DNS
12
Sau khi định danh các domain của tổ chức đích (victim), chúng ta có thể bắt đầu

Traceroute là một chương trình cho phép chúng ta xác định được đường đi của
các gói packets từ máy chúng ta đến hệ thống đích trên mạng Internet.
Một ví dụ về Traceroute.
Traceroute có thể làm được gì? Chúng ta hãy xem ví dụ sau sẽ rõ.
C:\windows>tracert 203.94.12.54
Tracing route to 203.94.12.54 over a maximum of 30 hops
1 abc.netzero.com (232.61.41.251) 2 ms 1 ms 1 ms
2 xyz.Netzero.com (232.61.41.0) 5 ms 5 ms 5 ms
3 232.61.41.10 (232.61.41.251) 9 ms 11 ms 13 ms
4 we21.spectranet.com (196.01.83.12) 535 ms 549 ms 513 ms
5 isp.net.ny (196.23.0.0) 562 ms 596 ms 600 ms
6 196.23.0.25 (196.23.0.25) 1195 ms1204 ms
7 backbone.isp.ny (198.87.12.11) 1208 ms1216 ms1233 ms
8 asianet.com (202.12.32.10) 1210 ms1239 ms1211 ms
9 south.asinet.com (202.10.10.10) 1069 ms1087 ms1122 ms
10 backbone.vsnl.net.in (203.98.46.01) 1064 ms1109 ms1061 ms
11 newdelhi-01.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.01) 1185 ms1146 ms1203 ms
12 newdelhi-00.backbone.vsnl.net.in (203.102.46.02) ms1159 ms1073 ms
13 mtnl.net.in (203.194.56.00) 1052 ms 642 ms 658 ms
14
Tôi cần biết đường đi từ máy tôi đến một host trên mạng Internet có địa chỉ ip
là 203.94.12.54. Tôi cần phải tracert đến nó. Như chúng ta thấy ở trên, các gói packets
từ máy tôi muốn đến được 203.94.12.54 phải đi qua 13 hops(mắt xích) trên mạng.
Đây là đưòng đi của các gói packets:
Netzero(ISP đã gởi dữ liệu đi) -> Spectranet (một nhà công cấp mạng xương
sống - Backbone Provider) -> New York ISP -> New York Backbone -> Asia ->
South Asia -> India Backbone -> New Delhi Backbone -> một router khác trong New
Delhi Backbone -> New Delhi ISP
Như vậy, host có địa chỉ ip 203.94.12.54 nằm ở New Delhi, India, South Asia.
Chúng ta cũng có thể telnet đến 203.94.12.54 trên cổng 13(datetime) để xác định giờ

0 7 8 15 16 31
| Type (0 or 8) | Code (0) | 16-bit Checksum |
| Indentifier | sequence number |
| Optional Data (nội dung tùy thuộc vào Type và Code) |
Trường type có 15 giá trị khác nhau, tùy thuộc vào từng loại ICMP error
message cụ thể. Ví dụ type=3 để chỉ định cho thông báo lỗi "Không đến được đích" -
"Destination unreachable" error message.
Trường code = sub-error dùng để xác định chính xác lỗi đã xảy ra. Ví dụ,
type=3 và code=0 nghĩa là "Network Unreachable"(không đến được mạng); nếu
type=3, code=1 nghĩa là "Host Unreachable"(không đến được host)
TTL - Time to Live. TTL là một trường 8 bit trong IP header. TTL là thời gian
gói dữ liệu tồn tại trên mạng trước khi nó bị bỏ qua. Người gởi dữ liệu đi sẽ xác định
một giá trị TTL trước, thường là từ 32 -> 64. Giá trị này sẽ được giảm đi một khi một
khi được chuyển qua một bộ định tuyến trên mạng. Khi giá trị này bằng 0, datagram
16
này sẽ bị bỏ qua và giao thức ICMP sẽ báo lỗi về cho người gởi. Điều này sẽ tránh
cho datagram này đi vào một vòng lặp vô tận qua các bộ định tuyến.
Mỗi bộ định tuyến khi nhận được IP datagram sẽ giảm giá trị TTL của
datagram này đi một. Hầu hết các bộ định tuyến đều không giữ lại datagram này trong
thời gian quá 1 giây trước khi chuyển datagram này đi. Nên giá trị TTL có thể coi
bằng hop(counter) = số bộ định tuyến mà datagram này vừa vượt qua.
Khi bộ định tuyến nhận được một datagram có trường TTL bằng 0 hoặc 1, nó sẽ
không chuyển datagram này đi tiếp. Thay vào đó, nó sẽ bỏ qua datagram này và gởi
một ICMP message "Time Exceeded"(quá thời gian) trở lại cho người đã gởi
datagram này. Vì ICMP message mà bộ định tuyến gởi trở lại cho người gởi có địa chỉ
nguồn - source address là địa chỉ ip của bộ định tuyến này nên người gởi có thể biết
được địa chỉ ip của router này.
Cách làm việc của traceroute.
Traceroute gởi một IP datagram có TTL=1 đến hệ thống đích. Router đầu tiên
nhận được datagram này sẽ giảm giá trị TTL đi một -> TTL=0 và router này sẽ bỏ qua

