Nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật rừng Thông ba lá ở Lâm Đồng - Pdf 13


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
BÁO CÁO ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT RỪNG
THÔNG BA LÁ (PINUS KESIYA) MỌC TỰ NHIÊN Ở LÂM
ĐỒNG VÀ VÙNG LÂN CẬN MÃ ĐỀ TÀI B 2009 – 14 – 30
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS. NGUYỄN DUY CHÍNH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN:-TRẦN VĂN TIẾN, Trung tâm Nghiên cứu Lâm Sinh Lâm Đồng
-HUỲNH THỊ NGỌC ÁNH, Trường Đại học Phú Yên
-VƯƠNG THÚC LAN, Trường Đại học Đà Lạt
-NGUYỄN VĂN NGỌC, Trường Đại học Đà Lạt
-HUỲNH THỊ BÌNH, Trường Đại học Đà Lạt

Chamaephytes (27,46), Therophytes (27,05), Lianophanerophytes (6,15),
Cryptophytes (6,65), Epiphytes (4,51).
Từ khóa: Ô xếp chồng, ô tiêu chuẩn, đa dạng sinh học, thông ba lá, chỉ số
Margalef, thành phần loài, dạng sống, Lâm Đồng.

3
SUMMANY
The paper present a method of using superposed plots to identify the most
suitable area of perquadrates for the research into the biodiversity of the natural three –
leaved Pine forests distributed among Lam Dong and its subareas. The sizes of the
superposed plots are: 10m x 10m, 15m x 15m, 20m x 20m, 25m x 25m, 30m x 30m,
35m x 35m, 40m x 40m. The 35m x 35m sized perquadrates are suggeted to be the
most appropriate and most pratical for researchs of plant biodiversity, especially thoes
of the three – leaved pine forests (Pinus kesiya) naturally grown in Lam Dong and the
its subareas with the altitude from 800m to 2000m. In our researches, the total number
of perquadrates is 20. Each perquadrate has a record of its own indices including:
geological co-ordinate (latitude and longitude), alttitude, gradient, klinogeotropicsm,
species composition, life form, number of individuals, Margalef index. From the
results we have specific index of biodiversity for natural three-leaved pine forests,
species composition and diversity of the life form in the forests. The everage Margalef
index (D

phản ánh khái quát nhất đa dạng sinh học thực vật của kiểu rừng thông ba lá ở Lâm Đồng.

5
PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. SƠ LƯỢC VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA LÂM ĐỒNG
1. Vị trí địa lý.
Lâm Đồng là tỉnh miền núi nằm ở phía Nam Tây Nguyên, là đầu nguồn của 4 hệ thống
sông lớn:
Sông Đồng Nai (Đồng Nai)
Sê – rê – pok (Đắc Lắk)
Sông Lũy (Bình Thuận)
Sông Cái (Ninh Thuận)
Lâm Đồng có vị trí địa lý như sau:
Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk
Phía Tây Bắc giáp tỉnh Đắk Nông
Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước
Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận
Phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa
Lâm Đồng nằm giữa các tọa độ địa lý:
Từ 11
0
12
/
47
//
đến 12
0
19
/
01

6
+ Địa hình thung lũng:
Gồm các bề mặt tương đối bằng phẳng, ít dốc, có nguồn gốc tích tụ thung lũng giữa
núi hoặc các bồi tích sông suối hiện đại. Đất ở đây tùy thuộc vào nguồn gốc mẫu thổ và mức
độ bảo hòa nước mà được xếp vào các loại đất phù sa, dốc tụ hoặc đất gley và hầu hết có khả
năng thích hợp cao cho sự phát triển của nhiều loại cây dạng hòa thảo, cây một năm hay cây
tái sinh chồi lâu năm.
+ Địa hình đồi núi thấp đến trung bình:
Đây là kiểu địa hình có các dãi đồi núi ít dốc, thường thì dốc có độ dốc nhỏ dưới 20
0

