chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông việt nam trước xu thế hội nhập quốc tế - Pdf 13

lời nói đầu
1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,
ngành Viễn thông Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt
Nam đã nhanh chóng hiện đại hoá được mạng lưới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về
cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Đến hết
năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số huyện đã được trang bị tổng đài điện
tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu hết các tỉnh, thành phố, thị
xã đã liên lạc trực tiếp khắp cả nước và các nước trên thế giới qua 3 tổng đài, 6 trạm
vệ tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà nhập với
mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam
vẫn còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nước ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và
trong khi đó ở Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100
dân, Hàn Quốc 43,04 máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62
máy/100 dân Mục tiêu đến năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đưa
mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100 dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp
tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại
đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Để đạt được mục
tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt Nam đòi hỏi một
khối lượng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trước xu
thế hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã
lan sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn
thông Việt Nam khi bước vào thế kỷ 21. Đứng trước những yêu cầu như vậy, thì từ
nay đến năm 2020 dịch vụ Viễn thông Việt Nam phải có một chiến lược phát triển
phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đất nước, phù hợp với hiện trạng Viễn thông Việt
Nam; để có thể phát huy được nội lực, thu hút vốn nước ngoài và hội nhập quốc tế.
Từ tình hình đó, đề tài “Chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn
thông Việt Nam trước xu thế hội nhập quốc tế” mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực
tiễn quan trọng.
1

gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế. Để rút ra được những kinh nghiệm và bài học cho
chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong
thời gian tới, trong chương này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị
trường dịch vụ Viễn thông của một số nước trên thế giới. Chương I bao gồm 4 vấn
đề được trình bày sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trước xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược tự do hóa và mở cửa
thị trường dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông
các nước trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lưu không thể đảo ngược, và việc tham gia của
các quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế
thương mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng được củng cố và phát triển cả về
lượng và chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bước sang
một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá “Cơn lốc hoà nhập kinh tế “đã cuốn tất cả
các nước trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến
chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đưa
nền kinh tế thế giới thành một nền kinh tế hoà nhập ngày càng đậm nét với một thị
trường buôn bán toàn cầu sôi động. Đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, hội
nhâp kinh tế quốc tế là con đường ngắn nhất để họ nhanh chóng xác lập vị thế quốc
tế, là phương thức phát triển giúp họ đẩy mạnh chi phối và dẫn dắt các xu thế kinh tế
3
toàn cầu. Còn đối với các quốc gia đang phát triển hội nhập kinh tế quốc tế không
những là chiến lược quan trọng thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế xã hội mà còn là
sự lựa chọn không thể tránh khỏi để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Hơn

mại thế giới là 9,5%. Tương tự năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm
4
1997:4,1% và 9,4%. Mặc dù trong năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ ở châu á nhưng tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thương mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực
như liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dương -
APEC, khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-
AFTA đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thương mại thế giới.
Trong đó tổ chức thương mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy xu hướng toàn cầu hoá thương mại. Tại hội nghị cấp bộ trưởng lần thứ
nhất của WTO họp ở xingapore với 128 nước tham gia đã thông qua được hiệp định
công nghệ thông tin ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt
hàng bán dẫn, các sản phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm
và các thiết bị khoa học. Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay,
vòng đàm phán Singapore càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thương
mại toàn cầu
Như vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trường, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nước phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thương mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một nhân tố rất
quan trọng để thúc đẩy xu thế toàn cầu hoá. Tổng giá trị FDI toàn thế giới năm 1994
là 209 tỷ USD; năm 1995 là 260 tỷ USD; năm 1996 là 320 tỷ USD; năm 1998 là 450
tỷ USD. Với việc đầu tư ra nước ngoài đã góp phần làm tăng nhanh quá trình quốc tế
hoá đời sống kinh tế Thế giới, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn thương mại quốc tế.
Nhưng ngược lại chính xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá kinh tế quốc tế càng thúc
đẩy các công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài. Các nước G7 là các nước đứng đầu
về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. FDI vào châu á chiếm khoảng 1/3 FDI toàn thế giới

