SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BIỂN CHẤT LƯỢNG CAO BẰNG MƯƠNG NỔI ĐẶT TRONG AO - Pdf 13


1
SẢN XUẤT GIỐNG CÁ BIỂN CHẤT LƯỢNG CAO BẰNG
MƯƠNG NỔI ĐẶT TRONG AO
Hoàng Tùng
1*
, Michael Burke
2
& Huỳnh Kim Khánh
3

1
Khoa Công nghệ Sinh học, Trường Đai học Quốc tế, Việt Nam. Email:
2
Queensland Department of Primary Industries & Fisheries, Australia
3
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam MỞ ĐẦU
Nghề nuôi cá biển của Việt Nam phát triển mạnh trong những năm gần đây, đòi hỏi
một số lượng lớn cá giống có chất lượng cao. Để đáp ứng yêu cầu này, công nghệ sản
xuất con giống nhân tạo các đối tượng nuôi phổ biến như cá Chẽm (Lates calcarifer), cá
Mú (Epinephelus spp.) và cá Giò (Rachycentron canadum) đã được tập trung nghiên cứu
và đầu tư phát triển. Các trại sản xuất giống cá biển trong nước đã sản xuất được một
lượng đáng kể con giống. Tuy nhiên kích thước giống thường quá nhỏ để có thể thả nuôi
ngay trong lồng hoặc ao nuôi thương phẩm. Cá giống có thể được tiếp tục ương trong bể
lên cỡ lớn hơn nhưng phương pháp này rất tốn kém và đòi hỏi diện tích ương lớn. Trong
khi đó, cá giống cỡ nhỏ ương tiếp hoặc nuôi thương phẩm trong ao đất thường có tỉ lệ
sống thấp và khó chăm sóc quản lý. Để khắc phục những khó khăn này Dự án CARD
VIE062/04 đã lựa chọn giải pháp sử dụng mương nổi đặt trong ao và xây dựng thành

trao đổi nước lớn mật độ của cá nuôi trong mương có thể đạt cỡ 70 kg/m
3
. Nhờ mật độ
cao trên một diện tích nhỏ hẹp này mà việc quan sát cá nuôi, cho ăn và chăm sóc quản lý
(ví dụ như kiểm tra tình trạng sức khỏe, lọc phân cỡ, thu hoạch, v.v.) đều có thể được
thực hiện một các thuận tiện với hiệu quả cao, tiết kiệm đáng kể nhân công. Sử dụng
mương nổi đặt trong ao để ương cá giống còn có thể giúp tận dụng nguồn thức ăn tự
nhiên sẵn có trong ao.
Trong báo cáo này chúng tôi trình bày vắn tắt thiết kế của mương nổi SMART (viết
tắt từ cụm từ Công nghệ Nuôi biển Bền vững - Sustainable Mariculture Technology)và
qui trình ương do Dự án CARD VIE062/04 “Nuôi thâm canh cá biển trong ao bằng
mương nổi” xây dựng. Các kết quả nghiên cứu thu được từ thử nghiệm ở qui mô nhỏ và
sản xuất sẽ được kết hợp trình bày để minh họa cho hệ thống.
2. THIẾT KẾ HỆ THỐNG ƯƠNG
Hệ thống ương được thiết kế để có thể sản xuất được một số lượng lớn cá giống có
kích thước lớn của các đối tượng nuôi phổ biến như cá Chẽm, cá Mú và cá Giò. Hệ thống
này bao gồm các mương nổi, thiết bị phụ trợ và một ao chứa. Kích thước của ao chứa tùy
thuộc vào lượng cá ương và có thể ước lượng b
ằng cách lấy tổng số cá ương chia cho 3
lần mật độ ương bình thường trong ao đất.
2.1 Ao chứa
Mô hình ương chuẩn gồm một ao chứa có diện tích khoảng 2000-m
2
(Hình 2). Bờ ao
có thể lót bạt nhựa. Mức nước trong ao nên được duy trì ở khoảng 1,7 – 2,0 m. Tuy
nhiên, các ao có độ sâu thấp cỡ 1,2 m vẫn có thể sử dụng được. Dùng bạt nhựa chắn dọc
theo trục giữa ao để tạo dòng chảy vòng trong ao. Sử dụng một máy quạt nước công suất
2 mã lực để giúp luận chuyển nước trong ao chứa.
Tường ngăn
ao bằng bạt
Máy nén khí
Ống
cấp khí
Cấp khí dự
phòng
Cống
thoát
Cống cấp
nước
Cầu
Các mương nổi đặt trên bè

