Các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới trong thời kỳ khủng hoảng tài chính đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:

CÁC BIỆN PHÁP CẮT GIẢM CHI PHÍ CỦA MỘT SỐ DOANH
NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI KỲ KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH ĐỀ XUẤT CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Mai
Lớp : Anh 3
Khoá : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung Hà Nội, 05/2009

nghiệp Việt Nam với hy vọng các doanh nghiệp sẽ cắt giảm chi phí tốt, vượt qua
những khó khăn của khủng hoảng tài chính và phát triển bền vững.

22
*Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Các biện pháp cắt giảm chi phí của một số doanh nghiệp trên thế giới trong
thời kỳ khủng hoảng tài chính, đưa ra đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam.
*Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập thông tin, số liệu
- Phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp
*Kết cấu của khoá luận : Ngoài lời mở đầu, kết luận, nội dung của khoá luận được
chia làm 3 chương.
- Chương I: Những lý luận chung về chi phí và quản lý chi phí trong doanh
nghiệp
- Chương II: Khủng hoảng tài chính toàn cầu và các biện pháp cắt giảm chi
phí của một số doanh nghiệp trên thế giới
- Chương III: Giải pháp và định huớng cho các doanh nghiệp Việt Nam trong
việc cắt giảm chi phí
Nhân đây, cho phép em được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Nguyễn
Thị Tuyết Nhung đã tận tình hướng dẫn em khoá luận tốt nghiệp này. Em cũng xin
cảm ơn khoa Quản trị Kinh doanh, Ban giám hiệu nhà trường cùng tất cả các thầy
cô giáo dạy dỗ em suốt 4 năm học qua đã tạo cho em những điều kiện học tập,
nghiên cứu tốt nhất!
Hà Nội, ngày 2/4/2009
Sinh viên:
Nguyễn Thị Mai


thức đều có ý nghĩa khác nhau đối với quá trình quản trị doanh nghiệp. 44

2.1 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mối quan hệ của chi phí và kết quả sản
xuất kinh doanh, chi phí được chia thành hai dạng cơ bản:
* Chi phí biến đổi hay còn gọi là biến phí là các khoản chi phí thường tỷ lệ
thuận với kết quả sản xuất hay quy mô hoạt động, ví dụ như chi phí nguyên vật liệu
chính dùng để sản xuất ra sản phẩm….
Chi phí biến đổi có đặc điểm là tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm sản
xuất, nhưng khi tính cho một đơn vị kết quả thì cố định. Do vậy để kiểm soát các
chi phí biến đổi các nhà quản trị doanh nghiệp thường xây dựng mức chi phí biến
đổi cho mỗi đơn vị kết quả sản xuất.
Tổng biến phí Biến phí đơn vị

Y=ax Y=ax

Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động - Chi phí biến đổi của doanh nghiệp có thể chia làm hai dạng: chi phí biến
đổi tuyến tính và chi phí biến đổi cấp bậc.
+ Chi phí biến đổi tuyến tính đó là các khoản chi phí biến đổi hoàn toàn tỷ lệ
thuận với kết quả sản xuất, ví dụ như chi phí nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất
hoặc hoa hồng cho người bán hàng được tính theo tỷ lệ doanh thu. Do đó, việc
hoạch định, xây dựng và hoàn thiện định mức biến phí tuyệt đối sẽ là tiền đề tiết
kiệm, kiểm soát chi phí một cách chặt chẽ hơn.
+ Chi phí biến đổi cấp bậc đó là các khoản chi phí cũng thay đổi nhưng gắn

- Định phí bắt buộc là các khoản chi phí thường gắn với cấu trúc của một tổ
chức kinh tế, do vậy khi các bộ phận không tồn tại thì định phí bắt buộc vẫn phát
sinh, ví dụ như tiền thuê văn phòng hoạt động của doanh nghiệp. Định phí bắt buộc
có hai đặc điểm cơ bản:
+ Chúng tồn tại lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ Chúng không thể cắt giảm đến bằng không trong một thời gian ngắn.