và có độ cao nhỏ dưới 800m đến 1.000m. Ở dạng địa hình này phần nhiều là các đồi núi có
nguồn gốc phun trào bazan với nền đất nâu đỏ hoặc nâu vàng trên đá mẹ bazan.
+ Địa hình núi cao:
Đây là kiểu địa hình ở các khu vực núi có độ cao trên 800m, thường có độ dốc mạnh
trên 20
0
, là kiểu địa hình chia cắt mạnh. Chủ yếu là các khu vực có nguồn gốc xâm nhập Jura-
Creta (Granit, Dacit hoặc Andezit), hay các trầm tích Mesozoi (phiến sa, phiến sét). Ở dạng
địa hình này phổ biến là các loại đất vàng đỏ, đỏ vàng hay đất xám trên các đá magma acit
trung tính hoặc đá phiến. Đất ở đây phần lớn là có tầng mỏng. Chính do có độ dốc lớn, có
nhiều vùng độ dốc trên 30
0
, lại có tầng đất mỏng, cho nên ở địa hình núi cao chỉ thích hợp cho
cây trồng lâm nghiệp, cây gỗ và phần lớn diện tích ở đây có rừng che phủ.
3. Khí hậu thủy văn.
Tỉnh Lâm Đồng có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên như phần trên đã đề
cập, tỉnh Lâm Đồng có diện tích lớn, được chia thành nhiều kiểu địa hình với các đai độ cao
rất chênh lệch nhau từ 100 đế
n 2.200m. Ở đây có 2 Cao Nguyên lớn là Cao nguyên

C, còn ở Đà Lạt là 29,4
0
C.
Nhiệt độ tối thấp ở Đà Lạt là 4,9
0
C, còn ở Bảo Lộc là 5,5
0
C.
Nhìn chung nhiệt độ chênh lệch nhau giữa các tháng ở từng vùng là không nhiều,
nhưng chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lại cao, đặc biệt là ở Cao nguyên Langbiang, chế độ
nhiệt cũng thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại thực vật, đặc biệt chế độ nhiệt ở 2 Cao
nguyên: Cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và Cao nguyên Langbiang rất phù hợp cho sự phát
triển các loài cây lá kim, trong đó có loài thông ba lá (Pinus Kesiya).
c) Chế độ mưa
Lượng mưa trung bình năm ở Đa Tẻh là 3.790mm, ở Bảo Lộc là 2.722mm, ở Di Linh
là 1.721mm, ở Đà Lạt là 1 1.821mm, ở Lạc Dương là 1.811mm.
Số ngày mưa trung bình ở Bảo Lộc là 191 ngày, ở Liên Khương là 160 ngày, còn ở Đà
Lạt là 167 ngày.
Nhìn chung chế độ mưa cho phép ở Lâm Đồng phát triển nhiều kiểu thảm thực vật của
vùng mưa nhiệt đới.
Số ngày mưa các tháng 7, 8, 9, dao động từ 25 - 28 ngày. Các tháng 1, 2 số ngày mưa
vượt không quá 4 ngày, các tháng còn lại số ngày mưa trung bình vào khoảng 4 đến 20 ngày.
Mùa mưa tập trung nhiều từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4.
Trong mùa khô, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Lâm Đồng mưa rất ít, lượng mưa
chỉ chiếm 10 – 15% lượng mưa cả năm. Chính đặc điểm này đã tạo điều kiện cho sự phát triển
kiểu rừng thưa cây lá kim có loài thông ba lá (Pinus Kesiya) là ưu thế.
d) Độ ẩm không khí
Do đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình mà độ ẩm ở các vùng khác nhau trong tỉnh
Lâm Đồng khác nhau.
Độ ẩm tương đối của không khí vào mùa mưa khá cao (80 – 90%), vào các tháng 6,

, vào mùa mưa lũ thường từ
tháng 7 đến tháng 11, lưu lượng ở một số sông suối chính ứng với tần suất 1% lên đến 1.000 –
5.000m
3
/s, gây lũ lụt nghiêm trọng.
Trong khi đó vào mùa kiệt, từ tháng 1 đến tháng 3, modul dòng chảy kiệt chỉ đạt 0,25
đến 9,1/s/km
2
, hạn chế đến khả năng cung cấp nước cho thực vật.
Lượng dòng chảy trung bình mỗi năm ở mỗi khu vực tùy thuộc vào lưu vực, lượng
mưa, địa hình và địa chất, có sự khác biệt rõ rệt.
Vùng Bảo Lộc – Đạ Hoai 39 – 40/s/ km
2

Vùng Đà Lạt – Đức Trọng 23 – 28/s/ km
2
Vùng Đơn Dương 23 – 24/s/ km
2

Lượng dòng chảy kiệt do còn phù thuộc vào mức độ độ che phủ của thảm thực vật.
Lượng dòng chảy sẽ ảnh hưởng đến tình hình xói mòn. Lâm Đồng là một tỉnh miền núi, có
địa hình khá phức tạp, địa hình nhiều nơi chia cắt mạnh, độ dốc lớn, vì vậy đất dễ bị xói mòn,
rửa trôi, nhất là các vùng không có rừng che phủ. Hiện tượng xói mòn phổ biến là xói mòn
khe, rãnh trên diện tích hẹp.

