LUẬN VĂN: Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà Đại hội IX đã nêu và ích lợi của việc sử dụng vào việc phân tích kinh tế - xã hội trong thời kỳ lên CNXH ở Việt Nam - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
ở nước ta mà Đại hội IX đã nêu và ích lợi của
việc sử dụng vào việc phân tích kinh tế - xã
hội trong thời kỳ lên CNXH ở Việt Nam Lời nói đầu
Từ năm 1986 Việt Nam thực hiện việc chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, chính sách kế hoạch và các
công cụ khác. Quá trình chuyển tiếp đó đã đạt được những kết quả tuy là bước
đầu nhưng đáng khích lệ.
Chúng ta đã bắt đầu kiềm chế được lạm phát trong điều kiện kinh tế phải đối

phát triển của họ đi liền với sự đầu tư của nhà nước về vốn, đất đai và tín dụng 2/3
số doanh nghiệp còn lại làm ăn thua lỗ. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đóng góp đáng kể vào GNP nhưng nhìn chung chưa được quan tâm thích đáng,
đặc biệt trong việc xuất khẩu: Nhà nước chỉ cho phép các doanh nghiệp quốc
doanh được xuất khẩu những mặt hàng trọng yếu trong nền kinh tế còn các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh chỉ được xuất khẩu những mặt hàng nói chung là đóng
góp không đáng kể vào thu nhập ngân sách. Xuất phát từ tình hình thực tiễn
và cũng từ sự say mê của em khi nghiên cứu vấn đề này nên em chọn đề tài:
“Phân tích cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta mà Đại hội IX đã nêu và
ích lợi của việc sử dụng vào việc phân tích kinh tế - xã hội trong thời kỳ lên
CNXH ở Việt Nam”.

PHần A: Cơ sở khách quan của sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần và các thành
phần kinh tế tồn tại ở nước ta I.Những vấn đề lý luận của nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần và quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - LêNin.
Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - LêNin 1.Giải thích quan
điểm. Trong việc nhận thức cũng như trong việc xem xét các đối tượng cần phải
đứng trên quan điểm toàn diện. Như vậy câu hỏi đặt ra: quan điểm toàn diện là gì?
Quan điểm toàn diện thể hiện qua hai nguyên lý sau: a.Nguyên lý phổ biến giữa
các sự vật hiện tượng hay gọi là mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng.
Các sự vật và hiện tượng muôn hình, nghìn vẻ trong thế giới không có cái
nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các
sự vật hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc nhau, quy định và
chuyển hoá lẫn nhau. Mối liên hệ này chẳng những diễn ra ở mọi sự vật và hiện
tượng trong tự nhiên trong xã hội và trong tư duy con người mà còn diễn ra giữa các yếu tố các mặt khác, các quá trình của mỗi sự vật hiện tượng. Có những
mối liên hệ chỉ đặc trưng cho một đối tượng hoặc một nhóm đối tượng. Nhưng
đồng thời có những mối liên hệ mang tính phổ quát cho mọi đối tượng của tồn tại,