Ví dụ
host2 # traceroute xyz.com
traceroute to xyz.com (202.xx.12.34), 30 hops max, 40 byte packets
1 isp.net (202.xy.34.12) 20ms 10ms 10ms
2 xyz.com (202.xx.12.34) 130ms 130ms 130ms
Dòng đầu tiên cho biết hostname và địa chỉ IP của hệ thống đích. Dòng này còn
cho chúng ta biết thêm giá trị TTL<=30 và kích thước của datagram là 40 bytes(20-
bytes IP Header + 8-bytes UDP Header + 12-bytes user data).
18
Dòng thứ 2 cho biết router đầu tiên nhận được datagram là 202.xy.34.12, giá trị
của TTL khi gởi đến router này là 1. Router này sẽ gởi trở lại cho chương trình
traceroute một ICMP message error "Time Exceeded". Traceroute sẽ gởi tiếp một
datagram đến hệ thống đích.
Dòng thứ 3, xyz.com(202.xx.12.34) nhận được datagram có TTL=1(router thứ
nhất đã giảm một trước đó - TTL=2-1=1). Tuy nhiên, xyz.com không phải là một
router, nó sẽ gởi trở lại cho traceroute một ICMP error message "Port Unreachable".
Khi nhận được ICMP message này, traceroute sẽ biết được đã đến được hệ thống đích
xyz.com và kết thúc nhiệm vụ tại đây.
Trong trường hợp router không trả lời sau 5 giây, traceroute sẽ in ra một dấu
sao "*"(không biết) và tiếp tục gởi datagram khác đến host đích.
2.2 Quét mạng (Scanning)
Phần này trình bày chi tiết rất nhiều kỹ thuật được sử dụng để xác định xem trên
hệ thống đích những dịch vụ nào đang chạy, cùng những lỗ lực nhằm lấy được thông
tin về loại, phiên bản của hệ điều hành đang chạy trên hệ thống đích. Từ những thông
tin đó chúng ta có thể có được đầy đủ thông tin nhằm phát hiện ra điểm yếu
(Vulnerability) của hệ thống đích nhằm tiến hành tấn công hệ thống đó.
2.2.1 Quét Ping mạng
Một trong những bước cơ bản trong vẽ bản đồ mạng là quét Ping dãy địa chỉ IP
và khối mạng nhằm xác định hệ thống còn hoạt động hay không. Theo truyền thống
thì Ping sẽ gửi gói dữ liệu ICMP REPLY (Type 8) đến hệ thống đích với nỗ lực lấy

Starting nmap V. 3.00 (www.insecure.org/map/)
20
Host home .vnn.vn (203.162.0.12) appears to be up.
Nmap run completed – 1 IP address (1 host up) scanned in 1 second
Kỹ thuật này tỏ ra khá hữu hiệu trong việc xác định hệ thống đích đang hoạt
động hay không dẫu cho lưu lượng ICMP có bị chặn hay từ chối. Chúng ta cũng nên
thử kỹ thuật này với những cổng như : SNMP(25), DNS(53), POP(110), IMAP(143).
Hping2 cũng là một công cụ nhiều tính năng rất đáng để xem xét. Hping là tiện
ích quét TCP có khả năng sửa chữa, kiểm soát các tùy chọn gói dữ liệu TCP, do vậy
cho chúng ta có rất nhiều phương pháp quét TCP để lựa chọn.
[root@kakap root] # hping 203.162.0.12 –S –f –c 5
HPING 203.162.0.12 (pp0 203.162.0.12) : S set, 40 headers + 0 data bytes
Len=40 ip=203.162.0.12 flag=RA seq=0 ttl=62 id=62741 win=0 rtt=173.8
ms
- - - - - - - - - -
Len=40 ip=203.162.0.12 flag=RA seq=4 ttl=62 id=63663 win=0 rtt=150.2
ms
- - - - 203.162.0.12 hping statistic- - - -
5 packets tramitted, 5 packets received, 0% packet lost
round – trip min/avg/max = 150.0/158.5/173.8 ms
Tuy nhiên ở đây chúng ta sẽ chỉ tìm hiểu tính năng quét ping TCP với gói tin
TCP được phân mảnh (Fragmentation) nhằm qua mặt một số thiết bị điều khiển truy
cập (router, fire wall,…)
[root@kakap root] # hping 203.162.0.12 –S –f –c 5
HPING 203.162.0.12 (pp0 203.162.0.12) : S set, 40 headers + 0 data bytes
Len=40 ip=203.162.0.12 flag=SA DF seq=0 ttl=62 id=38032 win=32768
rtt=195.5 ms
Len=40 ip=203.162.0.12 flag=SA DF seq=1 ttl=62 id=38243 win=32768
rtt=191.7 ms
21