9
Lũ lụt thường xảy ra vùng hạ lưu sông Đồng Nai gây úng lâu dài cho các vùng Cát
Tiên, Đạ Hoai, Đạ Tẻh, nơi có địa hình rất thấp trũng.
4. Thổ nhưỡng
Tỉnh Lâm Đồng có diện tích 977.219 ha với 8 nhóm đất như sau:

+ Nhóm đất xám (Acrsols)
Đây là nhóm đất lớn nhất, chiếm đến 2/3 diện tích đất toàn tỉnh Lâm Đồng, phân bố ở
hầu hết các huyện trong tỉnh, từ địa hình núi cao đến địa hình gò đồi thấp trũng và thung lũng,
trên các loại đá mẹ.
Nhóm đất này gồm nhiều loại đất như: Đất xám đỏ vàng, đất xám có tầng thảm mục,
đất xám giàu mùn tích Al, đất xám glây, đất xám nghèo bazơ, đất xám rất chua đỏ vàng, đất
xám tầng mặt giàu mùn, đất xám tầng mỏng.
+ Nhóm đất mùn trên núi cao (Alisols)
Nhóm đất này gặp trên núi cao trên 2.000m vì vậy diện tích nhỏ. Với đặc trưng được
hình thành trong điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao quanh năm.
+ Nhóm đất bị xói mòn mạnh (Leptosols)
Nhóm đất này đặc trưng là độ dày tầng đất rất mỏng, đất mịn, chủ yếu ở vùng gò đồi,
diện tích rất nhỏ.
5. Đất rừng và rừng
Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Lâm Đồng từ 1.017.260 ha vào năm 1992, nay điều chỉnh
còn 977.219 ha (Theo niên giám thống kê năm 2005 của tỉnh Lâm Đồng). Như vậy diện tích
giảm 40.041 ha, nguyên nhân là do thực hiện chỉ thị 364/CP ngày 06/01/1991 của Chính phủ
và Công văn số 341/TCCP – ĐP ngày 03/10/1996 của Ban tổ chức chính phủ về việc công
nhận hồ sơ bản đồ địa giới hành chính các cấp tỉnh Lâm Đồng, theo đó đã điều chỉnh một số
diện tích đất sang cho tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận.
Diện tích đất có rừng của tỉnh Lâm Đồng là 607.280 ha, trong đó diện tích rừng tự
nhiên là 557.857ha và diện tích rừng trồng là 49.423 ha.
Như trên đã đề cập, do điều kiện tự nhiên, đặc điểm về địa hình phong phú, chế độ khí
hậu, thủy văn đa hình thể đã cho phép ở Lâm Đồng phát triển nhiều kiểu thảm thực vật khác
nhau với nhiều kiểu rừng khác nhau:
Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới.
Theo Richard thì những vùng lãnh thổ nằm ở vành đai nhiệt đới thường có lượng mưa
cao, và khi lượng mưa vượt quá giới hạn 1.500mm trong năm, sẽ cho phép các thực vật phát
triển mạnh và tạo ra kiểu rừng mưa nhiệt đới. Ở phần trên đã đề cập, tất cả các vùng ở Lâm
Đồng đều có lượng mưa lớn, vượt xa giới hạn này, thường thì từ 1.800mm đến 2.400mm

như: Cau chuột (Pinanga), Mây (Calamus), một số loài cây họ cây Cà phê (Rubiaceae), họ
Quả nổ (Acanthaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), loài đu đủ rừng (Thevesia Palmata)…
- Tầng cỏ (C): Với đặc trưng là thưa thớt, tầng này không phủ kín bề mặt, độ che phủ
khoảng 10%. Tuy nhiên các loài cây cũng khá đa dạng như: Quyến bá Selaginella thuộc
ngành Lycopodiophyta, Rêu tóc trắng Leucobrium thuộc ngành Bryophyta, các Dương xỉ chi
Pteris, Adiantum, Antrophyum, Crypsinus thuộc ngành Polypodiophyta, nhiều loại thuộc
magnoliophyta.
Bên cạnh đó, đan xen với các loài cây và các tầng, có tầng dây leo thuộc một số họ
thực vật như Cucurbitaceae, Vitaceae…
Ở kiếu rừng thường xanh mưa mùa nhiệt đới này còn được đặc trưng bởi các hiện
tượng : hiện tượng cây có bạnh vè như cây Sôloan (slonea) , cây Côm (Elaeocarpur) thuộc họ
Elaeocarpaceae, một số loài họ Đào lộn hột Anacardiaceae… hiện tượng bóp cổ cũng rất phổ
biến ở kiển rừng này.
Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim.
Kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim mưa mùa nhiệt đới phát triển
trên núi cao thường gặp trong các rừng trên núi cao, có đai độ cao cao trên 1000m, càng lên