khác. Bất kỳ một sự vận động nào cũng bao hàm trong một xu hướng rất nhiều
xuyên suốt quá trình từ qúa khứ đến hiện tại, đến tương lai. Trên bình diện triết
học, xu hướng vận động từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp, ngày càng
hoàn thiện và phát triển. Tuỳ theo các lĩnh vực khác nhau của thế giới vật chất
mà sự phát triển thể hiện khác nhau mà nguồn của nó là sự liên hệ, tác động lẫn
nhau giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật và hiện tượng. Song không nên
hiểu sự phát triển bao giờ cũng diễn ra một cách giản đơn thẳng tắp. Xét từng
trường hợp cá biệt thì có những vận động đi lên, tuần hoàn thậm chí đi xuống,
nhưng xét cả quá trình trong phạm vi rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh
hướng thống trị. Khái quát tình hình trên, phép biện chứng duy vật khẳng định:
phát triển là khuynh hướng chung của sự vận động của sự vật, hiện tượng.
Nguyên lý về sự phát triển chỉ cho chúng ta: Muốn thực sự nắm được bản
chất của sự vật hiện tượng, nắm được khuynh hướng vận động của chúng phải có
quan điểm phát triển. Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật, hiện tượng
trong sự vận động, phải phát hiện các xu hướng biến đổi chuyển hoá của chúng,
khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ.
Nhưng trong quá trình phát triển ta phải hết sức chú ý đến việc kế thừa và
sáng tạo những thành quả mà sự vật, hiện tượng trước đã đạt được.Phát triển
không phải là vận động theo đường thẳng mà chỉ là xu hướng vận động theo hướng
tiến lên.
Đối với một nền kinh tế, xu hướng tăng trưởng tự vạch đường đi biểu hiện
xuyên qua các thời điểm mà ở đó ta có thể nhận thấy hoặc là nó đang ở trạng thái
tương đối ổn định (tổng cung = tổng cầu) hoặc là trong trạng thái mở rộng phát
triển sản xuất (tổng cung < tổng cầu) hoặc là trong trạng thái thu hẹp lại sự khủng
hoảng và sang trạng thái (tổng cung > tổng cầu). Cứ mỗi khi nền kinh tế lâm vào
thời kỳ khủng hoảng, suy thoái nếu nó không đủ sức để vượt qua đến thời kỳ hồi
phục để tăng trưởng về sau thì nó sẽ bị đào thải và loại bỏ bằng một cuộc cách
mạng xã hội hay đảo chính để thiết lập một trật tự kinh tế mới.
Vì vậy vận động bao hàm trong mình cả sự đào thải, loại bỏ, nhưng phát
triển từ thấp đến cao, từ giản đơn đến phức tạp ngày càng phát triển hoàn thiện

Mặt khác, sức mạnh cá biệt của từng thành phần chỉ có thể phát huy được trong những điều kiện cụ thể, trong những lĩnh vực nhất định, nghĩa là nếu chúng
tồn tại biệt lập thì mỗi thành phần kinh tế không có khả năng khai thác có hiệu
quả c ác nguồn nhân lực và tài lực ở từng ngành và từng vùng nhất định. Nhu cầu
khai thác triệt để mọi tiềm năng của đất nước, gắn phát triển sản xuất với phát
triển xã hội, gắn giải quyết việc làm ổn định và cải thiện đời sống nhân dân vv
qui định sự hiệp tác giữa các thành phần kinh tế. ở đâu và khi nào còn tồn tại nhu
cầu này thì quan hệ giữa các thành phần kinh tế còn tồn tại. Toàn bộ những quan
hệ này hợp thành cấu trúc của hệ thống kinh tế nhiều thành phần mà nên tách khỏi
hệ thống sẽ không hiểu được vị trí và vai trò riêng của từng thành phần.
Vì thế quan hệ giữa các thành phần kinh tế là quan hệ phổ biến mà sự phát
triển của những quan hệ đó mà quá trình từng bứơc xã hội hoá sự phát triển của
lực lượng sản xuất.
Quá trình xã hội hoá của các lực lượng sản xuất luôn luôn diễn ra trong cơ
chế thị trường. Cơ chế thị trường định hướng quan hệ giữa các thành phần kinh
tế cả trong quan hệ quốc gia lần trong quan hệ quốc tế theo nguyên tắc các bên
cùng có lợi.
Nguyên tắc này là nguyên tắc hoạt động của các thành phần kinh tế trong
quá trình hợp tác.
Việc thực hiện nguyên tắc này làm cho những ưu thế riêng của các thành
phần kinh tế trong việc phát triển lực lượng sản xuất đều được phát huy. Các
thành phần một mặt vừa kết hợp với nhau, vừa bổ sung cho nhauvà dođó gắn yếu
tố truyền thống đã được chọn lọc trong quá trình phát triển xã hôị với yếu tố hiện
đại, gắn các trình độ phát triển khác nhau của lực lượng sản xuất tạo thành “Lực
lượng sản xuất mới” kết hợp sự biến đổi về lượng với sự thay đổi về chất làm
cho các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển. Mặt khác, cơ chế thị trường
với sự tác động của quy luật giá trị, qui luật cung - cầu buộc các thành phần kinh
tế trong kinh daonh cạnh tranh với nhau quyết liệt và kết quả là dẫn đến sự phát