66
Các nhà quản trị muốn kiểm soát các khoản chi phí cố định thường căn cứ
vào mức độ hoạt động của quy mô hoạt động và công suất của các tài sản đang sử
dụng.
* Chi phí hỗn hợp đó là các khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và
định phí. Thường ở mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp thể hiện định phí,
khi vượt khỏi mức độ hoạt động căn bản thì chi phí hỗn hợp bao gồm cả biến phí.
Trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí hỗn hợp thường thể
hiện như chi phí sản xuất chung, chi phí sử dụng máy móc, chi phí bán hàng, chi phí
quản lý doanh nghiệp.
Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử giúp doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp thiết kế, xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ
giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận.
- Phân tích chi phí, phân tích điểm hoà vốn để đưa ra quyết định kinh doanh
phù hợp.
- Xác định đúng đắn phương hướng sử dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng
các loại chi phí.
2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
2.2.1 Chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.2.1.1 Chi phí sản xuất của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật
tư, nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị,trả công cho người lao động,…Do

xuất. Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành khác nhau có cơ
cấu chi phí sản xuất khác nhau. Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tác động của nhiều
nhân tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanh nghiệp, trình độ kỹ thuật,
trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức, năng lực quản lý, trình độ tay
nghề của công nhân…
Nghiên cứu cơ cấu chi phí sản xuất nhằm:
- Xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất.
- Kiểm tra giá thành sản phẩm và có biện pháp hạ gia thành sản phẩm.
2.2.1.2 Chi phí tiêu thụ sản phẩm
Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng. Khối
lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuất kinh

88
doanh của doanh nghiệp. Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cũng phải
bỏ ra những chi phí nhất định.
Chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm: Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm,
chi phí hỗ trợ marketing và phát triển.
Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm: Chi phí chọn lọc, đóng gói; chi
phí bao bì, vận chuyển, bảo quản, chi phí thuê kho, bến bãi…
Chi phí hỗ trợ marketing và phát triển bao gồm: Chi phí điều tra nghiên cứu
thị trường, chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo hành sản phẩm…Tỷ
trọng của chi phí có xu hướng tăng trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển.
2.2.1.3 Giá thành sản phẩm
Nghiên cứu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa cho biết lượng chi phí
cần thiết để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hoặc một đơn vị sản
phẩm nhất định. Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, khi quyết định lựa chọn
phương án kinh doanh một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải tính đến
lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc khối lượng sản phẩm
đó. Do vậy, doanh nghiệp cần xác định giá thành của sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp

- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động
- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính
2.2.2 Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm các chi phí có liên
quan đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là
một cách tiếp cận phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Dựa vào tính chất các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh được chia thành
các loại sau:
- Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực (gọi tắt là chi phí vật tư)
- Chi phí vật tư phụ thuộc vào hai yếu tố là mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định (KHTSCĐ)
Chi phí KHTSCĐ được xác định dựa vào nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao và tỷ
lệ KHTSCĐ.
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương.
- Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn.

1010
- Chi phí dịch vụ mua ngoài.
- Thuế và các chi phí khác.
Dựa vào nội dung các yếu tố chi phí: Chi phí hoạt động kinh doanh được
chia thành các khoản mục chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
Chi phí sản xuất trực tiếp bao gồm:
- Chi phí vật tư trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
* Giá thành sản xuất
Giá thành sản xuất = Chi phí sản xuất + Chênh lệch sản phẩm dở dang
Chênh lệch sản phẩm dở dang = Sản phẩm dở dang đầu kỳ - Sản phẩm dở
dang cuối kỳ
* Giá vốn hàng bán

- Chi phí sản phẩm đó là các khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất
và quá trình mua hàng. Đối với một đơn vị sản xuất chi phí sản phẩm chính là chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
Đối với một đơn vị kinh doanh thương mại chi phí sản phẩm chính là giá mua và
chi phí mua hàng. Chi phí sản phẩm phát sinh và ảnh hưởng đến nhiều kỳ báo cáo,
nói cách khác, sự phát sinh và khả năng bù đắp của chi phí sản phẩm trải qua nhiều
kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau. Vì vậy khi xác định chi phí sản phẩm, chúng ta
cần xem xét đến các giai đoạn chuyển tiếp và mức độ chuyển tiếp của chúng.
- Chi phí thời kỳ thường liên quan và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh
nghiệp trong một thời kỳ. Chi phí thời kỳ không phải là một phần của giá trị sản
phẩm sản xuất hoặc hàng hoá mua vào mà chúng là những dòng chi phí được khấu
trừ vào kỳ tính lợi nhuận. Chi phí thời kỳ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp tồn tại khá phổ biến như chi phí hoa hồng, bán hàng, quảng cáo…
Cách phân chia này giúp các nhà quản trị kinh doanh xác định tương đối
chính xác lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán.
2.4 Phân loại chi phí dựa vào mối quan hệ của chi phí và đối tượng chịu chi phí
- Chi phí trực tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán có thể tập hợp trực tiếp
cho đối tượng chịu chi phí. Ví dụ, vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp… Một đối