12
các đai núi cao kiểu này càng thường gặp. Đặc biệt là các vùng núi cao trên 1.600m, mà điển
hình là ở vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà. Ở vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà đầu tiên phải kể
đến kiểu rừng hỗn giao giữa các loại cây hạt trần là thông hai lá giẹp (Đucampopinur
krempfii) thuộc họ Pinaceae, loài thông năm lá (Pinus dalatensis) rồi kế đến loài Pơmu
(Fokienia hodginsii), loài Hồng Tùng (Đacridium Pierei) và một số loài cây lá kim khác hỗn
giao với cây lá rộng. Đây là những kiểu rừng nguyên sinh rất đặc biệt, rất có ý nghĩa về môi
trường, được trải trên địa hình núi và núi cao rộng lớn, là đầu nguồn của nhiều dòng chảy,
nhiều con sông quan trọng.
Rừng kín thường xanh với rừng hỗn giao cây gỗ và rừng tre nứa.
Đây là kiểu rừng thứ sinh do các loài tren nứa xâm lấn rừng gỗ, thường thì kiển rừng
này phân bố nhiều ở vùng thấp, nơi ẩm, ven suối. Ở kiểu rừng này cây gỗ có thể mọc rải rác
tạo thành tầng riêng, tầng kia là tre nứa. Kiểu rừng này gặp nhiều ở Đạ Hoai, Đạ Tẻh, Cát

obtusifolius) thuộc họ Dipterocarpaceae tạo nên kiểu rừng thưa hỗn hợp giao cây lá rộ
ng lá
kim.
Rừng trồng
Kiểu rừng ở Lâm Đồng có thể trồng nhiều một số loài cây gỗ như: Bạch Đàn, Trâm
bông vàng, keo tai tượng, dầu. tuy nhiên phần lớn diện tích rừng trồng ở Lâm Đồng là rừng
trồng loài thông ba lá.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ ĐA DẠNG THỰC VẬT
RỪNG THÔNG BA LÁ Ở VIỆT NAM VÀ LÂM ĐỒNG.
1. Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam
được coi là là nước có đa dạng sinh học cao, là một trong 10 trung tâm đa
dạng sinh học quan trọng của thế giới và được thể hiện qua sự phong phú của nguồn gen, số
lượng loài, các kiểu cảnh quan, hệ sinh thái và vùng địa lý sinh học.
Từ ngàn xưa cho đến nay, đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang góp phần quan
trọng không chỉ đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh vật mà cả với sự phát triển
kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục của con người như: Cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc
chữa bệnh, nguồn nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp. Bên cạnh giá trị kinh tế, đa dạng
sinh học còn có giá trị sinh thái, môi trường lớn như: điều hòa nguồn nước, điều hòa khí hậu,
chống ô nhiễm môi trường… Một giá trị quan trọng khác của đa dạng sinh học là giúp cho
con người tạo nên những nét đẹp về đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, nghỉ ngơi, dưỡng sức và tín
ngưỡng của mình.
Trải qua năm tháng, cùng với những biến cố của lịch sử về chính trị, kinh tế và xã hội,
đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bị suy thoái và sự suy thoái này đang diễn ra với
tốc độ rất nhanh trong những năm gầ
n đây. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái đa
dạng sinh học của Việt Nam, song nguyên nhân cơ bản nhất là mất rừng tự nhiên. Khai thác
quá mức và nhận thức về vai trò, giá trị của đa dạng sinh học còn hạn chế. Cuối cùng, cội
nguồn của mọi nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học là do mâu thuẫn giữa khả năng cung
cấp tài nguyên sinh vật và nhu cầu sử dụng của con người.

sau đó, chủ yếu là các tác giả người Việt Nam. Các bảo tàng hiện vẫn lưu trữ các mẫu vật đó,
đã trở thành kho tư liệu quý giá như: Bảo tàng thực vật thành phố Hồ Chí Minh – 85 Trần
Quốc Toản, Phòng Bách thảo thực vật thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Đại học
Bách khoa tự nhiên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).
Sau này, từ năm 1960 đến 2001, hàng loạt các tác giả khác đã tiếp tục nghiên cứu và
bổ sung các họ chưa được “Thực vật chí đại cương Đông Dương” đề cập. Các tác giả đó đã
cho ra các tập khác nhau trong bộ “Hệ thực vật Cambốt, Lào và Việt Nam” do A.Aubreville