Thứ hai, cơ sở hạ tầng và máy móc trang thiết bị chiến tranh tàn phá nặng
nề.
Khi mà đầu vào chưa có đủ thì chắc chắn chúng ta không thể phát triển nền
kinh tế có hiệu quả được. Chính vì phát triển nền kinh tế một cách thiếu toàn diện nên nền kinh tế sa sút, người dân mất lòng tin với Đảng và Nhà nước.
Tình hình trong nước là như thế, trong khi đó trên thế giới các mức trong
khu vực đã và đang thực hiện một nền kinh tế hỗn hợp có hiệu quả.
Vì vậy năm 1986, chúng ta chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều thành
hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Đại hội Đảng VII đã khẳng định
các thành phần kinh tế đang tồn tại khách quan tương xứng với tinhs chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất trong giai đoạn lịch sử hiện nay đó là: thành
phần kinh tế quốc doanh tập thể, cá thể, tư nhân tư bản chủ nghĩa và tư bản Nhà
nước.
Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước
ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém,
đưa nền kinh tế hàng hoá phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách Nhà nứơc
hạn hẹp.
Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trong
việc đáp ứng nhu cầu xã hôị vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc “phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần phải đi đôi với tăng cường quản lý của Nhà nứơc về kinh tế xã hội”. 2.Những quan điểm chung về việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần.

hướng:
Đầu tư tập trung ưu tiên cho các loại doanh nghiệp Nhà nước theo thứ tự:
Thứ nhất, làm ăn có hiệu quả.
Thứ hai, đang hoạt động trong những ngành có vị trí then chốt và chiến lược
quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, đang hoạt động trong những ngành có điều kiện phát triển kỹ thuật
và công nghệ tiến tiến, qua đó có thể tạo ra được cơ sở để cải tiến cơ cấu công
nghiệp, hiện đại hoá nền kinh tế.
 Đối với các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả trong các ngành không
quan trọng thì chuyển đổi sở hữu, sáp nhập, giải thể, cho thuê hoặc bán đấu giá.
 Đối với các doanh nghiệp Nhà nước khác, khuyến khích các doanh
nghiệp tự bỏ vốn để đầu tư cải tạo, mở rộng sản xuất - kinh doanh và vay vốn theo
nguyên tắc “tự vay tự trả”.
Điều quan trọng là phải chuyển các doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động
theo cơ chế thị trường và trở thành một chủ thể sản xuất - kinh doanh thực sự.
Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Chính sách phát triển các loại
hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải được xây dựng trên quan điểm:
 Không giới hạn sự phát triển.
 Cho phép các doanh nghiệp có đủ điều kiện quy định của Nhà nứơc được
mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu và liên kết kinh tế với nứơc ngoài.
 Ngành nghề, thời gian và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp phải theo
đúng quy định của Nhà nước.
 Khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức theo các hình thức sở hữu đan
xen.
Với quan điểm này, các chính sách phát triển kinh doanh là một thể thống
nhất không phân biệt thành phần sở hữu và cơ quan chủ quản các hình thức sở hữu
đan xen nhau sẽ tạo nguồn động lực mới cho sự phát triển của các thành phần kinh
tế.
vào ngân sách Nhà nước.
Trong nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ:
 Các doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong các
ngành công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải và xây dựng. Kinh tế tập thể
chiếm tỷ trọng rất lớn trong các ngành công nghiệp.
 Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động hầu hết trong mọi lĩnh vực của nền
kinh tế.
 Các doanh nghiệp đều có cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung quan
liêu, bao cấp chi phối, hiệu quả kinh tế kém.
Dưới ánh sáng đường lối của Đảng, trong mấy năm qua chúng ta đạt được
những thành tự đáng kể trong tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường. Hàng hoá
phong phú cả về chủng loại, mẫu mã và chất lượng. Lạm phát được kiềm chế, giá
cả dần dần được ổn định. Đời sống cán bộ công nhân viên chức và nhân dân bước đầu được cải thiện.
Từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế tị
trường, doanh nghiệp đã được “cởi trói”. Doanh nghiệp Nhà nước được quyền tự
chủ về nhiều mặt, tự chịu trách nhiệm về đầu vào và đầu ra trong sản xuất - kinh
doanh, tự mua bán vật tư và sản phẩm.
Các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể sau nhiều năm bị cấm đoán, nay được
tự do sản xuất - kinh doanh trở thành người bạn đồng hành trong nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần. Sự phát triển và cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân,
doanh nghiệp hợp doanh trong nước với nước ngoài được thừa nhận.
Việt Nam từ một nền kinh tế khép kín đã và đang dần chuyển sang nền kinh
tế mở, có điều kiện tiếp xúc với thị trường thế giới, với kỹ thuật và công nghệ sản
xuất tiên tiến, với mô hình tổ chức và phương pháp quản lý mới, hiện đại. Mọi
thành phần kinh tế, mọi loại hình doanh nghiệp được tự do cạnh tranh và phát triển
trong môi trường mới.
Những thắng lợi bước đầu rất quan trọng đó của công cuộc đổi mới đất nước