Trong những năm qua, các tổ chức liên kết tiểu khu vực và khu vực tiếp tục
phát triển. ở châu Phi, cộng đồng kinh tế các nước Tây phi (ECOWAS) nằm trong
khu vực nghèo nhất thế giới gồm 16 nước thành viên trong đó có Nigeria, Ghana,
Mali, Senegan đã xúc tiến từng bước việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000
và liên minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nước thành
viên Cộng đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định thư vào năm
1996 thành lập khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế
quan trong thời hạn tối đa 8 năm
Các nước ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ tư trên thế giới
với 250 triệu người tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan
giữa các nước này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
6
Tại châu á, trong những năm qua xu hướng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nước
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực Thái
Bình Dương phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cường hợp tác khu vực
nhằm tạo một thị trường có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nước trong tổ chức
SAARC -Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ,
Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cường
buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu tư và kỹ thuật với hy vọng
thành lập được một khu vực buôn bán giống như ASEAN
Việc tổ chức ASEAN chính thức kết nạp Lào và Myanmar trong thời gian vừa
qua đã mở ra triển vọng to lớn hình thành Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam á
ASEAN và khu vực mậu dịch tự do thương mại AFTA bao gồm toàn thể 10 nước ở
trong khu vực. Hiện tại ASEAN với 9 nước thành viên là khu vực kinh tế lớn thứ tư
trên thế giới, có diện tích 3,3 triệu km2 với 400 triêu dân, có GDP hơn 550 tỷ USD,

Việt nam và Mỹ, hai nước đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các hiệp định
kinh tế song phương về các vấn đề về nợ , bản quyền, từng bước bình thường hoá
quan hệ kinh tế thương mại. Song song với những việc trên, trong những năm qua
Việt Nam tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF nhằm tận
dụng một cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển
kinh tế và hội nhập quốc tế của mình. Nhưng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ
trên đều phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa
và hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nước đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi,
tham gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nước trên thế
giới.Vì vậy, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho
chúng ta, mặt khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nước. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hướng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ
hội để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế và mở rộng
được nhiều thị trường xuất khẩu ra bên ngoài do việc được hưởng quy chế tối huệ
quốc (MFN) và ưu đãi quốc gia (NT) của các nước thành viên, đặc biệt là các mặt
hàng xuất khẩu mà ta có lợi thế so sánh như gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép
8
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp
tác về thương mại với các nước khu vực châu á - Thái Bình dương. Thương mại giữa
Việt Nam và các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương chiếm hơn 80% tổng
lượng thương mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai
thác được lợi thế, tận dụng những ưu đãi của APEC dành cho các nước đang phát
triển, tránh rơi vào thế bị cô lập trong xu thế hợp tác và cạnh tranh khu vực.
+ Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế Việt Nam phải tiến hành cải cách

+ Việt Nam phải tiếp tục cải cách hệ thống thương mại và kinh tế của mình
phù hợp với các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các khu vực cần phải cải
cách hơn nữa gồm hệ thống giá, chế độ xuất nhập khẩu, hệ thống thuế và tài chính,
các hoạt động thương mại của khu vực doanh nghiệp Nhà nước và bảo hộ quyền tác
giả. Các nghĩa vụ khác Việt Nam sẽ phải thực hiện bao gồm: Minh bạch hoá chế độ
thương mại, áp dụng thống nhất chính sách thương mại trên phạm vi cả nước; và có
thời gian biểu cho quá trình cải cách kinh tế.
3.2.2. Những thách thức:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thương mại và đầu tư, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hưởng rất lớn
nếu như cải cách trong nước không được thực hiện kịp thời và đúng lượng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế
thương mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo được những điều kiện hợp
lý để tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có
thể giải quyết được trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế
xuất nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn
thu đã không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng như kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản
xuất đến dịch vụ chưa chuẩn bị hay chưa xây dựng một chiến lược thống nhất về hội
nhập để tăng cường sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tượng Việt Nam
trên thương trường quốc tế.
+ Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông Nam á có phần nào tác động tới
nền kinh tế Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới quá trình mở cửa và hội nhập kinh

nguyên tắc của WTO về dịch vụ Viễn thông trong hiệp định chung về thương mại
dịch vụ.
11
Phân loại dịch vụ Viễn thông trong WTO/ GATS
I. Các dịch vụ Viễn thông cơ bản:
1. Các dịch vụ thoại.
2. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói.
3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh.
4. Các dịch vụ TELEX.
5. Các dịch vụ Telegraph.
6. Các dịch vụ Facsimile.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ thư điện tử (E mail)
2. Dịch vụ thư thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lưu trữ
và tự động chuyển, lưa trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).
8. Các dịch vụ khác.
Đối với các dịch vụ giá trị gia tăng (VAS) là những dịch vụ Viễn thông đầu

