chiến lược tự do hoá và mở của thị trường dịch vụ viễn thông việt nam trước xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 13

lời nói đầu
1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc, dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, ngành Viễn
thông Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt Nam đã nhanh chóng hiện
đại hoá đợc mạng lới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nớc
trong khu vực cũng nh trên thế giới. Đến hết năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số
huyện đã đợc trang bị tổng đài điện tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu
hết các tỉnh, thành phố, thị xã đã liên lạc trực tiếp khắp cả nớc và các nớc trên thế giới qua 3
tổng đài, 6 trạm vệ tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà
nhập với mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam vẫn
còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nớc ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và trong khi đó ở
Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100 dân, Hàn Quốc 43,04
máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62 máy/100 dân Mục tiêu đến
năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đa mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100
dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin
liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt
Nam đề ra. Để đạt đợc mục tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt
Nam đòi hỏi một khối lợng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trớc
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng đợc mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã lan
sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam khi bớc
vào thế kỷ 21. Đứng trớc những yêu cầu nh vậy, thì từ nay đến năm 2020 dịch vụ Viễn thông
Việt Nam phải có một chiến lợc phát triển phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đất nớc, phù hợp
với hiện trạng Viễn thông Việt Nam; để có thể phát huy đợc nội lực, thu hút vốn nớc ngoài và
hội nhập quốc tế. Từ tình hình đó, đề tài Chiến l ợc tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ
Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập quốc tế mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn
quan trọng.
1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
- Khái quát tình hình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian vừa qua, các xu h-
ớng phát triển Viễn thông trên thế giới và kinh nghiệm mở cửa, hội nhập của một số quốc gia

trong chơng này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trờng dịch vụ
Viễn thông của một số nớc trên thế giới. Chơng I bao gồm 4 vấn đề đợc trình bày sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc tự do hóa và mở cửa
thị trờng dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông
các nớc trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia
trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lu không thể đảo ngợc, và việc tham gia của các
quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế thơng
mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng đợc củng cố và phát triển cả về lợng và
chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bớc sang
một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá Cơn lốc hoà nhập kinh tế đã cuốn tất cả
các nớc trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến
chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đa
nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị tr-
ờng buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội
nhâp kinh tế quốc tế là con đờng ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc tế,
là phơng thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế toàn
cầu. Còn đối với các quốc gia đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế không những là
chiến lợc quan trọng thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế xã hội mà còn là sự lựa chọn
không thể tránh khỏi để đạt đợc sự tăng trởng kinh tế bền vững. Hơn nữa ngày nay
đông lực của hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ nhằm khai thác lợi thế so sánh mà
còn là tiến bộ khoa học kỹ thuật và mở rộng cơ chế thị trờng. Điều này càng làm cho
3

tăng trởng thơng mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thơng mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực nh
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dơng - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA đã đóng
vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới. Trong đó tổ chức
thơng mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xu h-
ớng toàn cầu hoá thơng mại. Tại hội nghị cấp bộ trởng lần thứ nhất của WTO họp ở
xingapore với 128 nớc tham gia đã thông qua đợc hiệp định công nghệ thông tin ITA
bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản phẩm
thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa học. Tiếp
nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán Singapore
càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thơng mại toàn cầu
4
Nh vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trờng, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nớc phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thơng mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI là một nhân tố rất
quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994
là 209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450
tỷ USD. Với việc đầu t ra nớc ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thơng mại quốc tế. Nhng ng-
ợc lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc đẩy các công
ty đa quốc gia đầu t ra nớc ngoài. Các nớc G7 là các nớc đứng đầu về đầu t trực tiếp ra
nớc ngoài. FDI vào châu á chiếm khoảng 1/3 FDI toàn thế giới
Các công ty đa quốc gia MNCs là lực lợng chủ chốt đầu t ra nớc ngoài. Hàng
năm các MNCs đầu t ra khoảng 300-350 tỷ USD. Hoạt động của MNCs đã có vai trò
to lớn trong phát triển thơng mại quốc tế. Theo số liệu ớc tính, những năm gần đây

khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nớc ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ t trên thế giới
với 250 triệu ngời tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nớc này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hớng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nớc
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực
Thái Bình Dơng phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cờng hợp tác khu vực
nhằm tạo một thị trờng có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nớc trong tổ chức
SAARC -Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ,
Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cờng
buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu t và kỹ thuật với hy vọng thành
lập đợc một khu vực buôn bán giống nh ASEAN
Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa
qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nớc Đông Nam á
ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thơng mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nớc ở trong
khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nớc thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ t trên thế
giới, có diện tích 3,3 triệu km2 với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD, xuất khẩu
hơn 300tỷ USD/năm. AFTA đang đẩy mạnh việc thực hiện kế hoạch tự do buôn bán
vào năm 2003 hoặc sớm hơn, thúc đẩy hình thành khu vực đầu t tự do ASEAN và sau
đó từng bớc tiến tới nhất thể hoá ASEAN về kinh tế trong vùng vài ba chục năm tới
Tóm lại, toàn cầu hoá đang tạo ra những tác động tích cực và có những ảnh h-
ởng tiêu cực, những cơ hội to lớn và những thách thức nghiêm trọng, nó kích thích sự
phát triển đối với những ai biết khai thác lợi thế của xu hớng lịch sử mới này và khiến
những ai chậm chân, đứng bên lề có thể bị tụt hậu ngày càng xa

Đối với Việt Nam là một nớc đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nớc trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nớc. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hớng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thơng mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thơng mại quốc tế và mở rộng
đợc nhiều thị trờng xuất khẩu ra bên ngoài do việc đợc hởng quy chế tối huệ quốc
(MFN) và u đãi quốc gia (NT) của các nớc thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất
khẩu mà ta có lợi thế so sánh nh gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp
tác về thơng mại với các nớc khu vực châu á - Thái Bình dơng. Thơng mại giữa Việt
Nam và các nớc trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng chiếm hơn 80% tổng lợng th-
ơng mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai thác đợc
lợi thế, tận dụng những u đãi của APEC dành cho các nớc đang phát triển, tránh rơi
vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực.
+ Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách
thể chế, chính sách, luật pháp cho phù hợp với yêu cầu của các tổ chức này. Điều này
7
công với các lợi thế so sánh mà lâu nay Việt Nam có nh lao động, vị trí địa lý sẽ tạo
điều kiện cho Việt Nam có cơ hội thu hút đợc vốn đầu t nớc ngoài nhiều hơn.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra động lực để các công ty trong nớc đổi mới
công nghệ, cải tiến phơng pháp quản lý, tăng cờng hiệu quả kinh doanh, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm để cạnh tranh và tồn tại trong điều kiện kinh tế mở. Ngoài ra, hội nhập
kinh tế quốc tế còn tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam bớc vào thị trờng thế giới để
mở rộng sản xuất kinh doanh, cạnh tranh trực tiếp với các công ty nớc ngoài.
+ Trong quá trình hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ sử

trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hởng rất lớn nếu
nh cải cách trong nớc không đợc thực hiện kịp thời và đúng lợng.
8
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thơng
mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo đợc những điều kiện hợp lý để tăng
cờng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải
quyết đợc trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất
nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã
không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng nh kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản
xuất đến dịch vụ cha chuẩn bị hay cha xây dựng một chiến lợc thống nhất về hội nhập
để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tợng Việt Nam trên thơng
trờng quốc tế.
+ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới
nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam ít nhiều gì cũng sẽ gặp khó khăn.
II - Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập.
Trong thời gian tới xu hớng hội nhập nói chung vẫn tiếp tục đợc củng cố và
phát triển cả bề rộng và bề sâu, trong đó đáng chú ý là xu hớng đẩy nhanh việc mở
cửa thị trờng trong nhiều lĩnh vực. Kể cả lĩnh vực đợc coi là phức tạp và có nhiều gay
cấn là lĩnh vực thơng mại dịch vụ mà trong đó dịch vụ Viễn thông đợc đặt lên hàng
đầu.
1. Các xu hớng phát triển Viễn thông trên thế giới.
Trong 2 thập kỷ qua đã diễn ra những sự thay đổi mạnh mẽ trong Viễn thông,

7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ th điện tử (E mail)
2. Dịch vụ th thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lu trữ
và tự động chuyển, la trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).
8. Các dịch vụ khác.
10
Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu tiên
đợc đa ra đàm phán và cam kết trong GATT 93 (tiền thân của WTO). Kết thúc vòng
đàm phát GATT93, đã có 68 nớc trên thế giới có cam kết với cấc dịch vụ Viễn thông
VAS . Sở dĩ các nớc bàn và cam kết mở cửa các dịch vụ VAS trớc vì đây là những dịch
vụ dễ triển khai về kỹ thuật và ít ảnh hởng đến quyền lợi kinh tế cũng nh an ninh quốc
gia của các nớc.
Tuy nhiên, hoạt động có ý nghĩa nhất và có ảnh hởng sâu rộng nhất về thơng
mại dịch vụ Viễn thông trong WTO chỉ bắt đầu khi có vòng đàm phán về mở cửa thị
trờng các dịch vụ Viễn thông cơ bản (Group on basis telecom -GBT). Đây là lĩnh vực
dịch vụ Viễn thông quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng muốn bảo hội vì lý do an
ninh, chủ quyền quốc gia và lợi nhuận. Ngày 15/2/1997, 69 quốc gia thành viên WTO

Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nớc đang phát triển, thị trờng dịch vụ
Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị về
mặt truy nhập nội hạt và lu lợng đờng dài trong nớc và quốc tế. Đồng thời các công ty
này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc quyền đã làm
cho giá cả thờng mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến khích giảm chi phí
hay nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền trong Viễn thông có
liên quan đến an ninh quốc phòng. Nhng trớc xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá trong
khai thác dịch vụ Viễn thông, hầu nh Chính phủ các nớc trên thế giới đã cho phép
thêm nhiều công ty đợc tham gia vào thị trờng dịch vụ Viễn thông. Các lĩnh vực
khuyến khích các công ty tham gia khác thác thờng là các lĩnh vực hấp dẫn, có lợi
nhuận cao nh là các dịch vụ đờng dài quốc tế, di động, các thiết bị đầu cuối khách
hàng và các dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty đợc tham gia khai thác dịch
vụ Viễn thông nhằm tăng cờng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nớc tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy Viễn thông phát triển.
Tuy nhiên việc đa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn thông không phải là một quá
trình xảy ra nhanh chóng kể cả những nớc công nghiệp phát triển nh Anh, Mỹ,
Pháp Thông thờng lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai hoặc ba công ty cạnh tranh
khai thác các dịch vụ Viễn thông, và các công ty mới thành lập thờng bị hạn chế về
phạm vi khai thác.Ví dụ:Nh ở các nớc đang phát triển các công ty mới thành lập lúc
đàu chỉ đợc khai thác dịch vu nội hạt, các dịch vụ giá trị gia tăng và thông tin di
động.Sau một thời gian mới cho phép tham gia khai thác các dịch vụ cơ bản, có phạm
vi đờng dài và quốc tế. Tuy nhiên hầu nh các nớc đều duy trì một công ty chủ đạo nh
công ty NTT của Nhật Bản, BT của Anh, ATT của Mỹ ,FT của Pháp Thông thờng
trên thế giới, dịch vụ thông tin di động, nhắn tin đợc khuyến khích sự tham gia của
nhiều công ty, tại vì:
+ Dịch vụ thông tin di động và nhắn tin thờng không ảnh hởng đến nhiều
doanh thu của thông tin cố định.
+ Việc xây dựng kết cấu mạng lới của các công ty kinh doanh dịch vụ thông
tin di động, nhắn tin thờng không ảnh hởng đến mạng cố định.
Ngoài ra trong thời gian gần đây để khuyến khích cạnh tranh trong khai thác

không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ớc, hiệp định về
tự do hoá thơng mại dịch vụ Viễn thông giữa các nớc đợc thực hiện thì các MNCs th-
ờng thờng hay liên minh với các công ty khai thác nhà nớc ở nớc sở tại để xâm nhập
vào thị trờng các nớc này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn thông chủ yếu tập trung ở
các nớc phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi thế về vốn, công nghệ, thị tr-
ờng các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông,
từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản.
1.3. Xu hớng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh
truyền hình và đa phơng tiện.
Bớc vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật
Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần
dần nới lỏng việc quản chế thị trờng Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học và
phát thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ lẫn
nhau, ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trớc kia ngày càng không rõ ràng. Sự
hoà nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lới, hoà nhập về nghiệp vụ và hoà
nhập về thị trờng. Xu hớng này đợc chứng minh bởi sự sáp nhập và liên hợp ngày
càng nhiều của các công ty khai thác Viễn thông, máy tính truyền hình và hữu tuyến.
Ví dụ:
+ Tháng 1/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ đã bỏ ra 4,4 tỉ USD mua
lại Công ty New Southern England để tiến vào thị trờng điện thoại nội hạt Đông Bắc
nớc Mỹ.
+ Ngày 15/9/1998 Công ty Bell Tây Nam SBC của Mỹ lại cùng với công ty
Viễn thông lớn thứ bảy của Hoa Kỳ, cũng là nhà đầu t ngoại quốc lớn nhất vào thị tr-
ờng Viễn thông Châu Âu, là công ty Ameritech, đã chính thức sáp nhập với giá đến 62
tỉ USD, trở thành vụ sáp nhập với mức tiền lớn nhất trong lịch sử Viễn thông nớc Mỹ.
13
+ Ngày 15/6/1998, Công ty Viễn thông phơng Bắc - Vortel Canada bỏ ra 9,1 tỉ
USD mua công ty Bell Net Works, là nhà chế tạo thiết bị mạng Internet mới và u tú
của nớc Mỹ, cho thấy quyết tâm của các nhà cung ứng dịch vụ Viễn thông truyền
thông tiến quân vào thị trờng tin học mà cụ thể là thị trờng thiết bị mạng dữ liệu.