1212
tượng chi phí mà có tỷ trọng chi phí cao thì độ chính xác của chỉ tiêu giá thành, kết
quả của đối tượng càng cao.
- Chi phí gián tiếp đó là các khoản chi phí mà kế toán không thể tập hợp trực
tiếp cho các đối tượng chịu chi phí, do vậy đối với từng yếu tố chi phí gián tiếp kế
toán phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí. Ví dụ, tiền lương của nhân viên
phân xưởng…Độ chính xác của chi phí giàn tiếp cần phân bổ còn phụ thuộc vào
tiêu thức phân bổ. Tiêu thức phân bổ phải lựa chọn cho phù hợp và thường dựa vào
những căn cứ khoa học như : Thuận tiện cho việc tính toán, thống nhất cả kỳ hạch
toán, có tính đại diện cao cho chi phí gián tiếp cần phân bổ.
2.5 Một số loại chi phí khác

1. Khái niệm quản lý và quản lý chi phí
Quản lý đó là một quy trình gồm các bước: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện
kế hoạch và kiểm soát tình hình thực hiện kế hoạch, trên cơ sở đó để ra quyết định.
Các quyết định này lại được cụ thể hoá vào giai đoạn tiếp theo.
Để thực hiện tốt quy trình hay công tác quản lý điều cốt lõi là phải có thông
tin. Thông tin là cơ sở để ra quyết định.
Quản lý chi phí là một trong những phạm trù nhỏ của quản lý nói chung, vì
vậy quản lý chi phí cũng không nằm ngoài quy trình của quản lý nói chung.
Nếu hiểu một cách đơn thuần, quản lý chi phí là việc nắm bắt đầy đủ thông
tin về chi phí, hiểu được “hành vi” hay bản chất, sự biến động của chi phí. Từ
những thông tin về chi phí, người quản lý sẽ phải tìm ra nguyên nhân phát sinh chi
phí (ở sản phẩm hay ở cơ cấu tổ chức, ở bộ phận bán hàng hay bộ phận quản lý…).
Trên cơ sở đó người quản lý sẽ đưa ra những quyết định ngắn hạn và dài hạn trong
kinh doanh. Các quyết định này lại làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp và cần
tiếp tục được quản lý. Như vậy, quá trình quản lý chi phí là một quá trình liên tục,
có hệ thống, đòi hỏi các biện pháp phù hợp với tính chất của chi phí, chiến lược, kế
hoạch kinh doanh của đơn vị.
Còn nếu hiểu theo quan điểm trên, quản lý chi phí cũng bao gồm ba bước:
lập kế hoạch chi phí, triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm soát tình hình thực hiện kế
hoạch chi phí.
Lập kế hoạch chi phí là việc ước tính bao nhiêu nguồn lực cần sử dụng để
hoàn thành một sản phẩm, dịch vụ hay một dự án của doanh nghiệp. Dựa trên

1414
những số liệu từ những kỳ kinh doanh trước, nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
và các thông tin liên quan khác, các yêu cầu về nguồn lực sẽ được thiết lập. Từ
những yêu cầu về nguồn lực đó, doanh nghiệp sẽ ước tính chi phí cần thiết cho mỗi
hoạt động.
Trên cơ sở lập kế hoạch chi phí, doanh nghiệp triển khai thực hiện theo kế
hoạch đã đề ra và bước cuối cùng của quy trình quản lý chi phí là kiểm soát chi phí.