phát triển, các nước này cũng đã cam kết sẽ tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ
Viễn thông từ nay đến năm 2020.
Hiện tại giá trị doanh thu từ Viễn thông quốc tế chỉ chiếm khoảng trên 10%
trong tổng số 670 tỷ USD của thị trường Viễn thông toàn cầu. Tuy nhiên, với kết quả
đạt được của GBT trong WTO, với xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự thay đổi
nhanh chóng của công nghệ và xu thế cạnh tranh ngày càng tăng, tỷ lệ trên có thể
tăng lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới.
13
1.2. Xu hướng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hướng
khuyến khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư
nhân trong khai thác dịch vụ Viễn thông.
Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển, thị trường dịch
vụ Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị
về mặt truy nhập nội hạt và lưu lượng đường dài trong nước và quốc tế. Đồng thời
các công ty này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc
quyền đã làm cho giá cả thường mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến
khích giảm chi phí hay nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền
trong Viễn thông có liên quan đến an ninh quốc phòng. Nhưng trước xu thế toàn cầu
hoá, tự do hoá trong khai thác dịch vụ Viễn thông, hầu như Chính phủ các nước trên
thế giới đã cho phép thêm nhiều công ty được tham gia vào thị trường dịch vụ Viễn
thông. Các lĩnh vực khuyến khích các công ty tham gia khác thác thường là các lĩnh
vực hấp dẫn, có lợi nhuận cao như là các dịch vụ đường dài quốc tế, di động, các thiết
bị đầu cuối khách hàng và các dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty được
tham gia khai thác dịch vụ Viễn thông nhằm tăng cường sự tham gia của các thành
phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc
đẩy Viễn thông phát triển. Tuy nhiên việc đưa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn
thông không phải là một quá trình xảy ra nhanh chóng kể cả những nước công nghiệp
phát triển như Anh, Mỹ, Pháp Thông thường lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai
hoặc ba công ty cạnh tranh khai thác các dịch vụ Viễn thông, và các công ty mới
thành lập thường bị hạn chế về phạm vi khai thác.Ví dụ:Như ở các nước đang phát

ngày càng tăng khi mà tự do hoá Viễn thông đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới
Tóm lại, xu hướng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hướng khuyến
khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong khai thác
dịch vụ Viễn thông ngày càng phổ biến gần như toàn bộ các nước trên thế giới với
mục tiêu tăng cường hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nước, hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư
nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về thông tin Viễn thông của
xã hội và người sử dụng
Khi xem xét hai xu hướng chủ yếu về Viễn thông kể trên phải kể đến vai trò
của các công ty đa quốc gia - MNCs trong lĩnh vực khai thác dịch vụ Viễn thông.
Chính các công ty này là chất xúc tác cho quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá Viễn
thông. Các MNCs đã xây dựng một mạng lưới thông tin có tính toàn cầu từ đầu này
đến đầu kia, không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ước,
hiệp định về tự do hoá thương mại dịch vụ Viễn thông giữa các nước được thực hiện
thì các MNCs thường thường hay liên minh với các công ty khai thác nhà nước ở
nước sở tại để xâm nhập vào thị trường các nước này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn
thông chủ yếu tập trung ở các nước phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi
15
thế về vốn, công nghệ, thị trường các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các
loại hình dịch vụ Viễn thông, từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản.
1.3. Xu hướng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh
truyền hình và đa phương tiện.
Bước vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật
Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần
dần nới lỏng việc quản chế thị trường Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học
và phát thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ
lẫn nhau, ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trước kia ngày càng không rõ
ràng. Sự hoà nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lưới, hoà nhập về
nghiệp vụ và hoà nhập về thị trường. Xu hướng này được chứng minh bởi sự sáp
nhập và liên hợp ngày càng nhiều của các công ty khai thác Viễn thông, máy tính

về dịch vụ thông tin và trở thành nền tảng hết sức quan trọng để "Xã hội công
nghiệp" chuyển sang thời kỳ của "Xã hội thông tin".
2. Tự do hoá dịch vụ Viễn thông - nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia
các tổ chức kinh tế quốc tế.
Năm 1995, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã mở
ra một thời kỳ mới cho kinh tế đối ngoại đó là thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đến
tháng 8 năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào tổ chức kinh tế châu á - Thái Bình
Dương - APEC. Và trong thời gian tới Việt Nam đang nỗ lực đàm phán, thương
lượng để được gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, và cũng đang tiến
hành thương lượng với Hoa Kỳ để đi đến ký hiệp định thương mại giữa hai nước. Tuy
nhiên để hội nhập đầy đủ vào các tổ chức này thì Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ mà các tổ chức kinh tế quốc tế yêu cầu trong đó có nghĩa vụ tự do hoá
thương mại dịch vụ. Trước xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá và mở cửa thị trường dịch
vụ Viễn thông trên thế giới, thì vấn đề tự do hoá Viễn thông là một yêu cầu, một
nghĩa vụ cấp bách đối với Việt Nam khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt
để được gia nhập vào WTO cũng như ký được hiệp định thương mại Việt Mỹ thì tự
do hoá dịch vụ Viễn thông là một trong những vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu.
2.1. Trong tổ chức thương mại thế giới - WTO.
Sau vòng đàm phán Uruguay, quá trình tự do hoá thương mại được mở rộng ra
đối với cả thương mại dịch vụ. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GATS là nỗ lực
đầu tiên để đưa lĩnh vực thương mại dịch vụ theo những nguyên tắc điều tiết của thương
mại đa biên. GATS đưa ra một số quy định về nghĩa vụ chung và những yêu cầu cụ thể
trong thương mại dịch vụ. GATS đề cập đến một số khái niệm, nguyên tắc và quy định
cho phép các nước đang phát triển linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quá trình tự do
hoá thương mại dịch vụ. Trong vòng đàm phán Uruguay về thương mại đa biên, 11
ngành dịch vụ đã được đưa ra đàm phán trong đó có lĩnh vực dịch vụ Viễn thông.
Hiện tại, thị trường dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam vẫn được chính phủ bảo
hộ ở mức khá cao. Chỉ có 3 công ty được phép khai thác dịch vụ Viễn thông đó là:
17
Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam - VNPT; Công ty Viễn thông quân