nh ký đợc hiệp định thơng mại Việt Mỹ thì tự do hoá dịch vụ Viễn thông là một trong
những vấn đề luôn đợc đặt lên hàng đầu.
2.1. Trong tổ chức thơng mại thế giới - WTO.
Sau vòng đàm phán Uruguay, quá trình tự do hoá thơng mại đợc mở rộng ra đối
với cả thơng mại dịch vụ. Hiệp định chung về thơng mại dịch vụ GATS là nỗ lực đầu tiên
để đa lĩnh vực thơng mại dịch vụ theo những nguyên tắc điều tiết của thơng mại đa biên.
GATS đa ra một số quy định về nghĩa vụ chung và những yêu cầu cụ thể trong thơng mại
dịch vụ. GATS đề cập đến một số khái niệm, nguyên tắc và quy định cho phép các nớc
đang phát triển linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quá trình tự do hoá thơng mại dịch vụ.
14
Trong vòng đàm phán Uruguay về thơng mại đa biên, 11 ngành dịch vụ đã đợc đa ra đàm
phán trong đó có lĩnh vực dịch vụ Viễn thông.
Hiện tại, thị trờng dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam vẫn đợc chính phủ bảo hộ ở
mức khá cao. Chỉ có 3 công ty đợc phép khai thác dịch vụ Viễn thông đó là: Tổng
công ty Bu chính - Viễn thông Việt Nam - VNPT; Công ty Viễn thông quân đội -
VIETTEL; Công ty cổ phần Viễn thông Sài Gòn - SPT. Còn đối với các công ty nớc
ngoài chỉ đợc khai thác dịch vụ Viễn thông dới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh -
BCC. Quy chế đối xử quốc gia (NT) vẫn cha đợc dành cho các công ty dịch vụ Viễn
thông nớc ngoài. Các công ty này đang phải tiếp tục đối mặt với những hạn chế hành
chính trong quá trình hoạt động tại Việt Nam. Ngoài ra, cũng nh các lĩnh vực khác,
việc thiếu tính minh bạch và một cơ chế luật pháp thiếu đồng bộ đã ảnh hởng nhiều
đến sự tiếp cận thị trờng của các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam. Vì vậy
để đợc gia nhập vào WTO, Việt Nam phải đa ra biện pháp cho phép các công ty nớc
ngoài xâm nhập thị trờng dịch vụ Viễn thông. Việt Nam cần phải có các nghiên cứu
về tác động của sự tự do hoá dịch vụ Viễn thông đối với nền kinh tế và đa ra các quyết
định dịch vụ Viễn thông nào sẽ đợc mở, cho phép cạnh tranh nớc ngoài đặc biệt là các
dịch vụ cơ bản. Việt Nam vẫn là một đất nớc đang phát triển, dịch vụ Viễn thông còn
non trẻ và yếu kém. Tuy nhiên, một khi đã tham gia vào cuộc chơi thơng mại toàn
cầu, Việt Nam không thể không tính tới phải mở rộng lĩnh vực dịch vụ thơng mại nói
chung và lĩnh vực dịch vụ Viễn thông nói riêng. Việc mở cửa hội nhập dịch vụ Viễn