15
và J.Leroy, Ph.Morat là chủ biên, trong đó đề cập, bổ sung hàng loạt các loài, các họ thực vật
cho hệ thực vật Việt Nam.
Những năm từ 1969 đến 1976 dưới sự chủ biên của Lê Khả Kế, nhiều nhà nghiên cứu
thực vật như Võ Văn Chi, Phan Nguyên Hồng, Lê Khả Kế… đã công bố 7 tập bộ “Cây cỏ
thường thấy ở Việt Nam”. Trong khi đó từ năm 1970 đến 1972 Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã
công bố bộ “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” gồm 2 tập. Sau này Giáo sư Phạm Hoàng Hộ lại
công bố tiếp 3 tập của bộ “Cây cỏ Việt Nam” vào năm 1991 – 1993 tại Montreal. Đến năm
1999 – 2000 nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh đã tái bản bộ “Cây cỏ Việt Nam” của
Giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Đây là bộ sách đồ sộ, được nhiều người nghiên cứu thực vật cả các
lĩnh vực liên quan đến thực vật tra cứu một cách rộng rãi và thường xuyên trong bộ “Cây cỏ
Việt Nam”; hầu hết các họ thực vật bậc cao của các ngành: Psilophyta, Lycopodiophyta,
Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta, Magnoliophyta được tác giả đề cập. Trong đó
từng loài được mô tả có kèm theo hình vẽ và nhiều thông tin liên quan đến loài mà tác giả đã
dày công tập hợp qua quá trình lâu dài trong các nghiên cứu của ông, trong các thu thập tri
thức bản địa, trong các thu thập tri thức của nhân loại. Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Việt
Nam là nước có hệ thực vật phong phú vào bậc hàng đầu của thế giới với khoảng 12.000 loài
thực vật. Trong số các loài thực vật đó, rất nhiều loài được chỉ ra có phân bố ở Lâm Đồng,
hay phân bố ở địa danh nào đó thuộc Lâm Đồng, như phân bố ở Đà Lạt, phân bố ở Bảo Lộc, ở
Di linh, Đơn Dương hay phân bố ở Langbiang… Cũng tromg số đó có loài tác giả chỉ ra phân
bố trong kiểu rừng thông.
Ví dụ:

soạn. Bộ sách đã đưa ra tên gọi các loài thực vật thật chính xác, bao gồm tên gọi của cả thực
vật bậc thập, thực vật bậc cao bao gồm tất cả các ngành ở Việt Nam.
Trên đây đã đề cập đến ý nghĩa loài cũng được hiểu như đơn vị cơ bản trong nghiên
cứu đa dạng sinh học. Bởi vậy trong nghiên cứu đa dạng sinh học các nguồn tài liệu khác
nhau về hệ thực vật, về phân loại thực vật, nói rộng ra là về sinh vật là không thể thiếu khi đề
cập, khi thực hiện những nghiên cứu về đa dạng sinh học. Khi mà khoa học kỹ thuật cùng mọi
đời sống khác nhau của nhân loại phát triển đến nhựng đỉnh cao như ngày nay chúng ta đang
hàng ngày, hàng giờ chứng kiến, thì cũng là lúc hàng loạt các hệ sinh thái trên hành tinh bị
phá hủy, bị suy thoái. Hàng loạt các loài sinh vật bị tuyệt chủng, và số đông trong số rất nhiều
loài đó đang đứng trên bở bị đe dọa tuyệt chủng. Khi đó thuật ngữ “Đa dạng sinh học” và
khoa học về đa dạng sinh học cũng đồng thời ra đời và ngày càng nở hoa kết trái. Từ đó có cả
hệ thống các công trình, các nguồn tài liệu về đa dạng sinh học ra đời, đáp ứng các nhu cầu
nghiên cứu, nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học ở quy mô thế giới, ở quy mô quốc gia, vùng
miền đều có khá đầy đủ.
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu, sách tra cứu và cả
những cuốn cẩm nang về đa dạng sinh học. Có thể khái quát rằng ở cả ba cấp độ trong nghiên
cứu đa dạng sinh học đuề được thể hiện.
Ở cấp độ phân tử đã có những tài liệu đề cập đến từ khái niệm, đến các nội dung cần
nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu.Điều này được thể hiện trong cuốn “Cẩm nang

