Xác định hệ số phát thải của một số chất ô nhiễm không khí do đốt củi - Pdf 13

Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trường Đại học Bách khoa Hà
nội
***
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
______________
NHIỆM VỤ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Họ và tên: Lê Thị Ngọc Dung Số hiệu sinh viên: CNMT
Lớp: Công nghệ môi trường_Quy Nhơn Khoá: 50
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
Ngành: Công nghệ môi trường
1.Đầu đề thiết kế
Xác định hệ số phát thải của một số chất ô nhiễm không khí do đốt củi
2. Các số liệu ban đầu
- Phương pháp 1 của Cục bảo vệ môi trường Mỹ
- Các tài liệu hướng dẫn sử dụng thiết bị
3. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán
- Tổng quan về :
+ Ô nhiễm môi trường do đốt củi
+ Phương pháp xác định hệ số phát thải cho nguồn tĩnh
- Thực nghiệm xác định hệ số phát thải
- Tính toán, kết quả
4. Các bản vẽ đồ thị (ghi rõ các loại bản vẽ và kích thước các loại bản vẽ):
5. Cán bộ hướng dẫn
TS. Nghiêm Trung Dũng, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường
6. Ngày giao nhiệm vụ đồ án : 12/03/2010
7. Ngày hoàn thành đồ án :17/06/2010

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551 3
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ 5
ĐẶT VẤN ĐỀ 6
CHƯƠNG I. Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ DO ĐỐT CỦI 7
CHƯƠNG II. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HỆ SỐ PHÁT THẢI 16
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM 28
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
đktc : điều kiện tiêu chuẩn
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551 4
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
US. EPA : United States Evironmental protection Agency
BĐ : Bạch đàn
CX : củi xoài
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1. 1. Sử dụng củi làm nhiên liệu đun nấu
Hình 1. 2. Lượng nhiên liệu củi tiêu thụ ở Việt Nam
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551 5
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Hình 2. 1. Vị trí mặt phẳng lấy mẫu
Hình 2. 2. Giản đồ để xác định số điểm lấy mẫu
Hình 2. 3. Khoảng các điểm lấy mẫu đến thành ống dẫn (%d)

cần có một cơ sở đầy đủ, đáng tin cậy nhằm phục vụ cho việc xây dựng các tiêu
chuẩn, quy định phát thải cụ thể.
Xuất phát từ thực tế đó, đề tài tốt nghiệp với nội dung “Xác định hệ số phát
thải của một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi” được xây dựng nhằm
hướng tới mục tiêu xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí cho các
loại củi đang sử dụng phổ biến trong nguồn dân sinh hiện nay.
CHƯƠNG I. Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ DO ĐỐT CỦI
1. Vấn đề sử dụng nguồn nhiên liệu củi
Củi là một loại nhiên liệu được sử
dụng rỗng rãi trong đun nấu và sinh hoạt
của người dân. Đây là nguồn nhiên liệu
cổ xưa, được con người khai thác và sử
dụng từ khi bắt đầu biết nấu chín thức
ăn và sưởi ấm [1].
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551 7
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Hình 1. 3. Sử dụng củi làm nhiên liệu
đun nấu
Việt Nam có gần 80% dân số sống ở nông thôn, đây là khu vực mà các nguồn
năng lượng hiện đại rất ít phát triển do yêu cầu cao về công nghệ và vốn đầu tư,
trong khi khả năng đáp ứng đối với cả hai thứ đó của ta còn nhiều hạn chế. Vì vậy,
năng lượng truyền thống từ các nhiên liệu sinh khối như rơm, củi, đang là một
trong những nguồn chiếm nhiều ưu thế nhất [2]. Theo thống kê của Viện Năng
lượng, vào năm 1992, Việt Nam tiêu thụ khoảng 12900 ktoe sinh khối, trong đó củi
chiếm khoảng 78%, chủ yếu sử dụng trong các lĩnh vực phục vụ dân sinh (đặc biệt
là cho đun nấu). Số liệu về lượng củi tiêu thụ qua các năm ở nước ta được thể hiện
cụ thể như sau:
Nguồn [2]
Hình 1. 4. Lượng nhiên liệu củi tiêu thụ ở Việt Nam

mòn cao. SO
2
sinh ra trong quá trình đốt do cháy lưu huỳnh chứa trong nhiên liệu:
S + O
2
 SO
2
2.1.2. Tác hại của SO
2