4
một cánh đối xứng chặn không để cho cá bị dòng nước ép vào khung lưới của cửa thoát.
(Hình 3).
Hệ thống ống nâng nước gồm 4 ống PVC ∅90 được nối với nhau bằng một ống cấp
khí PVC ∅21 dạng khung chữ nhật để cân bằng áp lực khí tại các điểm thoát và cố định
vị trí cho các ống nâng (Hình 4). Trên thanh ngang phía dưới của khung này khoét các lỗ
đường kính 3 mm. Mỗi lỗ cho một ống nâng nước. Khoảng cách từ lỗ thoát khí đến mặt
nước ao là 80 cm. Nước trong mương trao đổi 100% mỗi 15 phút.
Hình 3: Mương nổi SMART-01


khung là cố định, người nuôi cần giữ cho mực nước trong ao chứa ổn định để không ảnh
hưởng đến hiệu suất bơm của hệ thống ống nâng nước.
2.2.2 Mương nổi phiên bản SMART-2
Mặc dù đạt được kết quả tốt khi thử nghiệm, mương nổi phiên bản SMART-1 đã để
lộ một số nhược điểm trong quá trình vận hành. Vì thế, phiên bản SMART-2 được thiết
kế để khắc phục các nhược điểm này và đồng thời mở rộng qui mô sản xuất (Hoàng Tùng
& Huỳnh Kim Khánh 2008). Đầu tiên, thể tích hoạt động của SMART-2 được thiết kế
gấp đôi SMART-1, cho phép người nuôi ương được nhiều cá giống hơn. Tiếp theo, dàn
bè nâng đỡ mương nổi SMART-1 rất nặng, tốn kém và không thể di chuyển được khi ao
không có nước. Mương nổi phiên bản SMART-2 được thiết kế tự nổi. Phần thân mương
được kết nối với một khung cứng làm bằng composite có bơm bọt tạo độ nổi ở bên trong.
SMART-2 cân nặng khoảng 400 kg và có thể di chuyển một cách dễ dàng, nhờ đó tính cơ
động của mương tăng lên và có thể đưa vào vận hành ngay lập tức sau khi thả xuống ao
chứa (Hình 5). Hình 5: Mương nổi phiên bản SMART-2 6
Với phiên bản SMART-1 hệ thống ống nâng nước được gắn cố định trên thân mương.
Vì vậy, khi có nhiều người hoặc vật nặng đè lên dàn bè nâng đỡ, toàn bộ hệ thống mương
sẽ lún sâu thêm vào trong nước, làm gia tăng chiều cao cột nước từ mặt ao đến vị trí của
lỗ thoát khí. Áp lực gia tăng sẽ ảnh hưởng xấu đến lượng khí thoát ra, qua đó làm giảm
hiệu suất bơm của các ống nâng nước hoặc thậm chí làm một số ống ngừng hoạt động.
Trong phiên bản SMART-2 hệ thống ống nâng nước gồm 8 ống PVC Ø90, có thể trượt
theo trục thẳng đứng nhờ 2 rãnh làm bằng ống PVC Ø60 đặt theo thân mương. Nước
mương thay mới 100% mỗi 10 phút. Ngoài ra, khi được đặt trong các ao có độ sâu thấp,
các ống nâng nước của phiên bản SMART-1 lấy nước từ tầng đáy sẽ hút bùn dơ từ đáy ao
vào mương, làm suy giảm chất lượng nước. Để khắc phục nhược điểm này, phiên bản

3.1 Lắp đặt, chuẩn bị hệ thống ương
Việc cải tạo ao chứa được thực hiện theo các qui trình chuẩn áp dụng cho từng vùng
nuôi cụ thể. Các công đoạn cần thiết có thể bao gồm: loại bỏ bùn đáy, phơi khô, bón vôi
và xử lí nước khi đã cấp đầy ao. Tiếp theo lắp đặt hệ thống mương và cho vận hành xa
quạt nước để luân chuyển nước trong ao, tạo điều kiện cho tảo phát triển.
Dùng phân bón hữu cơ hoặc vô cơ để gây màu nước. Thả cá rô phi cỡ 30 g/con vào
ao với mật độ từ 0,5 – 1 con/m
2
. Các thử nghiệm cho thấy cá rô phi có thể sử dụng chất
thải từ mương ương cá và giữ cho màu nước và chất lượng nước ao ổn định. Kiểm tra các
thông số môi trường quan trọng như nhiệt độ, độ mặn, độ pH và hàm lượng oxy hòa tan
(DO) trước khi thả cá.
Nếu mương nổi được sử dụng lần đầu thì cần phải ngâm mương khoảng 2 tuần trong
nước ao và rửa nhiều lần thật sạch bằng nước ngọt và xà phòng. Với các mương đã được
sử dụng cho một đợt ương, chỉ cần phơi từ 2 – 3 ngày. Sau đó dùng vòi nước cao áp rửa
sạch xác rong rêu và hàu hà bám vào phía ngoài mương. Vệ sinh mặt trong mương bằng
nước ngọt và xà phòng.
Bảng 1: Mật độ ương và cỡ giống đề nghị
Đối tượng Cỡ cá thả (mm chiều dài thân) Mật độ thả (con/m
3
)
Cá Chẽm 15 – 25 3,000 – 6,000
Cá Mú Malaba 30 – 50 2,000 – 3,000
Cá Giò 50 – 80 1,000 – 2,000