nhọn của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, nhằm làm chủ thị trường trong
nước và cạnh tranh trên thị trường nước ngoài.
c)Về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần:
Chuyển một nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung với thành phần kinh tế
thuần nhất sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là một bước đổi mới quan
trọng. Chúng ta không đặt nền kinh tế hàng hoá đối lập với chủ nghĩa xã hội,
không coi kinh tế tư nhân, cá thể là kẻ thù của chủ nghĩa xã hội, mà coi là bạn
đồng hành của kinh tế Nhà nước trên con đường phát triển kinh tế của đất nước.
Với quan điểm đó, kinh tế tư nhân được phục hồi và phát triển, đã và đang có vai
trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Tỉ trọng kinh tế tư nhân trong từng
ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân đều tăng lên với mức độ khác nhau. Tỉ
trọng thành phần kinh tế quốc doanh giảm tương ứng.
Theo tài liệu của Tổng cục Thống kê năm 1988, tỉ trọng kinh tế quốc doanh
giảm xuống còn 30,5%, tỉ trọng kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên: 69,5%. Đến
năm 1991, kinh tế quốc doanh chiếm 37%, ngoài quốc doanh chiếm 63%. Thu
nhập quốc dân và tổng sản phẩm sản xuất ra của kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng tăng.
Năm 1994, đất nước bắt đầu thực hiện quá trình công nghiệp hoá -hiện đại
hoá với chiến lược phát triển các thành phần kinh tế hướng ra xuất khẩu. Chuyển
dịch cơ cấu các thành phần kinh tế phải phát triển thế mạnh tổng hợp của các
thành phần kinh tế, điều quan trọng là phải tạo ra môi trường tự do để tất cả các
thành phần kinh tế có thể xuất khẩu.
Để tạo nguồn tích luỹ trong nước và để phù hợp với trình độ khoa học - công
nghệ trong nước, nhiệm vụ đầu tiên chúng ta thực hiện đó xuất khẩu sản xuất thô
hay chúng ta “bóc” tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu. Hiện nay một số mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu là: dầu lửa, than đá, gạo.
Việt Nam còn phải nhập khẩu hầu hết những linh kiện điện tử và đồ điện dân
dụng từ nước ngoài. Vì vậy nhiệm vụ thứ hai đặt ra là sản xuất thay thế hàng nhập