Trong khí quyển, SO
2
dễ dàng bị oxy hóa tạo thành SO
3
. Sau đó, SO
3
tác dụng
với hơi nước trong môi trường không khí ẩm ướt, biến thành axit sunfuric hoặc
muối sunfat:
SO
2
+ O
2
= SO
3
SO
3
+ H
2
O = H

2
bị han gỉ rất nhanh.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551 9
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
2.2. Cácbon mônôxít (CO)
Cácbon mônôxít là một chất khí không màu, không mùi, bắt cháy và có độc
tính cao. Cácbon mônôxít xuất hiện trong ngọn lửa khi hỗn hợp nhiên liệu, không
khí chưa hoàn thiện (không đều); hoặc do thiếu không khí, [5].
2.2.1. Sự phát sinh CO
Trong quá trình đốt, CO sinh ra do cácbon và các hợp chất cácbon chứa trong
nhiên liệu cháy không hoàn toàn theo phản ứng sau [5]:
C
nhiên liệu
+ O
2
 CO
Ngoài ra, một phần nhỏ CO cũng được hình thành khi cácbon nhiên liệu phản
ứng với hơi nước trong không khí [5]:
C
nhiên liệu
+ H
2
O  CO + H
2
Hơn một nửa lượng CO tồn tại trong khí quyển có nguồn gốc từ động cơ đốt
trong do con người sử dụng các phương tiên giao thông cơ giới sinh ra. Ngoài ra,
CO cũng được sản xuất với một lượng không nhỏ bởi các quá trình đốt cháy nhiên
liệu có chứa cácbon như xăng, dầu, than, củi,… trong lò đốt, hay do cháy rừng, do
sản xuất công nghiệp, v.v [3].

với myoglobin của cơ tim. Nếu bị hít phải một lượng quá lớn CO sẽ dẫn tới thương
tổn do giảm ôxy trong máu hay tổn thương hệ thần kinh cũng như có thể gây tử
vong. Mônôxít cácbon trong không khí chỉ với nồng độ khoảng 0,1% cũng có thể là
nguy hiểm đến tính mạng. Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác
bất thần, nhức đầu, buồn nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê. Nếu ngộ độc CO khi
đang ngủ hoặc đang uống rượu say thì người bị ngộ độc sẽ hôn mê từ từ, ngưng thở
và tử vong.
Ngoài ra, CO còn được xem là một khí nhà kính gián tiếp, do nó có khả năng
bị biến đổi thành CO
2
, một chất khí nhà kính rất mạnh trong bầu khí quyển:
Mônôxít cácbon có hiệu ứng bức xạ cưỡng bức gián tiếp bằng sự nâng cao nồng độ
của mêtan và ôzôn tầng đối lưu nhờ các phản ứng hóa học với các thành phần khác
của khí quyển (ví dụ gốc hyđrôxyl - OH). Và thông qua các quá trình tự nhiên, cuối
cùng nó sẽ bị ôxi hóa thành điôxícácbon:
CO + O
3
 CO
2
+ O
2.3. Các nitơ ôxít (NO
x
) [3,7]
2.3.1. Sự phát sinh NO
x
NO
x
sinh ra trong quá trình cháy do oxy hóa nitơ có trong nhiên liệu và
không khí. Lượng NO
x

Trong quá trình đốt nhiên liệu, NO
x
được hình thành chủ yếu thông qua các
phản ứng hóa học sau : 1/ N
2
+ O
2
 2NO
2/ NO + 0,5 O
2
 NO
2
Cả hai phản ứng trên đều là những phản ứng hóa học thuận nghịch vì thế
chúng sẽ đạt đến trạng thái cân bằng nhất định tương ứng với một điều kiện nhất
định. Trạng thái cân bằng này phụ thuộc vào nồng độ, áp suất và đặc biệt là nhiệt
độ. Ta có bảng thể hiện trạng thái cân bằng nồng độ của NO và NO
2
trong khí thải
với hỗn hợp đốt ban đầu có 78% N
2
: 21% O
2
ở các nhiệt độ khác nhau như sau:
Bảng 1. 3. Nồng độ NO và NO
2
trong khí thải ở các nhiệt độ khác nhau
Nhiệt độ (
0
K) NO (ppm) NO
2