3.2 Chất lượng cá giống và thả giống
Hệ thống ương bằng mương nổi SMART có thể được sử dụng cho nhiều đối tượng
nuôi khác nhau như cá Chẽm, cá Mú, cá Giò, cá Hồng bạc, cá Hồng Mỹ và rô phi. Với
bất cứ đối tượng nào thì chất lượng cá giống cũng phải được đặt lên hàng đầu. Chúng
phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh, bơi lội tích cực và không có những biểu hiện

sát với các ống nâng nước. Vì thế cần rải thức ăn đều khắp mặt mương để cá nhỏ hơn có
thể bắt được mồi. Lưu ý là cá Chẽm d
ừng bắt mồi sau khi mặt trời lặn.
3.4 Quản lý và chăm sóc
Vệ sinh mương hàng ngày bằng bàn chải mềm. Việc vệ sinh mương thường xuyên
giúp cho môi trường ương sạch và luyện cho cá quen với các tác động của con người.

9
Với phiên bản SMART-1 chất thải của cá và thức ăn thừa dồn tụ ở phần cuối đáy mương
phải được siphon thải bỏ hàng ngày, vào khoảng từ 16:00 - 17:00 trước khi cho ăn lần
cuối cùng trong ngày. Phiên bản SMART-2 được thiết kế để đẩy chất thải liên tục ra bên
ngoài, vì thế không cần phải siphon. Hàng tuần vệ sinh hoặc thay mới hệ thống ống nâng
nước. Khi nhiệt độ nước giảm xuống cỡ 20 – 22
o
C, cần cắt giảm mạnh lượng thức ăn vì
thông thường cá sẽ dừng bắt mồi.
Xa quạt nước chủ yếu được vận hành vào ban đêm để đảm bảo lượng oxy hòa tan và
một vài tiếng vào ban ngày, đặc biệt là khoảng từ 13:00 đến 15:00 để tránh hiện tượng
phân tầng nhiệt độ và thất thoát oxy bão hòa vào không khí. Duy trì màu nước trong ao.
Thông thường không cần phải bón thêm phân vì lượng chất thải từ mương nổi đủ để duy
trì lượng muối dinh dưỡng cần thiết cho tảo. Cho cá rô phi ngoài ao chứa ăn nhưng không
nên cho ăn quá nhiều. Có thể sử dụng chế phẩm vi sinh để ổn định môi trường nước ao.
3.5 Phòng bệnh
Quan sát các biểu hiện của cá nuôi thường xuyên, đặc biệt là khi cho ăn. Hàng tuần
tiến hành tắm cho cá bằng dung dịch hydroxy peroxide (H
2
O
2
) 5 – 10 ppm trong 15 phút.
Trước hết, dừng hoạt động của hệ thống ống nâng nước. Mương nổi sẽ biến thành một cái


Bảng 2: Cỡ giống và giá thành sản xuất của cá biển ương trong mương nổi SMART (tính
theo thời giá của năm 2008, Hoàng Tùng et al. 2008)
Cá Chẽm Cá Mú Malaba Cá Giò
Cỡ thu hoạch (mm chiều dài) 100 120 200
Giá thành sản xuất (đồng)
1.551 7.391 9.596
Giá thị trường (đồng)
7.000
16.000 20.000
Tỉ suất lợi nhuận/đầu tư
2,82
1,16 1,08

5. HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ ỨNG DỤNG TIẾP THEO
Hệ thống ương bằng mương nổi SMART và qui trình ương đã được áp dụng thành
công bởi một số công ty thương mại tại Việt Nam, Úc và Malaysia. Tuy vậy, hệ thống
này cần phải được tiếp tục hoàn thiện về mặt kỹ thuật để cải thiện tính ổn định và năng
suất ương. Hiện tại, chúng tôi đang tiếp tụ
c nghiên cứu
(i) Ứng dụng nguyên tắc hoạt động của mương nổi để thiết kế hệ thống nuôi thâm
canh cá Tra theo phương thức tuần hoàn, tái sử dụng nước cho khu vực đồng
bằng sông Cửu Long
(ii) Cải tiến hệ thống ống nâng nước của phiên bản SMART-2 để có thể nâng mật
độ ương lên 120 kg/m
3
.
(iii) Thiết kế hệ thống nuôi thương mại cá Dĩa
Bloch, 1790) from 2 – 8 cm total length. MSc thesis, University of Agriculture No.
1, Ha Noi (in Vietnamese).
Masser M.P. & Lazur A. (1997) In – pond raceways. Southern Regional Aquaculture
Center, SRAC Punblication No. 170.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status