Sau ba năm cấu trúc lại và chuyển đổi cơ chế nhìn chung năm 1991 khu vực
kinh tế Nhà nước có một số chuyển biến bước đầu. Các doanh nghiệp Nhà nước,
đặc biệt là các doanh nghiệp do Trung ương quản lý trong ngành công nghiệp,
thương nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện viễn thông đã từng bước thích nghi
với cơ chế thị trường nên đã đi dần vào thế ổn định.
Nhưng những điểm sáng này chưa nhiều. Sự khởi sắc của chúng vẫn chưa có
cơ sở chắc chắn và lâu bền. Số doanh nghiệp Nhà nước đang trong tình trạng phá
sản hoặc có nguy cơ phá sản, đình đốn vẫn chiếm quá nửa số doanh nghiệp Nhà
nước hiện có.
Kết quả điều tra gần đây cho thấy, trong quá trình vận hành cơ chế quản lý
mới, kinh tế Nhà nước cũng bộc lộ nhiều mặt yếu kém và hạn chế.
Một là, đại bộ phận doanh nghiệp Nhà nước còn gặp nhiều khó khăn như
thiếu vốn, thiếu thị trường, bị thua lỗ triền miên, phải “ăn dần” vào vốn. Hiện nay,
trong tổng số doanh nghiệp Nhà nước, chỉ khoảng 20 - 25% (chủ yếu là doanh
nghiệp Nhà nước trung ương) có lãi, 30 - 35% hoà vốn, còn lại khoảng 40% (chủ
yếu là doanh nghiệp địa phương) bị lỗ vốn. Số doanh nghiệp thua lỗ chiếm tới
38% số tài sản cố định và 33% số lao động. Tình hình phổ biến là thiếu việc làm,
thừa nhân lực, đặc biệt trong thương nghiệp, xây dựng, thừa khoảng 40 - 50% số
lao động hiện có. Hiện nay có khoảng 80 - 90% số doanh nghiệp Nhà nước quận, huyện, 50 - 60% số doanh nghiệp Nhà nước cấp tỉnh thuộc tất cả các ngành kinh tế
đang trong tình trạng đình đốn, không có khả năng hoạt động. Số doanh nghiệp
này hầu hết là quy mô bé, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, không đồng bộ, sản phẩm
làm ra kém chất lượng.
Hai là, nhìn chung các doanh nghiệp Nhà nước có hiệu quả thấp, mới huy
động khoảng 40 - 50% năng lực sản xuất. Hệ số sinh lời của vốn cố định trong
kinh tế Nhà nước bình quân chỉ đạt 7% năm, trong đó, ngành công nghiệp 3%,
giao thông vận tải 2%, thương nghiệp 2%. Hệ số sinh lời vốn lưu động cũng chỉ
đạt 11%/ năm, trong đó các ngành tương ứng đạt 10,6%, 9,4%, 9,5%. Mức tiêu

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, các loại hình hợp tác
này được Nhà nước bảo trợ áp dụng nhiều chính sách ưu tiên cung cấp tư liệu sản
xuất, nguyên vật liệu, giá cả, bảo tiêu. Đồng thời nó phải thực hiện các nhiệm vụ
sản xuất - kinh doanh theo các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao. Thành phần kinh
tế tập thể được xem là trợ thủ đắc lực, là bạn đồng hành của các doanh nghiệp Nhà
nước.
a)Kinh tế tập thể trong nông nghiệp:
Trước yêu cầu khách quan về việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp,
ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết 10 về đổi mới quản lý kinh tế
nông nghiệp nhằm giải quyết tốt hơn lợi ích của người lao động.
Với chính sách “khoán 10”: giao ruộng, giao đất cho người nông dân, làm
bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, quá trình sản xuất nói chung được khép kín trong từng
hộ. Theo kết quả điều tra năm 1990việc phân chia lợi ích trong hợp tác xã hợp lý
hơn lợi ích xã viên tăng lên (Nhà nước 12,8%, tập thể 16,54%, xã viên được nhận
70,59%, sau khi trừ chi phí còn được hưởng 44,65%). Đây là một trong những yếu
tố cơ bản đưa đến chỗ sản lượng lương thực bình quân thời kỳ 1989 - 1992 đạt
22,2 triệu tấm/năm, riêng năm 1992 đã đạt 24 triệu tấn, biến nước ta từ chỗ thiếu
lương thực triền miên đến đủ và có thừa.
ở một số nơi đã xuất hiện một số loại hình hợp tác xã kiểu mới và có số
người nông dân tự nguyện tham gia và góp cổ phần, lời ăn, lỗ chịu. Những loại
hình này đang phát huy tác dụng và làm ăn có hiệu quả.
Tuy nhiên khi hoàn cảnh và điều kiện thay đổi mô hình này đã bộc lộ những thiếu sót, yếu kém sau:
Thứ nhất: chúng ta tiến hành cải tạo nông nghiệp chủ ý nhiều đến thay đổi
chế độ sở hữu với tư liệu sản xuất, mà hầu như thiếu sự quan tâm đến việc tổ chức
lại sản xuất theo phương thức của nền sản xuất tiến bộ, và không coi trọng đúng
mức lợi ích cá nhân của người lao động, do đó người nông dân không gắn với
ruộng đất, bởi vì phần thu nhập không những quá ít ỏi mà còn mang tính bình quân