17
nghiên cứu đa dạng sinh vật” do nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành năm 1997. Hay trong
cuốn “Các phương pháp nghiên cứu thực vật” cũng do tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn được nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành. Cũng ở cấp độ phân tử, tức là những nghiên
cứu đa dạng về di truyền, càng những năm gần đây càng có thêm những công trình nghiên
cứu công bố trên tạp chí của một số tác giả, mà điển hình nhất cho hoạt động này là tác giả
Nguyễn Hoàng Nghĩa. Chẳng hạn như: Phân tích đa dạng di truyền loài Giổi xương (Michelia
velutina Candolle, Magnoliaceae – Họ Mộc Lan) cho hệ thực vật Việt Nam của Nguyễn
Hoàng Nghĩa trong tạp chí khoa học Lâm nghiệp số 3 năm 2009. Hay, phân tích đa dạng di
truyền hệ gen nhân của loài Mỡ Hải Nam, trong tạp chí khoa học Lâm nghiệp số 2 năm 2009

trên tạp chí khoa gọc Lâm nghiệp. Hay các tác giả Nguyễn Duy Chính, Nông Văn Tiếp, Trần
Vân Tiến với nghiên cứu thành phần loài cây gỗ phân bố ở Nam Cam Ly, thuộc Cao nguyên
Lâm Viên, Lâm Đồng đăng trên tạp chí sinh học. hay những công bố về đa dạng loài cho hệ
thực vật Việt Nam của tác giả người Việt và tác giả nước ngoài công bố trên tạp chí nước
ngoài như những nghiên cứu và bài bóa cáo của Nguyễn Nghĩa Thìn và D. Harder về đa dạng
sinh học của hệ thực vật vùng núi cao Fansipan ở Việt Nam.
Ở cấp độ quần thể trong nghiên cứu đa dạng sinh học là đa dạng hệ sinh thái, phải kể
đến công trình “Thảm thực vật rừng Việt Nam” cùa Thái Văn Tường với việc phân loại thành
các kiểu thảm thực vật và các ưu hợp thực vật trên đất rừng Việt Nam. Trong đó tác giả đã
phân chia một cách kỹ lưỡng các kiểu thảm thực vật, dựa trên cơ sở kiến thức sinh thái chắc
chắn, kết hợp với quá trình khảo cứu thực đại rất công phu, cộng với sự tổng hợp từ rất nhiều
nghiên cứu về sinh thái học thảm thực vật của nhiều tác giả cả trong nước và nước ngoài như:
Maurand, Schmid, Schenell, Lương Quy, Vũ Đức Minh, Lý Văn hội… Ở mỗi kiểu thảm thực
vật tác giả cũng đề cập đến cấu trúc phân tầng, đến thành phần loài, đến dạng sống…
Về dạng sống (hay kiểu sinh hoạt) theo cách phân loại của Raunkiaer, tác giả Thái
Văn Trừng đã tạm dùng hệ thống dạng sống của Raunkiaer, một hệ thống hiện nay thông
dụng trên thế giới để tiện cho việc so sánh với phổ dạng sống tiêu chuẩn. Vả lại cách chia theo
kích thước chiều cao đã là phù hợp với kích thước dạng sống của. Ngoài ra Raunkiaer cũng
dùng cả trạng mùa và hiện tượng chồ
i có bao hay không có bao để chia thêm các dạng phụ
trong dạng sống của các cây có chồi trên đất cùng với các dạng đặc biệt. Dạng sống của cây
có chồi trên đất tức dạng sống mà trong mùa không thuận lợi cho sự sinh trưởng (mùa tuyết ở
vùng ôn đới, vùng hàn đới hay mùa khô hạn ở vùng nhiệt đới), cây không có đủ nước sinh lý
để dinh dưỡng bình thường, chồi ngọn của cây ở cao trên mặt đất.
Raunkiaer căn cứ vào chiều cao của cây để chia thành b
ốn dạng chủ yếu.
- Megaphanerophytes (Mega), cây to có chồi trên mặt đất, trên 30m.
- Mesophanerophytes (Meso), cây vừa có chồi trên mặt đất, từ 8 đến 30m.
- Microphanerophytes (Micro), cây nhỏ có chồi trên mặt đất, từ 2 đến 8m.
- Nanophanerophytes (Nano), cây thấp có chồi trên mặt đất, dưới 2m.

- SNao: Cây thấp có chồi trên đất, thường xanh, không bao.
- SMgC: Cây to có chồi trên đất, thường xanh, có bao.
- SMeC: Cây vừa có chồi trên đất, thường xanh, có bao.
- SMiC: Cây nhỏ có chồi trên đất, thường xanh, có bao.
- SNaC: Cây thấp có chồi trên đất, thường xanh, có bao.
- DMgC: Cây to có chồi trên đất, rụng lá, có bao.
- DMeC: Cây vừa có chồi trên đất, rụng lá, có bao.