định chiến lược chi tiêu ngắn hạn và dài hạn của công ty dựa trên sự đánh giá tổng
quát cũng như từng khía cạnh cụ thể của các yếu tố chi phí có ảnh hưởng tới sự tồn
tại của công ty như: xác định chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án
của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản xuất…
Như vậy, quản lý tốt các khoản chi phí không những nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp, mang lại lợi nhuận cho các chủ sở hữu mà còn góp phần
quan trọng vào công tác quản lý tài sản, nguồn vốn và nguồn nhân lực của đơn vị.
Các bộ phận, phòng ban có thành tích trong việc cắt giảm chi phí sẽ được doanh
nghiệp đánh giá đúng mức, qua đó tạo động lực cho người lao động tham gia vào
quá trình liên tục nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3. Các biện pháp quản lý chi phí
Như đã trình bày, để quản lý chi phí hiệu quả nhất, ngươì quản lý cần thu
thập đầy đủ những thông tin về chi phí. Càng biết và hiểu nhiều về chi phí trong
doanh nghiệp của mình, người quản lý càng dễ dàng trả lời được những câu hỏi liên
quan đến chi phí, đoán trước được khó khăn và kiểm soát được chi phí. Muốn vậy,
các doanh nghiệp phải có những biện pháp phù hợp với tính chất, chiến lược, kế
hoạch kinh doanh của doanh nghiệp và đảm bảo cung cấp thông tin chi phí kịp thời,
chính xác để xử lý.
3.1 Xây dựng định mức chi phí và lập dự toán ngân sách
3.1.1 Xây dựng định mức chi phí
Quản lý và kiểm soát các chi phí là rất cần thiết, nhưng làm thế nào để biết
doanh nghiệp đang quản lý những khoản chi đúng? Và nên giảm những khoản chi
này bao nhiêu là đủ, là hợp lý? Chính vì vậy, trong quản lý và kiểm soát chi phí cần
quyết định khoản nào cần chi rồi kiểm soát các khoản chi trong thực tế để đạt được
chi phí như định mức đã đề ra.

1616
Định mức chi phí (hay chi phí tiêu chuẩn) có liên quan đến từng đơn vị sản
phẩm cụ thể. Mỗi sảm phẩm chế tạo hay dịch vụ đều có một định mức phí.
Định mức chi phí là khoản chi phí được xác định trước bằng cách lập ra

điều kiện trong tương lai của doanh nghiệp.
*Hai loại định mức thường sử dụng là: Định mức lý tưởng và định mức
dự kiến
- Định mức lý tưởng dựa trên điều kiện làm việc hoàn hảo. Tuy nhiên, hiếm
khi có được điều kiện hoàn hảo, do những nguyên nhân nằm ngoài tầm kiểm soát
của chúng ta. Định mức lý tưởng có thể giúp ta thấy rõ những điểm khác biệt chính
nhưng đối với nhiều người định mức lý tưởng dễ gây nản lòng vì mục tiêu có thể
quá cao.
- Định mức dự kiến thường dễ áp dụng hơn. Đây là các định mức mang tính
thực tế,vì chúng cho phép một mức độ sai lệch chấp nhận khi thực hiện. Nếu như
đội ngũ công nhân được quản lý tốt và sẵn sàng hợp tác thì doanh nghiệp dễ đạt
được định mức dự kiến.
*Xây dựng định mức cho các loại chi phí sản xuất
- Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Định mức chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp được xác định cả ở định mức mặt lượng và định mức mặt
giá.
Về mặt lượng nguyên vật liệu: Lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản
phẩm, có cho phép những hao hụt bình thường.
Để sản xuất một sản phẩm thì định mức tiêu hao nguyên vật liệu là: Nguyên vật liệu
cần thiết để sản xuất một sản phẩm, hao hụt cho phép, lượng vật liệu tính cho sản
phẩm hỏng.
Về mặt giá nguyên vật liệu: Phản ánh giá cuối cùng của một đơn vị nguyên vật liệu
trực tiếp sau khi đã trừ đi mọi khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán.
Định mức về giá nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm là:
- Giá mua (trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán)
- Chi phí thu mua nguyên vật liệu
Như vậy ta có:
Định mức về chi phí nguyên vật liệu = Định mức lượng * Định mức giá
- Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp


việc phân tích được chính xác và chi tiết, xác định được những nhân tố trực tiếp làm