quán những nguyên tắc cơ bản của tổ chức kinh tế tập thể là tự nguyên, cùng có
lợi, quản lý dân chủ. Vừa qua, nhiều tổ chức hợp tác xã đã hoạt động cũng như mô
hình thương nghiệp quốc doanh.
 Phương thức hoạt động không bám sát mục tiêu và nhiệm vụ khí sáng lập,
nhiều tổ chức hợp tác xã dần dần trở thành tổ chức đi buôn kiếm lời cho mỗi nhóm
người.
 Vốn ít, không am hiểu thị trường nên hoạt động bị thua lỗ, mất vốn.
 Nhận thức của các cấp quản lý, nhất là chính quyền huyện, tỉnh, không rõ
đối với loại hình kinh tế này, hoặc can thiệp quá sâu vào hoạt động của nó, hoặc
sát nhập, giải thể một cách tuỳ tiện.
 Phát triển tổ chức tràn lan. ở những nơi hợp tác xã được xây dựng xuất
phát từ phong trào, chứ không vì nhu cầu người tiêu dùng: do vậy nhiều hợp tác xã
ở thành phố cho tư thương đội lốt kinh doan nhằm trốn thuế.
Tuy các hợp tác xã mua bán đã phân rã hàng loạt, song không thể vì vậy mà
phủ nhận hoàn toàn vai trò của loại hình này. Trước hết cần khẳng định, trong điều
kiện một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xây dựng như nước ta, thì hợp
tác xã là hình thức tổ chức kinh tế hợp lý nhất. Nó dễ tập hợp các hộ nông dân lại
để sản xuất, kinh doanh trên nguyên tắc bình đẳng tự nguyện, cùng có lợi. Trong
thời gian tới, cần từng bước củng cố loại hình hợp tác xã mua bán ở nước ta, nhất
là ở nông thôn.
Quan điểm đổi mới với hợp tác xã là:
 Trả lại cho hợp tác xã cái bản chất của mình - là tổ chức kinh tế tự
nguyên của nhân dân lao động, thực hiện chức năng mối dây liên kết những người
sản xuất nhỏ với thị trường.  Hợp tác xã hoạt động tự do, bình đẳng với các thành phần khác trên thị
trường. Nhưng do điều kiện và vị trí của mình, hợp tác xã cần chú trọng thành lập
mối liên hệ kinh tế với thương nghiệp quốc doanh.
 Quán triệt nguyên tắc quản lý của kinh tế tập thể.