20
- DMiC: Cây nhỏ có chồi trên đất, rụng lá, có bao.
- DNaC: Cây thấp có chồi trên đất, rụng lá, có bao.
Trong khi đó, khi tổng kết các dạng có chồi trên đất vùng nhiệt đới Nam Mỹ thì Cain
cho rằng chỉ có sáu kiểu sau đây:
MM – (Mega và Mesophanerophytes)
MI – (Microphanerophytes)
Ns – (Nanophanerophytes)
Ep – (Epiphytes phanerophytes)
Hp – (Phanerophytes herbaces)
Dạng thứ hai là dạng có chồi ngang đất (Chamephytes), dạng sống này trong mùa
không thuận lợi, bộ phận trên đất sẽ héo chết, đến chỗ mặt đất một chút, hay ở ngang mặt đất.
Dạng sống thứ ba là dạng có chồi mặt đất (hemicryptophytes), tức là dạng sống mà
trong mùa không thuận lợi, bộ phận trên đất chết cả. Dạng này thường được tuyết bao phủ
trong mùa không thuận lợi.
Dạng sống thứ tư là dạng có chồi dưới đất (Crytophytes), tức là dạng sống mà trong
mùa không thuận lợi các bộ phận trên đất đều chết. Chồi bén vào những bộ phận nằm dưới đất
như củ hay giò.
Sau đó Raunkiaer tính phần trăm tỷ lệ các dạng sống. Đó là cơ sở để so sánh các phổ
dạng sống ở các vùng khác nhau trên trái đất.
Các tác giả nghiên cứu đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng dùng thang đánh giá dạng
sống dựa trên thang của Raunkiaer. Như Nguyễn Nghĩa Thìn đã nêu ra trong cuốn “Các

được phổ dạng sống dưới dạng các biểu đồ.
Trong nghiên cứu đa dạng hệ sinh thái các tác giả còn có thể đánh giá độ nhiều. Độ
nhiều là số lượng cá thể của một loài nào đấy ở ô tiêu chuẩn hay một kiểu thảm thực vật nào
đấy trong một khu v
ực nào đấy trong một khu vực nhất định tùy thuộc vào mục đích của việc
nghiên cứu đặt ra. Người ta có thể độ nhiều bổ sung vào các bảng nghiên cứu, ví dụ như đánh
giá theo chủ quan nhờ một thang thống kê nào đấy. Người ta đưa ra nhiều loại thang thống kê
độ nhiều khác nhau ví dụ:
Thang năm bậc:
- Bậc 1: Rất ít
- Bậc 2: Ít
- Bậc 3: Không nhiều
- Bậc 4: Nhiều
- Bậc 5: Rấ
t nhiều
Thang sáu cấp: Thang này còn được gọi là thang Drude, được thể hiện không phải
bằng số mà thể hiện bằng chữ:

22
Soc: Số lượng cá thể cây kết lại thành tầng kín
Cop
3
: Số lượng cây rất nhiều
Cop
2
: Số lượng cây nhiều
Cop
1
: Số lượng cây tương đối nhiều
Sp: Thực vật gặp với số lượng không lớn lắm, thưa

điều kiện đặt nhiều. Ở mỗi quần xã không nên đặt quá dứoi ba ô tiêu chuẩn.
Có thể nói rằng trong các nguồn tài liệu nói về đa dạng hệ sinh thái, đa d
ạng sinh học
hay các tài liệu về phương pháp nghiên cứu thực vật, các tác giả đã tổng kết các kinh nghiệm
nghiên cứu thực vật, nghiên cứu sinh thái học của các nhà sinh thái học, phân loại học, đa
dạng sinh học ở nhiều nơi trên thế giới vào bậc hàng đầu để chỉ ra các chỉ dẫn, các quy tắc,
các lời khuyên cho việc nghiên cứu đa dạng sinh học ở các kiểu thảm thực vật khác nhau, trên
những vùng lãnh thổ có các điều kiện tự nhiên đặc trưng riêng rẽ, khác nhau. Điều này đã trở
nên kho tư liệu quý giá giúp ích chúng tôi trong quá trình nghiên cứu. 23
2. Tình hình nghiên cứu đa dạng thực vật rừng thông ba lá ( Pinuskesiya) mọc tự nhiên
ở Việt Nam và Lâm Đồng.
a) Ở Việt Nam
Như ta biết loài thông ba lá (Pinuskesiya) là loài cây gỗ lớn, là loài ưa sáng và chịu
đựoc hạn vào mùa khô. Ở Việt Nam loài thông ba lá phân bố ở một số khu vực và tạo nên
kiểu rừng thưa cây lá kim ưa sáng chịu hạn. Thường thì kiểu rừng này là kiểu rừng thuần loại
và thông ba lá là loài cây ưu thế sinh thái, chúng tạo nên kiểu quần xã thực vật rất đặc trưng
cho vùng núi cao, đặc biệt là ở Lâm Đồng.
Trong các nguồn tài liệu khác nhau, loài thông ba lá (Pinuskesiya) còn mang những
tên gọi khác là thông nhựa ngo với các tên đồng nghĩa như:
Pinus khasya Royle
Pinus langbiangensis Chevalier
Thuộc họ Pinaceae, ngành Pinophyta.
Cũng trong các nguồn tài liệu khác nhau, loài thông ba lá được dẫn ra các khu phân bố
khác nhau ở Việt Nam. Như trong tập 1 bộ cây gỗ rừng miền Bắc Việt Nam do nhà xuất bản
Nông thôn phát hành, có chỉ ra thông ba lá phân bố ở: Lai Châu, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng
Ninh và thường mọc thành rừng thuần loại. Còn tác giả Võ Văn Chi trong cuốn “Danh lục
thực vật Tây Nguyên” lại nhắc tới thông ba lá phân bố ở Gia Lai – Kom Tum, Đắk Lắk, Lâm