1919
ảnh hưởng đến sự biến động của chi phí, giúp nhà quản lý có nguồn thông tin chắc
chắn để có giải pháp kịp thời và hiệu quả trong quản lý chi phí.
3.1.2 Lập dự toán sản xuất kinh doanh
Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới hiện nay cùng với môi trường kinh
doanh biến đổi không ngừng, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển vững
chắc cần phải có chiến lược kinh doanh hợp lý, cần phải xây dựng những kế hoạch
cho tương lai và lường trước những khó khăn có thể gặp phải. Có như vậy đồng vốn
bỏ ra cho bất kỳ kế hoạch sản xuất nào mới đem lại hiệu quả cao. Vì vậy cụ thể hoá
kế hoạch sản xuất thành những con số chi tiết cụ thể thông qua lập dự toán sản xuất
kinh doanh là hết sức cần thiết.
Lập dự toán sản xuất kinh doanh có ý nghĩa to lớn trong hoạt động quản lý
doanh nghiệp nói chung và quản lý chi phí nói riêng:
- Cung cấp một cách hệ thống về tình hình chi phí từ đó có những hoạch định
phù hợp cho tương lai của doanh nghiệp.
- Xác định cụ thể các chỉ tiêu quản lý phù hợp với yêu cầu quản trị doanh
nghiệp và phù hợp với đặc điểm kinh doanh, trên cơ sở đó làm căn cứ để hệ thống
hoá thông tin chi phí nhằm đánh giá, kiểm soát các chi phí.
- Trên cơ sở lập dự toán chi phí cụ thể, việc quản lý từng khoản mục chi phí
sẽ trở nên chặt chẽ, lường hết được những khó khăn và những nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình quản lý chi tiêu để có những điều chỉnh phù hợp.
- Là cơ sở cho việc phân tích tình hình biến động chi phí, xác định rõ nguyên
nhân khách quan cũng như chủ quan trong quá trình thực hiện dự toán. Từ đó thấy
được những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục.
Dự toán có nhiều loại khác nhau để thích ứng với từng nhu cầu riêng rẽ và
từng hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp. Trong cùng một dự toán, quá trình thực
hiện dự toán cũng có thể thay đổi. Như vậy dự toán có thể được phân loại theo
những tiêu thức như:

- Dự toán sản xuất bao gồm các dự toán nhỏ (Trong sơ đồ 1) như:
+ Dự toán số lượng sản xuất dự kiến số lượng phải sản xuất từ dự toán bán
hàng và mức tồn kho thành phẩm của doanh nghiệp;

2121
+ Dự toán nguồn lực sản xuất: Dự toán nguồn lực được huy động để hoàn
thành sản xuất;
Khi dự toán sản xuất đã được thiết lập cùng với những thông tin phụ trợ và sử
dụng định mức chi phí, có thể xác định được chi phí cho các nguồn lực cần huy động.
- Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh: Từ tất cả những thông tin trên doanh
nghiệp có thể lập được dự toán báo cáo kết quả kinh doanh.
- Dựa vào các dự toán trên, doanh nghiệp có thể lập được báo cáo tài chính
dự kiến, dự toán dòng tiền của doanh nghiệp.
Bằng việc lập dự toán, các chi phí cho một dự án sẽ được dự tính trước. Việc dự
tính trước chi phí cho mỗi kế hoạch không những giúp doanh nghiệp chủ động
trong việc tìm nguồn vốn hỗ trợ kinh doanh, đánh giá tính khả thi của dự án trước
khi thực hiện mà còn là chuẩn mực để đánh giá hiệu quả chi phí. Chính vì vậy dự
toán được sử dụng phổ biến nhiều ở doanh nghiệp. Theo một số nghiên cứu, 90%
các doanh nghiệp ở Mỹ lập các dự toán tổng thể, ở Nhật là 93%, 95% ở Úc và
100% ở Anh và Hà Lan.
3.2. Xây dựng trung tâm quản lý chi phí
Nắm bắt kịp thời mọi nguồn phát sinh chi phí cũng như những nguyên nhân
gây ra chi phí để từ đó có những biện pháp cắt giảm chi phí luôn gắn với mục tiêu
tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp là việc hết sức cần thiết trong quản lý chi
phí. Bằng cách xây dựng trung tâm quản lý chi phí doanh nghiệp có thể đáp ứng tốt
yêu cầu kiểm soát chi phí một trong các nội dung của quản lý chi phí.
3.2.1. Trung tâm quản lý chi phí
Trung tâm quản lý chi phí là nơi xác định, tập hợp chi phí và sau đó gắn nó
với một đơn vị tính phí. Mỗi doanh nghiệp cần xác định các đơn vị tính phí riêng
của mình. Hay nói cách khác một trung tâm quản lý chi phí là “điểm” tập hợp các