trước mắt, nhanh chóng tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người thất nghiệp, nâng
cao mức sống cho dân cư đang quá nghèo, nhưng có nhược điểm là quy mô nhỏ,
vốn ít, công nghệ còn lạc hậu, khó làm giàu, ít có khả năng trở thành doanh nghiệp
lớn có vai trò làm tăng trưởng nền kinh tế đất nước chưa thể hoà nhập vào nền
kinh tế thị trường mở cửa, chưa có khả năng tiếp thị thị trường quốc tế nên không
có chính sách hỗ trợ của Chính phủ.
Nhà nước cũng nên có chính sách hỗ trợ cho kinh tế tư nhân, nếu ngành đó,
doanh nghiệp đó góp phần tăng trưởng kinh tế. Việc cho tư nhân vay vốn chỉ ở
mức 5-10% tổng số vốn cho vay là con số chưa thu phục được nhân tâm. Sự phân
biệt trong lãi suất ngân hàng cũng vậy. Chính sách đúng làm cho dân yêu tâm, tin
tưởng, thấy có lợi thì họ sẽ cố gắng sản xuất làm giầu cho chính mình và cho đất
nước.
Tuyệt đại bộ phận các nước phát triển kinh tế thị trường đều coi sở hữu tư
nhân là một động lực chủ yếu để phát triển nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường ở
các nước này được cấu trúc từ hai khu vực chủ yếu: kinh tế tư nhân và kinh tế Nhà
nước. Quan hệ của các khu vực kinh tế trong cơ cấu nền kinh tế thì trường là chấp
thuận bình đẳng với tư cách là các lực lượng kinh tế tham gia thị trường, nhằm giải
quyết các vấn đề cơ bản của nền kinh tế: sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai.
Định hướng hoạt động của nền kinh tế thị trường là sự phối hợp một cách có hiệu
quả nhất hoạt động của các khu vực kinh tế. Khu vực kinh tế Nhà nước không thể
hoạt động có hiệu quả nếu đặt nó biệt lập và đối kháng theo kiểu “ai thắng ai” với
khu vực kinh tế tư nhân và ngược lại, khu vực kinh tế tư nhân không thể nào phát
huy tốt hiệu năng nếu nó không được khu vực kinh tế Nhà nước làm “giá đỡ” tạo
tiền đề và môi trường.
Tóm lại, vic đánh giá và phát triển thành phần kinh tế tư nhân trên quan điểm
toán điệp của chủ nghĩa Mác- Lênin, mà trước hết là căn cứ vào sự đóng góp của
khu vực này đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế và mối tác động qua lại với khu vực kinh tế khác. Đánh giá càng đúng đắn và toàn diện, Nhà nước càng có cơ sở

Maialixia. Thái Lan
Vì sao các nước này đã vươn lên trở thành nước công nghiệp mới phát triển
ở châu á, có nền công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu cao cấp, hệ thống dịch vụ
thương mại, tài chính, có sức cạnh tranh vào bậc mạnh nhất trên thế giới? Nhưng
nguyên nhân đưa đến sự thành công của họ là những kinh nghiệm theo tôi nghĩ
chúng ta nên tham khảo và học tập.
Về nguyên nhân khách quan:
Sự thành công của các nước NIC trong khu vực đều bắt nguồn từ một số yếu
tổ quốc tế.
Xingapo có vị trí địa lý kinh tế và chính trị chiến lược ở Đông Nam á nên
không ngừng được các cường quốc tư bản chủ nghĩa ủng hộ và giúp đỡ. Xét về
mọi khía cạnh như xây dựng kết cấu hạ tầng quân sự hay sản xuất, về đầu tư tư
bản hay chuyển giao công nghệ, đào tạo cán bộ nói chung các nước phương Tây,
trước hết là Mỹ và Nhật. Nếu như Đài Loan, Nam Triều Tiên được hướng nhiều
hơn về sự viện trợ không hoàn lại của Mỹ và các khoản bồi thường của Nhật Bản,
thì Xingapo được hưởng các cơ sở quân sự của Anh, sau khi Anh rút khỏi nước
này vào năm 1971.
Sự bành trướng kinh tế của Nhật Bản xuống khu vực Đông Nam á cũng là
một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển của Xingapo, đặc
biệt là đối với sự thay đổi công nghệ và sản xuất các mặt hàng cao cấp dành cho
xuất khẩu.Về nguyên nhân chủ quan:
Yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự thành công của nước này là ở chỗ

Trích đoạn Một số biện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status