của các bên. Do vậy trong quá trình hợp tác, Việt Nam có thể tham gia ở lĩnh vực và
mức độ nào đó mà Việt Nam đủ khả năng. APEC đa ra chơng trình tự do hoá mậu
dịch đối với cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng là năm 2010 với các nớc phát triển và
năm 2020 với các nớc thành viên đang phát triển. Mỗi nớc thành viên đợc tuỳ ý, căn
cứ vào thực tiễn đất nớc mình mà đa ra một kế hoạch hành động trong đó vạch rõ lộ
trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác gây cản trở thơng mại và
đầu t. Vì vậy trớc mắt Viễn thông Việt Nam sẽ không gặp nhiều khó khăn khi tham
gia APEC vì Việt Nam có thể tạm thời dùng những cam kết của Việt Nam với ASEAN
và trong hiệp định thơng mại Việt-Mỹ để áp dụng với APEC. Ngoài ra một lợi thế
khác là Việt Nam cha gia nhập WTO.
Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài thì Việt Nam không tránh khỏi phải chịu một sức
ép ngày càng tăng đối với tiến trình tự do hoá thơng mại các dịch vụ Viễn thông, mốc
cuối cùng đối với Việt Nam là 2020 - tức là đến 2020 Việt Nam phải tự do hoá thị tr-
ờng dịch vụ Viễn thông dành cho nhau các u đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia.
Ngoài ra, do tính chất ràng buộc lẫn nhau của các nguyên tắc trong WTO, ASEAN và
APEC, việc Việt Nam tham gia các hoạt động về Viễn thông trong APEC cũng sẽ gặp
phải những thách thức lớn về mở cửa thị trờng. Tại Hội nghị Vancouver APEC đã đề
ra 9 lĩnh vực dịch vụ tự do hoá trong đó có dịch vụ Viễn thông . Do vậy lĩnh vực dịch
vụ Viễn thông có thể đợc thúc đẩy tự do hoá sớm hơn thời hạn từ năm 2020.
2.4. Trong Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ.
Việt Nam và Mỹ đã bình thờng hoá quan hệ ngoại giao từ tháng 7/1995. Hiện
nay hai nớc đang tiến hành đàm phán Hiệp định thơng mại song phơng toàn diện, hiệp
định này sẽ bao gồm nhiều vấn đề về thơng mại dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn
thông. Về cơ bản các điều khoản về thơng mại dịch vụ Viễn thông trong dự thảo hiệp
định này là chia theo các nguyên tắc của WTO. Trong dự thảo này, Mỹ yêu cầu Việt
Nam phải mở cửa và tự do hoá tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông bao gồm cả
dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ giá trị cơ bản, yêu cầu Việt Nam đa ra phụ lục nêu
rõ các quy định của Việt Nam về truy nhập thị trờng, đãi ngộ tối huệ quốc (Most
Favored Nation - MFN), đãi ngộ quốc gia (National treatment - NT), và ngoài các hạn
chế đó thì Việt Nam sẽ phải mở cửa hoàn toàn cho các dịch vụ và công ty khai thác

trờng độc quyền với một thời gian dài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh
từ việc mở cửa thị trờng. Mặt khác so với các công ty khai thác dịch vụ Viễn thông
trên thế giới thì các công ty của Việt Nam còn thu kém rất nhiều mặt: Công nghệ, tài
chính, thị trờng, kinh nghiệm quản lý và một điều quan trọng là các công ty này đợc
hoạt động trong một môi trờng cạnh tranh khá dài cho nên kinh nghiệm kinh doanh
của họ hơn hẳn các công ty Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới, việc tự do và mở
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông đồng nghĩa với việc các công ty trong nớc sẽ mất dần
thị trờng do không đủ sức cạnh tranh với các công ty nớc ngoài.
+ Việc tự do và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông dẫn đến việc thành lập
nhiều công ty trong nớc cũng nh cho phép các công ty nớc ngoài cùng tham gia vào
khai thác dịch vụ Viễn thông. Đối với các công ty, đặc biệt là các công ty nớc ngoài,
với họ lợi nhuận vẫn đặt lên hàng đầu. Do vậy các công ty khai thác dịch vụ sẽ tập
trung tranh giành thị trờng ở các vùng thành thị, khu công nghiệp và mảng thị trờng
sinh lợi cao trong khi những vùng sâu, vùng xa và các mảng thị trờng không sinh lợi,
mang tính chất công ích không ai làm, dẫn đến sự mất cân đối trong việc phát triển
kinh tế - xã hội và làm cho Nhà nớc mất dần quyền kiểm soát đối với thị trờng Viễn
thông, phải lệ thuộc vào các công ty mạnh (thờng là các công ty nớc ngoài).
17
+ Đội ngũ cán bộ cha đủ trình độ năng lực nên trong thời gian đầu của quá
trình hội nhập sẽ gặp rất nhiều khó khăn trớc những thay đổi nhanh chóng của công
nghệ cũng nh thị trờng.
3.2. Những cơ hội.
Bên cạnh những thách thức chủ yếu kể trên thì quá trình mở cửa và hội nhập
quốc tế sẽ mang lại những cơ hội cho Viễn thông Việt Nam.
+ Việc mở cửa và hội nhập hay nói chính xác hơn là việc tham gia vào các tổ
chức quốc tế nh ASEAN, APEC, WTO Viễn thông Việt Nam có thể tận dụng đợc
những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất trong lĩnh vực Viễn thông và vốn đầu
t nớc ngoài để xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia. Hiện tại đầu t n-
ớc ngoài trong lĩnh vực dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam chỉ đợc hoạt động dới hình
thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC), tuy nhiên mở cửa và tự do hoá thị trờng