2
và O
2
bị phân ly ở nhiệt độ cao :
N
2
 2N
O
2
 2O
- Tiếp đó, diễn ra phản ứng :
N
2
+ O  NO + N
N + O
2
 NO + O
NO nhiệt chỉ hình thành khi nhiên liệu được gia nhiệt trực tiếp ở nhiệt độ
cao, và nhiệt độ càng cao thì NO nhiệt càng chiếm ưu thế.
• NO tức thì (Prompt NO)
NO được hình thành rất nhanh chóng thông qua sự tương tác giữa N
2
và O
2
với
một số hydrocacbon hoạt động (sinh ra từ nhiên liệu) trong những vùng giàu nhiên
liệu của ngọn lửa mà không phải do sự tác dụng trực tiếp giữa N
2
và O
2

+ H
2
O
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
13
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Như vậy, để hình thành NO tức thì, cần phải có hợp chất hydrocacbon làm
trung gian, và vùng nào càng giàu nhiên liệu thì càng sẽ càng dễ tạo ra NO tức thì.
• NO nhiên liệu (Fuel NO)
Được hình thành do sự biến đổi một số hợp chất chứa nitơ sẵn có trong nhiên
liệu (như than đá, dầu mỏ,…).
Đầu tiên, trong ngọn lửa, nitơ trong nhiên liệu sẽ được chuyển thành HCN:
CH + N
2(nhiên liệu)
 HCN + N
Tiếp đó, HCN chuyển thành NH hoặc NH2. Đến lượt mình, các gốc NH và
NH2 này sẽ phản ứng với O2 để tạo thành NO và H2O:
2NH + O
2
 2NO + H
2
O
NH
2
+ O
2
 NO + H
2
O

lưu và sau đó tham gia đáng kể vào sự suy giảm của tầng ôzôn.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
14
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
2.4. Bụi (Particulate matter - PM) [3,8]
2.4.1. Khái niệm
Bụi là một thuật ngữ dung để chỉ các hạt rắn và giọt lỏng lơ lửng trong môi
trường không khí. Bụi trong khí quyển rất đa dạng về thành phần vật lý, thành phần
hóa học và kích thước hạt. Nói chung kích cỡ của chúng vào khoảng 0.002 đến
500µm. Tuy nhiên phần lớn các hạt lơ lửng đều có kích thước nhỏ hơn 100µm bởi
vì các hạt lớn hơn sẽ bị lắng xuống nhanh bởi trọng lực.
2.4.2. Tác hại của bụi
- Đối với sức khỏe con người :
Bụi có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, đường tiêu hóa và qua
da nhưng chủ yếu là qua đường hô hấp. Sau khi xâm nhập vào hệ hô hấp các hạt bụi
có thể xâm nhập vào mao mạch máu của hệ tuần hoàn. Bụi gây ra một số bệnh cho
con người như:
o Viêm mũi, viêm xoang, viêm họng: gây ra do sự lưu lại của các hạt bụi
có kích thước lớn ở trên khoang hô hấp trên gây ra các hiện tượng sổ
mũi, ho kéo dài.
o Dị ứng: Chủ yếu là do tiếp xúc với bụi có nguồn gốc thảo mộc hoặc vi
sinh vật, bụi hữu cơ tổng hợp….
o Bệnh nhiễm khuẩn: Do hít phải các hạt bụi có chứa thành phần nấm,
virut hoặc các mầm bệnh…
o Bệnh bụi phổi
o Bệnh hen phế quản
Ngoài ra, nếu trong bầu không khí có chứa quá nhiều bụi sẽ gây cản trở tầm
nhìn, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của tất cả mọi người.
- Đối với động vật :