Bằng cách kết hợp mã số của các trung tâm quản lý chi phí và mã số của
từng loại chi phí, chúng ta có thể xác định đã chi hết bao nhiêu cho một khoản mục
chi phí cụ thể nào đó tại một trung tâm chi phí bất kỳ và cứ như vậy chi phí sẽ được
kiểm soát trong toàn doanh nghiệp. Điều này cho phép nhà quản lý quyết định cách
sử dụng tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp.
Một hệ thống mã chi phí có ý nghĩa khi mọi người trong doanh nghiệp đều mô tả
giống nhau về mỗi loại chi phí phát sinh. Những thông tin về chi phí cần đơn giản và
trình bày theo cách đã được chuẩn hoá để có thể diễn giải và phân tích dễ dàng.

2323
Mã số chi phí cấu thành từ mã số trung tâm quản lý chi phí và mã số loại chi phí
cho phép chúng ta theo dõi các chi phí cho từng trung tâm quản lý chi phí. Vì vậy chúng
ta cải thiện được việc kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp và quản lý chi phí sẽ hiệu quả
hơn khi chúng ta nắm chắc được từng nguyên nhân gây ra chi phí.
Cũng cần lưu ý rằng việc lựa chọn trung tâm quản lý chi phí phụ thuộc vào ý
định kiểm soát chi phí của nhà quản lý. Và không phải lúc nào kiểm soát chi phí
thông qua tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp là phương pháp quản lý tốt nhất.
Tuỳ theo mục đích quản lý chi phí, doanh nghiệp có thể lựa chọn những bộ phận
liên quan và quan trọng nhất làm trung tâm quản lý chi phí.
Như vậy với việc xây dựng trung tâm quản lý chi phí, chúng ta có thể tập hợp
thông tin chi tiết về chi phí của từng đơn vị tính phí theo các nguồn gây ra chi phí và từ
đó dễ dàng hơn trong việc kiểm soát và quản lý chúng. Điều này cho phép quyết định
cách sử dụng tốt nhất các nguồn lực của doanh nghiệp hay cách tiết kiệm nguồn lực.
Có thể thấy qua trung tâm quản lý chi phí với hệ thống mã chi phí khoa học
chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc quản lý chi phí, kiểm soát được sự lãng phí
trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp.
3.3. Phương pháp chi phí mục tiêu (Target Cost)
Đây là một trong những phương pháp quản lý chi phí hiện đại của Nhật Bản
được áp dụng ở nhiều nước phát triển. Không ai có thể phủ nhận sự thành công của
các Công ty Nhật Bản trên thương trường và một trong các lý do cho sự thành công
2 3

Sơ đồ 2: Quản trị chi phí theo Sakurai
Khái niệm Kaizen trong sơ đồ 3 có thể được hiểu như là sự xem xét cải tiến
không ngừng chi phí nhằm duy trì liên tục tỷ lệ chi phí/lợi nhuận ở mức tốt nhất.
Kaizen costing quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến chi phí trong giai
đoạn chế tạo.
Phương pháp chi phí mục tiêu được bắt đầu bằng việc ước tính giá bán của
sản phẩm. Giá bán ước tính dựa vào công dụng và thuộc tính của sản phẩm, các đối
thủ cạnh tranh trên thị trường. Trên cơ sở lợi nhuận mong đợi, doanh nghiệp phải
xác định chi phí sản xuất và tiêu thụ có thể chấp nhận để tiến hành sản xuất sản
phẩm. Chi phí mục tiêu được xác lập dựa vào chi phí có thể chấp nhận và chi phí

Trích đoạn Có tầm nhìn hướng về tương lai Biện pháp cắt giảm chi phí của Ford Biện pháp cắt giảm chi phí của Dell Tác động tới các doanh nghiệp Việt Nam xuất cho các doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status