trong nền về kinh tế đứng trớc những áp lực gia tăng của thị trờng do cạnh tranh gay
gắt và đòi hỏi Chính phủ phải nới lỏng những ràng buộc cứng nhắc của các luật lệ,
quy chế gây cản trở kinh doanh và bỏ dần sự can thiệp sâu. Điều này đã giúp cho các
thành phần về kinh tế phát triển với quy mô toàn cầu bất chấp sự khác biệt về thể chế
chính trị cũng nh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia khác nhau và trở thành
chất xúc tác quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế thế giới trong quá trình toàn
cầu hoá. Nh vậy, tự do hoá và mở cửa thị trờng là một chiếc cầu nối để giúp cho nền
kinh tế nớc đó hội nhập một cách đầy đủ vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Quan
hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá, mở cửa thị trờng là mối quan hệ hai
chiều, nghĩa là tự do hoá và mở cửa thị trờng góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ngợc lại hội nhập kinh tế quốc tế tác động tích cực tới việc tự do hoá
và mở cửa thị trờng. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia khi tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế thì việc tự do hoá và mở cửa thị trờng là một nghĩa vụ, một yêu cầu cấp bách,
và Việt nam cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ .
2. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc:
Trong thời gian đầu quá trình tự do hoá và mở cửa thị trờng diễn ra ở lĩnh vực
thơng mại hàng hoá và đầu t sau đó lan sang các lĩnh vực thơng mại dịch vụ. Với đặc
tính toàn cầu tự nhiên, Viễn thông là một trong những ngành dịch vụ sớm chịu tác
động của quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Ngoài ra, dịch vụ Viễn thông
còn là một ngành kinh doanh có tốc độ tăng trởng nhanh và đem lại lợi nhuận cao.
Xét trên góc độ tài chính, ngành này chỉ đứng sau lĩnh vực Bảo hiểm và Ngân hàng.
Chính vì vậy lĩnh vực dịch vụ Viễn thông đã trở thành đối tợng đàm phán thơng mại
rộng khắp trên toàn cầu. Tổ chức thơng mại thế giới WTO đa ra mục tiêu thực hiện thị
trờng tự do thơng mại toàn cầu về hàng hoá và dịch vụ vào năm 2020, trong đó các
hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với các sản phẩm công nghệ thông tin sẽ đợc
cắt giảm từ 6/1997 và các dịch vụ Viễn thông cơ bản đã đợc 72 quốc gia trên thế giới
cam kết mở cửa cho cạnh tranh với nớc ngoài từ 01/01/1998. APEC có kế hoạch tơng
tự nhng rút ngắn thời hạn thực hiện đối với các nớc là 10 năm (2010 đối với các nớc
phát triển và 2020 đối với các nớc đang phát triển) và cho phép mỗi nớc có một lộ
trình riêng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế và đặc thù riêng của nớc mình để đi tới

các nhà quản lý, những ngời ra quyết định cần phải phân tích môi trờng kinh doanh,
đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, xây dựng các mục tiêu và tìm
kiếm các nguồn lực, các biện pháp cần thiết để đạt đợc mục tiêu đó. Mục tiêu là sự cụ
thể hoá định hớng chiến lợc của doanh nghiệp. Mục tiêu bao giờ cũng đợc phân thành
mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, căn cứ vào đó để đề ra các nhiệm vụ thích
hợp cho mỗi giai đoạn. Muốn mục tiêu đề ra sát tình hình thực tế và có tính khả thi
phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Thứ nhất, các mục tiêu phải cụ thể hoá không đợc chung chung để các cấp
có thể kiểm soát việc thực hiện chúng.
+ Thứ hai, mục tiêu đề ra cần đợc giới hạn thời gian hoàn thành cụ thể. Đây
không chỉ là đặt ra cái mà Công ty phải đạt đợc mà đòi hỏi quy định thời hạn cho mỗi
mục tiêu.
+ Thứ ba, muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý và duy trì sự bền vững
của Công ty thì mục tiêu là cái đích có thể đạt đợc. Việc xác định mục tiêu vợt quá
khả năng (thiếu nguồn lực, không đủ điều kiện ) sẽ dẫn tới những hậu quả xấu.
+ Thứ t, các mục tiêu phải thống nhất và hỗ trợ cho nhau: mục tiêu ngắn hạn
và tiền đề thực hiện mục tiêu dài hạn.
* Còn đối với chiến lợc của một ngành mà cụ thể ở đây không phải là một
chiến lợc bó hẹp trong một Công ty mà nó mang tính toàn ngành và đợc tập trung vào
vấn đề tự do hoá và mở cửa thị trờng đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam.
Dới góc độ quản lý Nhà nớc, thì chiến lợc tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch
vụ Viễn thông sẽ gồm:
- Hoạch định chính sách để thực hiện chiến lợc.
- Tiến hành thực hiện các chính sách đó.
20
- Kiểm soát tình hình thực hiện chính sách.
Còn dới góc độ kinh doanh của một doanh nghiệp thì chiến lợc tự do hoá và
mở cửa thị trờng dịch vụ viễn thông có thể là cổ phần hoá, đầu t mở rộng sản xuất,
liên doanh liên kết
Nh vậy, chiến lợc này nó mang tính tổng thể, các mục tiêu thực hiện đợc đa ra

