nguyên nhân của suy thoái kinh tế toàn cầu - Pdf 13

I. BỐI CẢNH KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH
TẾ NĂM 2007- 2008
- Đầu tiên, Nhóm xin điểm qua một số sự kiện lớn về kinh tế thế giới năm
2008:
 2/1: Giá dầu thô lần đầu tiên vượt 100 USD mỗi thùng
 16/3: Bear Stears tuyên bố phá sản, báo hiệu chuỗi đổ vỡ của các định chế tài chính vào
những tháng tiếp theo
 11/7: Giá dầu chạm mức lịch sử 147,27 USD mỗi thùng
 7/9: Mỹ chi 200 tỷ USD tiếp quản Freddie Mac và Fannie Mae
 14/9: Bank of America mua lại Merrill Lynch
 15/9: Lehman Brothers tuyên bố phá sản
 16/9: Mỹ giải cứu AIG
 21/9: Goldman Sachs và Morgan Stanley thay đổi mô hình hoạt động
 28/9: Ngân hàng Bradford & Bingley (Anh) sụp đổ
 29/9: Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức sụt giảm lớn nhất
lịch sử, gần 778 điểm, và phố Wall mất 1.200 tỷ USD
 3/10: Hạ viện Mỹ thông qua gói 700 tỷ USD
 7/10: Anh chi 88 tỷ USD cứu hệ thống ngân hàng
 8/10: Các ngân hàng trung ương đồng loạt hạ lãi suất
 12/10: Chính phủ Iceland có nguy cơ sụp đổ vì khủng hoảng tài chính
 27/10: IMF bơm tiền hỗ trợ hàng loạt nền kinh tế
 5/11: Ông Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, với đường lối kinh tế được thế giới kỳ
vọng thay đổi hiện trạng kinh tế Mỹ và toàn cầu
 10/11: Trung Quốc chi gần 600 tỷ USD kích thích kinh tế
 14/11: 15 nước châu Âu thừa nhận lâm vào suy thoái
 17/11: Nhật thông báo đã suy thoái
 25/11: Mỹ chi thêm 800 tỷ USD hỗ trợ kinh tế
 1/12: Mỹ thừa nhận đã suy thoái từ cuối năm 2007
 11/12: Vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ lở, với hàng nghìn nạn nhân.
Năm 2008 trôi qua với kỷ lục của những kỷ lục. Khủng hoảng tài chính bùng
phát tại Mỹ và lan rộng toàn cầu, kéo theo sự sụp đổ đồng loạt của nhiều định

ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch
cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ đôla
vào AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để tránh cho thị trường tài chính
nước này một kết cục tồi tệ hơn.
2. Thị trường chứng khoản chao đảo
Tháng 9 và 10 cũng trở thành giai đoạn đen tối với phố Wall khi chỉ số Dow
Jones sụt tới 25% giá trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9. Kể từ sau giai đoạn
này, biến động tại phố Wall trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và
giảm tồn tại trong hàng chục năm đã bị phá.
Khi tâm lý hoảng hốt lan toả trong tháng 9/08 và thị trường tín dụng đóng
băng, màu đỏ tràn ngập trên mọi thị trường chứng khoán, từ Hồng Công đến
Mêhicô. Nhà chức trách Nga đã đóng cửa thị trường chứng khoán Mátxcơva trong
nhiều ngày để kiềm chế sự hỗn loạn. DJWilshire 5000, chỉ số đại diện cho toàn bộ
chứng khoán giao dịch tại Mỹ, cho thấy thị trường chứng khoán Mỹ đã mất 7.000
tỷ USD trong năm nay.
3. Thị trường hàng hoá biến động mạnh:
Giá hàng hoá thế giới năm 2008 biến động cực mạnh. Giá tăng rất nhanh và
cũng giảm rất nhanh.
Giá hàng hoá đồng loạt lập kỷ lục cao:
Những thời điểm giá cao nhất trong năm là tháng 3 - 5 và 7 - 8, khi giá dầu
mỏ tăng mạnh tác động tới toàn bộ thị trường hàng hoá thế giới.
Những tháng đầu năm cũng chứng kiến các cơn sốt dầu, lương thực, và lạm
phát làm khuynh đảo nền kinh tế toàn cầu. Đặc biệt là giá dầu, từ mức 90 đôla một
thùng vào đầu năm đã leo lên trên 100 đôla vào 20/2 và lập kỷ lục trên 147 đôla
một thùng vào 11/7.
Dầu leo thang kéo giá hàng hóa cơ bản và lương thực lên theo. Trong đó,
vàng lập kỷ lục trên 1.000 đôla một ounce vào 17/3. Còn giá lương thực đắt đỏ lại
tạo ra căng thẳng thực sự tại nhiều nơi, thậm chí cả các quốc gia xuất khẩu lương
thực. Khi giá ngô, nhiên liệu và ngũ cốc tăng vọt trong mùa hè này, người Mỹ đã
phải đối mặt với tình trạng giá thực phẩm leo thang lần đầu tiên trong 17 năm qua.

năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Tại khu vực châu Á, Nhật Bản cũng thông qua gói kích cầu tương đương
297,5 tỷ đô la, dành cho hỗ trợ kinh tế vùng, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp,
hỗ trợ thuế cho chính quyền địa phương và các chương trình cải cách y tế và chăm
sóc trẻ em. Ngoài ra, gói chính sách kích thích kinh tế của Nhật còn tập trung vào
hỗ trợ thuế và có thêm các khoản mục cho đào tạo lao động, nhất là chuyển lao
động thất nghiệp đô thị về nông thôn, cải cách nông nghiệp và phát triển công nghệ
sạch.
Một nền kinh tế lớn khác của thế giới là Trung Quốc cũng triển khai gói kích
thích kinh tế có quy mô lớn. Ngay từ cuối năm 2008, chính phủ Trung Quốc đã có
kế hoạch kích thích kinh tế cụ thể và mạnh mẽ, với tổng giá trị khoảng 585,3 tỷ
USD và bằng 13,3% GDP của quốc gia này. Gói kích thích kinh tế của Trung
Quốc chú trọng nhiều hơn vào đầu tư hạ tầng và xây dựng cơ bản để tạo việc làm.
Như vậy, gói kích thích kinh tế được thực hiện ở các nước bao gồm nhiều
phần, từ việc tăng chi tiêu công, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các doanh nghiệp
và người dân đến việc cắt giảm thuế và tăng trợ cấp. Các cấu phần của gói kích
thích kinh tế cũng có sự khác nhau giữa các nước. Các biện pháp liên quan đến
thuế chiếm hơn một nửa quy mô của gói kích thích kinh tế ở nhiều nước phát triển,
trong khi các biện pháp chi tiêu chiếm tỷ trọng lớn ở các nước đang phát triển,
chẳng hạn như tập trung vào phía doanh thu được thực hiện ở các nước như Thái
Lan, Indonexia, Ấn Độ.
Đối với các nước đang phát triển, gói kích thích kinh tế tập trung chủ yếu
vào tăng chi tiêu vì một phần trong bối cảnh suy thoái nguồn thu sẽ bị giảm sút nên
việc áp dụng biến pháp thuế hạn chế hơn. Hơn nữa, hiệu ứng số nhân cho các biện
pháp về phía chi tiêu lớn hơn các biện pháp về thu. Trong cấu phần chi tiêu, đầu tư
cho cơ sở hạ tầng chiếm một tỷ trọng lớn, đặc biệt là ở các nước Trung Quốc,
Malaixia, Hàn Quốc, Achentina, Đài Loan… Ở nhiều nước, hơn một phần tư gói
kích thích được dành cho an sinh xã hội. Không giống với các nước phát triển nơi
người dân không chịu tăng chi tiêu, ở các nước đang phát triển việc trợ cấp thu
nhập cho các đối tượng bị tổn thương sẽ có tác động tăng chi tiêu cao.

thống. Các ngân hàng trung ương còn nới lỏng các thế chấp, kéo dài kỳ hạn của
các hoạt động tái tài chính và thiết lập các đường dây trao đổi liên ngân hàng
trung ương nhằm giảm sức ép vốn đô la ở thị trường bên ngoài.
- Thứ ba, các giới chức tiền tệ còn cung cấp một khối lượng lớn những thanh
khoản bổ sung để giữ các tổ chức tài chính hoạt động và giảm rủi ro lan ra trên các
phần của thị trường tài chính qua việc mua các giấy tờ thương mại, cổ phiếu công
ty, trái phiếu tài sản. Một số ngân hàng trung ương còn can thiệp vào thị trường
ngoại tệ để tăng sức ép lên đồng tiền của họ nhằm giảm nguy cơ giảm phát. Với
những can thiệp trên, tài khoản của các ngân hàng trung ương đã được mở rộng
từng bước và các cấu phần của nó đã thay đổi tốt.
Hình 2: Diễn biến lãi suất qua đêm của ECB
Nguồn: Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status