biểu diễn dưới dạng lượng chất ô nhiễm trên một đơn vị khối lượng, thể tích, quãng
đường hoặc thời gian, phát sinh ra nó (ví dụ như số gam bụi sinh ra khi đốt cháy
hoàn toàn 1kg củi, hay số mg NO
x
phát thải khi 1 chiếc xe chạy được 1km,…) [9].
Trong hầu hết các trường hợp, những hệ số phát thải này chỉ đơn thuần là
những giá trị trung bình của các dữ liệu sẵn có với chất lượng chấp nhận được, và
chúng được tính toán để đại diện cho nguồn thải trong thời gian dài đối với một số
điều kiện nào đó. Thông thường, các dữ liệu sẵn có này không đủ để phản ánh mức
ảnh hưởng giữa các thông số khác nhau trong quá trình hoạt động, ví dụ như tương
quan giữa nhiệt độ và nồng độ các chất phản ứng. Tuy nhiên, trong một số ít các
trường hợp, chẳng hạn như xác định mức độ phát thải từ các thùng chứa dầu hỏa,
thì có thể dựa trên phương pháp kinh nghiệm (sử dụng các mô hình phát thải) để
biết được mối quan hệ giữa mức phát thải với các biến số khác như đường kính
thùng, nhiệt độ chất lỏng hay tốc độ gió. Các công thức tính hệ số phát thải có xét
đến ảnh hưởng của các biến số, nếu các thông tin về các biến số đó là chính xác, thì
thường mang ý nghĩa thức tế hơn là những công thức không dựa trên các biến số đó
[9].
Đối với nguồn tĩnh, hệ số phát thải các chất ô nhiễm trong quá trình đốt nhiên
liệu thường là hệ số phát thải theo khối lượng (mass – based emission factor), tính
bằng lượng chất ô nhiễm sinh ra (g) trên khối lượng nhiên liệu bị đốt cháy hoàn
toàn (kg) theo công thức [10]:
Trong đó: EF
i
: Hệ số phát thải của chất i, (g/kg)
M : Khối lượng nhiên liệu cháy, (kg)
E
i
: Lượng chất i sinh ra, (g)
2. Ứng dụng và hạn chế của hệ phát thải [9]

không khí. Trong đó, sử dụng hệ số phát thải trong khoảng thời gian dài rất thích
hợp về mặt lợi ích kinh tế để thực hiện việc kiểm kê đó cho một vùng rộng lớn. Tuy
nhiên, hệ số phát thải chỉ đại diện cho tốc độ phát thải trung bình của một loại
nguồn thải, mà không phải là giới hạn hay tiêu chuẩn cho bất kỳ một nguồn riêng
biệt nào. Chính vì vậy, những kết quả kiểm tra từ việc quan trắc một nguồn thải sẽ
phản ánh được mức độ phát thải một cách thực tế hơn.
3. Phương pháp xác định hệ số phát thải
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
18
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Đối với việc quan trắc nguồn thải, để xác định hệ số phát thải các chất ô nhiễm
trong quá trình đốt nhiên liệu, cần xác định lượng chất ô nhiễm sinh ra trên lượng
nhiên liệu đã đã cháy hết. Và tùy từng loại chất ô nhiễm mà ta có thể áp dụng các
phương pháp khác nhau để xác định như lấy mẫu hay đo trực tiếp.
3.1. Xác định lượng bụi [9]
Để xác định lượng bụi trong ống khói, phải tiến hành lấy mẫu. Mẫu được lấy
phải mang tính đại diện, do đó cần chọn vị trí nào để vừa phản ánh nồng độ bụi
trong ống khói, vừa phản ánh sự phân bố kích thước hạt trong đó, và quá trình lấy
mẫu yêu cầu đảm bảo Isokinetic (lấy mẫu đẳng khí động).
3.1.1. Vị trí lấy mẫu
Về nguyên tắc, chỗ nào càng có ít chuyển động rối về mặt khí động học thì ở
đó bụi phân bố càng ổn định. Do đó, nên chọn điểm lấy mẫu trên đoạn ống thẳng và
vị trí lấy mẫu phải cách xa các van khóa, cút, ngoặt, khuỷu uốn…
Ưu tiên chọn đoạn ống đứng để lấy mẫu vì đối với ống nằm ngang, nồng độ
bụi ở phần đáy ống bao giờ cũng lớn hơn so với bên trên do sự lắng đọng, nên trong
ống đứng bụi phân bố theo mặt cắt tiết diện sẽ đều đặn hơn. Đoạn ống lấy mẫu có
tiết diện tròn thì bụi phân bố ổn định hơn hơn ống tiết diện vuông, ống tiết diện
vuông bụi ổn định hơn ống tiết diện chữ nhật.
Ta kí hiệu:

<0,61m (đường kính cho lỗ hút mẫu khoảng 1,3cm)
 Trong trường hợp vị trí lấy mẫu không thỏa mãn điều kiện trên thì số điểm
cần lấy mẫu được xác định như sau:
Hình 2. 6. Giản đồ để xác định số điểm lấy mẫu
3.1.2. Phân bố các điểm lấy mẫu trên tiết diện ống
• Đối với ống dẫn tiết diện tròn: người ta chia mặt phẳng lấy mẫu thành
những đường tròn đồng tâm, và các điểm lấy mẫu được chia đều trên 2 đường kính.
Khoảng cách từ mỗi điểm lấy mẫu đến thành ống khói xác định tùy vào số điểm lấy
mẫu được chọn.
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
20
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Ví dụ trường hợp có 12 điểm lấy mẫu, phân bố các điểm như sau:
Hình 2. 7
Khoảng các điểm lấy
mẫu đến thành ống
dẫn (%d)
• Đối với ống dẫn tiết chữ nhật, các điểm lấy mẫu được chia đều trong
mặt phẳng tiết diện ống:
9 3 × 3
12 3 × 4
16 4 × 4
20 4 × 5
25 5 × 5
30 4 × 4
36 5 × 6
42 6 × 7
49 7 × 7
Ví dụ trường hợp có 12 điểm lấy mẫu, phân bố các điểm như sau:

o Nếu v
h
< v
k
: một phần dòng khí sẽ đi lệch ra ngoài giới hạn của miệng
ống hút, khi đó một số hạt bụi có kích thước lớn do có quán tính lớn sẽ giữ hướng
chuyển động của mình và lọt vào ống hút mẫu, như vậy mẫu khí lấy được sẽ có số
hạt bụi cỡ lớn vượt cao so với thực tế.
o Nếu v
h
> v
k
: thì xảy ra hiện tượng ngược lại, tức là dòng khí bị cuốn
mạnh vào ống hút mẫu và một số hạt bụi cỡ lớn không được hút vào ống làm cho số
lượng hạt bụi cỡ lớn đo được ít hơn so với thực tế.
Để đảm bảo v
h
= v
k
, trong quá trình hút mẫu ta sử dụng ống pitot đo vận
tốc dòng khí v
k
rồi điểu chỉnh vận tốc hút bằng với vận tốc dòng khí.
- Thành của đầu lấy mẫu càng nhẵn và mỏng thì càng tốt.
- Đường kính đầu lỗ lấy mẫu so với đường kính ống khói phải rất nhỏ.
Mẫu sau khi lấy được đưa đi phân tích để xác định khối lượng bụi sinh ra.
3.2. Các chất ô nhiễm dạng khí [3,7]
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
22
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi

nồng độ ô nhiễm một cách liên tục theo thời gian.
3.2.1.2. Phương pháp hấp phụ
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) ĐHBKHN. Tel: (84.4) 8681686 - Fax: (84.4) 8693551
23
Xác định hệ số phát thải một số chất ô nhiễm không khí sinh ra do đốt củi
Lê Thị Ngọc Dung – Lớp CNMT K50 QN
Nguyên tắc của phương pháp là sử dụng các chất hấp phụ thích hợp để hấp
phụ chất khí ô nhiễm cần quan tâm.
Ví dụ: Dùng XAD-2 để hấp phụ PAHs, hay dùng Silicagen để hấp phụ
VOC,
- Có hai loại hấp phụ chính:
o Hấp phụ vật lý: chủ yếu là do lực hút phân tử Vander Waals.
o Hấp phụ hóa học: chủ yếu là do các lực hút hóa trị.
- Một số các yêu cầu đối với chất hấp phụ:
o Chất hấp phụ phải có bề mặt riêng lớn.
o Bền năng lực hấp phụ, nghĩa là kéo dài thời gian làm việc.
o Có các mao quản đủ lớn để các phân tử hấp phụ đến được bề mặt,
nhưng cũng cần đủ nhỏ để loại các phân tử xâm nhập có tính chọn lọc….
Một số chất hấp phụ thường dùng để lấy mẫu khí ô nhiễm: than hoạt tính,
Silicagel, nhôm oxyt hoạt tính…
Quá trình hấp phụ bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố nhiệt độ. Nếu nhiệt độ khí
thải quá cao sẽ làm giảm hoạt độ hấp phụ, tăng quá trình giải hấp.
Phương pháp này cũng được sử dụng nhiều trong việc lấy mẫu khí thải. Ưu
điểm của phương pháp là chi phí thấp, có thể áp dụng cho nhiều chất, đặc biết là đối
với các chất muốn thu hồi. Tuy nhiên, so với phương pháp hấp thụ thì phương pháp
này đòi hỏi kỹ thuật nhiều hơn, sau hấp phụ thường phải tiến hành giải hấp rồi mới
phân tích được các chất ô nhiễm cần quan tâm.
3.2.1.3. Phương pháp ngưng tụ
Nguyên tắc để lấy mẫu khí dựa theo phương pháp này là tiến hành hạ nhiệt
độ dòng khí xuống dưới điểm sôi của chất khí ô nhiễm cần quan tâm. Khi đó, khí sẽ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status