Telex tới các dịch vụ hiện đại nh Internet, điện thoại ảo. Trong hiệp định về Viễn
thông WTO/GATS, bắt đầu từ năm 1998, các nớc này đã cam kết hoàn toàn cho các
công ty nội địa và nớc ngoài cạnh tranh tự do. Vậy nguyên nhân vào đã khiến cho các
21
nớc này chiếm một vị trí to lớn trong thị trờng Viễn thông cũng nh họ cam kết tự do
thị trờng dịch vụ Viễn thông sớm nh vậy.
Nguyên nhân thứ nhất: Các nớc này hiện tại vẫn là những nớc chủ yếu sản
xuất các thiết bị Viễn thông và có khả năng thay đổi nhanh chóng công nghệ Viễn
thông tiên tiến. Hiện tại, các chỉ tiêu Viễn thông trên thế giới đợc xây dựng theo 3 tiêu
chuẩn: Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Do vậy muốn hay không muốn tất cả các nớc
trên thế giới đều phải sử dụng công nghệ này để phát triển dịch vụ Viễn thông cho đất
nớc mình. Viễn thông Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hiện đại hoá (1987-1995)
cũng đã sử dụng công nghệ Viễn thông theo tiêu chuẩn của Châu Âu . Mặt khác, công
nghệ Viễn thông của các nớc này ngày càng mang tính toàn cầu, phù hợp với xu thế tự
do hoá thị trờng Viễn thông trên thế giới. Các công nghệ mới nh Internet, vệ tinh quỹ
đạo thấp, thông tin cá nhân là những công nghệ giúp cho tự do hoá Viễn thông trên
toàn thế giới ngày một dễ dàng và nhanh chóng hơn. Đây là lý do rất quan trọng để
thực hiện xoá bỏ biên giới các quốc gia và thi hành chính sách toàn cầu trong thơng
mại để thống trị thế giới một cách hoà bình của các nớc phát triển.
Nguyên nhân thứ hai: Đó là hoạt động của các công ty xuyên quốc gia về
lĩnh vực Viễn thông. Hầu hết các công ty xuyên quốc gia (MNCs) về lĩnh vực Viễn
thông hàng đầu trên thế giới đều thuộc về các nớc này. Các công ty nh ATT, MCI (Hoa
Kỳ); NTT, KDD (Nhật Bản); BT (Anh); FT (Pháp); Telia (Thuỵ điển) có năng lực tài
chính rất lớn, hàng năm đầu t hàng chục tỉ USD để phát triển Viễn thông trong nớc
cũng nh ngoài nớc. Một thực tế cho thấy, thị trờng Viễn thông kể các dịch vụ và công
nghiệp đều do các công ty này kiếm soát và chi phối, các công ty con của các MNCs
này có mặt ở hầu hết các nớc trên thế giới tạo thành một mạng lới Viễn thông toàn
cầu. Mặt khác, MNCs đợc hoạt động trong môi trờng cạnh tranh quốc tế trong thời
gian dài. Do vậy các công ty này có rất nhiều kinh nghiệm trong quản lý, khai thác và
cung cấp dịch vụ Viễn thông.