cung cấp một lượng gỗ đáng kể, nên đã được các nhà nghiên cứu lâm học quan tâm như một
đối tượng kinh doanh gỗ có giá trị. Chẳng thế mà ngay trong tập 1 của bộ cây gỗ rừng Việt
Nam, Viện quy hoạch lâm nghiệp đã có công bố về
loài này. Đó là chưa kể đến các hoạt động
khác nhau của ngành lâm nghiệp, cùng các nghiên cứu ý nghĩa tài nguyên làm thuốc của loài
này, lấy nhựa, lấy tinh dầu và các sản phẩm khác lấy ra từ thông ba lá.
Tuy chưa có nghiên cứu chuyên khảo về đa dạng sinh học cho rừng thông ba lá mọc tự
nhiên ở Lâm Đồng, nhưng đã có một số nghiên cứu đề cập sơ bộ đến thành phần một số loài ở
kiểu rừng này. Chẳng hạn, cũng trong “Thảm thực vật rừng ở Việt Nam” Thái Văn Trừng có
mô tả: Tầng tán của rừng thông ba lá (Pinus khasya) này gồm nhiều loại dẻ vùng cao
(Quercus.lanata, Quercus helferiana, Lithocarpus dealbathus, Lithocarpus pynostachya) và cả
những loài đặc hữu thấy ở vùng Djiring và Đà Lạt tức gồm nhiều loài trong họ Đỗ Quyên
(Ericaceae) như: cáp mộc hình sao (Craibiodendron stellatum), Đỗ Quyên hoa trắng (Pieris
ovalifolia). Họ chua nem (Vacciniaceae) như: chua nem (Vaccinium exaristatum),
Agapetes.sp. Những cây họ lúa tạo thành tầng cỏ như các chi: Polytocca, Arundinella,
Callipedium, Exotheca, Eulalia, Pogonatherum, Dimeria, Kerriochloa. Các cây thuộc họ
dương xỉ thường gặp nhiều hơn cả là loài Dicranopteris linearis, Brainia insignis,
Woodwardia cochinchinensis, Pteridium aquilinum và Dipteris conjugata. Có thể nói những
nghiên cứu này đã là nguồn tài liệu tham khảo đáng quý cho những nghiên cứu của chúng tôi,
khi chính thức sẽ trở thành chuyên khảo về đa dạng sinh học thực vật rừng thông ba lá ở Lâm
Đồng.
b) Ở Lâm Đồng
Đã có một số công trình nghiên cứu về loài thông ba lá (Pinus kesiya), về hệ sinh thái
rừng thông hay một số loài cây thuốc phân bớ dứoi tán rừng thông ở địa điểm này hay địa
điểm kia ở Lâm Đồng của một số tác giả.

25
Có những nghiên cứu về loài thông ba lá theo hướng phân loại học, chẳng hạn như
nghiên cứu về các loài cây học Pinaceae phân bố ở Lâm Đồng của Nguyễn Duy Chính và Phó
Đức Đỉnh có đề cập đến loài thông ba lá (Pinus khasya), loài thông nhựa (Pinus merkusii),

nghiên cứu đó chưa thực hiện ở nhiều địa điểm, chưa thực hiện đồng thời nghiên cứu của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status