TIMESTAMP (Type 13,14).
ADDRESS MARK (Type 17,18).
INFORMATION (Type 15,16).
Những loại ICMP này có thể được dùng để phát hiện hệ thống hoạt động, vẽ
bản đồ mạng, thậm chí nhận dạng hệ điều hành đang chạy trên hệ thống đích.
Các loại ICMP Error messages:
Destination Unreachable (Type 3)
Source Quench (Type 4)
Redirect (Type 5)
Time Exceeded (Type 11)
Parameter Problem (Type 12)
Những loại ICMP này có thể bị lợi dụng để phán đoán hệ điều hành trên hệ
thống đích, kiểm tra lỗi của IP stack, thậm chí kẻ địch có thể sử dụng ICMP Type 5
nhằm thỏa hiệp, sai khiến máy đích sử dụng một địa chỉ IP bất kỳ như là một bộ định
tuyến. Điều gì sẽ xảy ra? Khi đó kẻ địch có thể hoàn toàn kiểm soát được lưu lượng
mạng của chúng ta.
Tuy nhiên, nếu nhu cầu bắt buộc phải cho thông qua những loại ICMP đó thì
nên hạn chế, chỉ cho phép ICMP ECHO, ECHO REPLY, HOST UNREACHABLE và
TIME EXCEEDED thông qua mà thôi. Nếu có thể sử dụng ACL tại bộ định tuyến hay
bức tường lửa nhằm giới hạn lại những địa chỉ IP hoặc Domain cụ thể được tin tưởng
(trust host – domain) là tốt nhất.
2.1.2 Quét cổng
Trong phần trước chúng ta đã xác định được hệ thống đang hoạt động thông
qua quét Ping ICMP hoặc TCP. Bây giờ chúng ta sẽ trình bày kỹ thuật quét cổng.
23
Quét cổng là tiến trình kết nối cổng TCP và UDP trên hệ thống đích để xác định dịch
vụ nào đang lắng nghe (Listening). Nhận diện cổng đang lắng nghe sẽ cho biết loại hệ
điều hành và ứng dụng đang chạy. Qua đó có thể truy cập bất hợp pháp vào vào hệ
thống nếu hệ thống đó bị cấu hình sai, hoặc lợi dụng chỗ yếu bảo mật đã biết của dịch
vụ đang chạy trên hệ thống đích nhằm thỏa hiệp hệ thống đó. Các kỹ thuật và công cụ

SYN/ACK) từ cổng đích thì suy ra cổng đích đó đang lắng nghe. Nếu là RST có nghĩa
là cổng đích không lắng nghe. Nếu nhận được SYN/ACK, chúng ta sẽ gửi lại gói dữ
liệu có cờ RST bật (gọi tắt là RST) nhằm hủy bỏ kết nối. Kỹ thuật này có ưu điểm là
kín đáo hơn kỹ thuật nối TCP đầy đủ và hầu như không bị hệ thống đích ghi nhật ký.
Tuy nhiên chúng ta cần có đặc quyền siêu người dùng trên hệ thống để có thể chỉnh
sửa gói SYN.
* Quét TCP FIN : Hiện nay thì kỹ thuật quét TCP SYN cũng không còn đủ kín
đáo nữa bởi đã có nhiều bức tường lửa và bộ lọc gói dữ liệu sẽ để ý tới những gói
SYN được gửi tới những cổng quy định và những chương trình như Synlogger hay
Courtney đã được phát triển để phát hiện được kỹ thuật TCP SYN. Kỹ thuật quét bằng
cách gửi gói dữ liệu có cờ FIN (gọi tắt là gói FIN) sẽ được sử dụng,với kỹ thuật này,
cổng đóng trên hệ thống đích có xu hướng gửi trả RST khi chúng ta gửI FIN tới.
Trong khi cổng mở có có xu hướng không hồi đáp lại gói FIN. Đây là một lỗi giao
thức của TCP và không phảI lúc nào cũng cho kết quả đúng nhất là với Windows. Tuy
nhiên kỹ thuật này tỏ ra khá hữu hiệu trên hầu hết các hệ thống khác Windows bao
gồm cả Cisso, BSDL, HP/UX, MSV và IRIX.
* Quét TCP Xmas Tree : Kỹ thuật này gửi gói dữ liệu TCP với tất cả các cờ
trong TCP header đều được bật (ASK, FIN, RST, SYN, URG, PUSH). Cũng bởi vậy
mà kỹ thuật này có tên là “cây thông Noel” (Chritmas Tree). Khi gói TCP với tất cả
các cờ đều bật “sáng rực” được gửi đến hệ thống đích, với những cổng mở gói TCP
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status