soát của NTT.
NTT chiếm 100% thị phần điện thoại nội hạt và 70% thị trờng đờng dài trong
nớc. Tuy nhiên về khai thác nội hạt thì bắt đầu từ năm 1996 Bộ Bu điện (MPT) cho
phép thêm các công ty tham gia vào. Trong đó có các công ty Điện lực đợc phép cung
cấp các dịch vụ điện thoại nội hạt trên mạng của mình và đã bắt đầu cung cấp dịch vụ
cho các khách hàng kinh doanh. Về thị trờng đờng dài trong nớc hiện tại mặc dù NTT
chiếm tới 70% thị phần nhng đã xuất hiện các đối thủ cạnh tranh với NTT là DDI,
Japan telecom và Telway Japan.
Còn về dịch vụ quốc tế hiện tại Nhật Bản có 3 công ty đang khai thác đó là
KDD với thị phần 67%, ITJ 17% và IDC 16%. Các công ty này đều đợc t nhân hoá,
tuy nhiên Chính phủ vẫn nắm cổ phần chi phối.
Dịch vụ bán lại phát triển rất mạnh ở Nhật Bản thu hút đủ các thành phần kinh
tế tham gia. Theo tạp chí Global Telecom Business thì năm 1995 có hơn 2100 công ty
khai thác dịch vụ bán lại với khoảng 100 công ty mới xâm nhập thị trờng mỗi năm.
Các công ty nớc ngoài đợc phép hoạt động kinh doanh dịch vụ Viễn thông tại
thị trờng Nhật Bản bắt đầu từ năm 1989 và đợc phép mua cổ phần trong các công ty
của Nhật Bản. Tuy nhiên Chính phủ Nhật Bản cũng chỉ cho phép phần vốn nớc ngoài
trong hai Công ty NTT và KDD là 20%. Ngoài các công ty bị giới hạn thì chính phủ
Nhật mở cửa hầu hết thị trờng dịch vụ Viễn thông.
1.2. Pháp.
Trớc năm 1994 thị trờng dịch vụ cơ bản của Pháp đợc độc quyền bởi Công ty
Franch Telecom, một công ty 100% vốn sở hữu Nhà nớc. Còn các dịch vụ giá trị gia
tăng VAS, CPE và di động thì đợc tự do cạnh tranh. Tuy nhiên thị trờng dịch vụ cơ
bản đợc tự do hoá bắt đầu từ năm 1994 với việc Franch Telecom đợc t nhân hoá. Trong
khi quá trình t nhân hoá của Franch Telecom đang đợc tiến hành thì Tổng Cục Bu điện
(DGPT) cấp thêm giấy phép hoạt động cho các công ty khai thác nội địa, đó là các
công ty.
+ MFS Worldcom, một công ty cung cấp truy nhập cạnh tranh của Mỹ cung
cấp dịch vụ tại thành phố Pari.
23

Viễn thông theo hớng t nhân hoá. Mở đầu cuộc cải tổ là sắp xếp lại tổ chức, cơ cấu
của công ty Singapore Telecom nhằm phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
Ngày 1/4/1992, quốc hội Singapore đã ra sắc lệnh thành lập 3 công ty.
- TAC là cơ quan quản lý, khuếch trơng và phát triển ngành công nghiệp Bu
chính - Viễn thông.
- Singapore Telecom là công ty Viễn thông công cộng đợc khoán thầu (vẫn lấy
tên là Singapore Telecom)
- Singapore Post là công ty Bu chính công cộng.
24
Trong quá trình t nhân hoá, cổ phiếu Công ty Singapore Telecom phần lớn
thuộc sở hữu Nhà nớc. Trong tổng số cổ phiếu của công ty Singapore Telecom thì chỉ
có 11% là của t nhân trong nớc và nớc ngoài, còn lại là thuộc Chính phủ.
Tuy nhiên trong kinh doanh dịch vụ Viễn thông giá trị gia tăng, chính phủ
Singapore cho phép cạnh tranh tự do, các công ty nớc ngoài, trong nớc đều có quyền
khai thác.
Còn trong cung cấp dịch vụ cơ bản, từ nay đến năm 2000 sẽ có thêm 2 công ty
khai thác sẽ đợc cấp giấy phép. Mở cửa thị trờng điện thoại và dữ liêu di động, dịch vụ
vô tuyến trung kế, dịch vụ nhắn tin vào tháng 4/2000. Các dịch vụ bán lại nội hạt và
quốc tế đối với cá dịch vụ điện điện thoại số liệu, TSDN đợc tự do cạnh tranh. Hạn
chế vốn nớc ngoài là 49% đối với các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật. Đến năm 2007, thị trờng dịch vụ Viễn thông Singapore sẽ đợc tự do hoá hoàn
toàn.
2.2. Hàn Quốc.
Korea Telecom (KT) vẫn là nhà cung cấp của Chính phủ chi phối dịch vụ Viễn
thông cơ bản của Hàn Quốc đến tận những năm 80. Năm 1990, Bộ Bu điện và thông
tin Hàn Quốc (MIC) lần đầu tiên cho phép tiến hành cạnh tranh và một chế độ song
quyền đợc hình thành trong thị trờng dịch vụ Viễn thông quốc tế với sự tham gia của
công ty DACOM. Năm 1992, MIC cho phép tiến hành cạnh tranh trong thị trờng dịch
vụ nhắn tin vô tuyến.Còn thị trờng điện thoại di động tế bào đợc bắt đầu từ năm 1994
và thị trờng dịch vụ điện thoại đờng dài bắt đầu từ năm 1995. Năm 1996, MIC chọn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status