Việt Nam đã tham gia cam kết trên cơ sở thể chế hiện hành. Do vậy trong thời gian
Việt Nam chưa trở thành thành viên chính thức của WTO thì Viễn thông Việt Nam
chưa phải chịu sức ép gì lớn về mở cửa thị trường.
2.3. Trong tổ chức kinh tế châu á - Thái bình dương (APEC).
18
Về tiến trình tự do hoá các hoạt động Viễn thông trong APEC đều nhằm vào
mục tiêu như đã đặt ra trong hội nghị cấp cao không chính thức AELM lần 2 (Bogor,
1994) và AELM lần 3 (Osaka, 1995), tức là thực hiện liên tục giảm những hạn chế,
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại dịch vụ, dành cho nhau ưu
đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia đi theo tiến trình của hiệp định đàm phán
Uruquay về thương mại dịch vụ GATS của tổ chức thương mại thế giới WTO.
APEC hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện thể hiện ở hai điểm:Thứ
nhất, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn kinh tế liên chính phủ nhằm xúc tiến sự hợp
tác, tăng trưởng và phát triển của khu vực. Thứ hai, APEC chỉ là một diễn đàn tư vấn
kinh tế nên nó không đưa ra những chỉ thị, nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với
các thành viên, mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi
ích của các bên. Do vậy trong quá trình hợp tác, Việt Nam có thể tham gia ở lĩnh vực
và mức độ nào đó mà Việt Nam đủ khả năng. APEC đưa ra chương trình tự do hoá
mậu dịch đối với cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng là năm 2010 với các nước phát
triển và năm 2020 với các nước thành viên đang phát triển. Mỗi nước thành viên
được tuỳ ý, căn cứ vào thực tiễn đất nước mình mà đưa ra một kế hoạch hành động
trong đó vạch rõ lộ trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác gây
cản trở thương mại và đầu tư. Vì vậy trước mắt Viễn thông Việt Nam sẽ không gặp
nhiều khó khăn khi tham gia APEC vì Việt Nam có thể tạm thời dùng những cam kết
của Việt Nam với ASEAN và trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ để áp dụng với
APEC. Ngoài ra một lợi thế khác là Việt Nam chưa gia nhập WTO.
Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài thì Việt Nam không tránh khỏi phải chịu một sức
ép ngày càng tăng đối với tiến trình tự do hoá thương mại các dịch vụ Viễn thông,
mốc cuối cùng đối với Việt Nam là 2020 - tức là đến 2020 Việt Nam phải tự do hoá
thị trường dịch vụ Viễn thông dành cho nhau các ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc

xu thế mở cửa và hội nhập quốc tế về dịch vụ Viễn thông.
3.1. Những thách thức.
Qua phân tích 3 xu hướng chủ yếu của Viễn thông trên thế giới cũng như yêu
cầu của các tổ chức thương mại quốc tế và khu vực, có thể thấy Viễn thông Việt Nam
sẽ gặp phải một số thách thức chủ yếu khi tiến hành tự do hoá và hội nhập quốc tế về
dịch vụ Viễn thông sau:
+ Hiện tại Việt Nam vẫn chưa có Luật Bưu chính - Viễn thông, hệ thống luật
và văn bản pháp lý có liên quan nói chung cũng chưa được hoàn thiện và đồng bộ.
Điều này gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam trong việc công khai hoá thể chế chính
sách của Viễn thông Việt Nam khi tham gia đàm phán với các tổ chức kinh tế quốc tế
cũng như quá trình xây dựng lộ trình hội nhập về dịch vụ Viễn thông. Mặt khác với
thể chế quản lý yếu kém và lạc hậu tồn tại trong một thời gian dài đã ảnh hưởng
không ít tới sự phát triển của Viễn thông Việt Nam.
+ Hội nhập cũng đồng nghĩa với việc đứng trước những áp lực về mở cửa thị
trường, dành ưu đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cho các nước, các công ty và tổ
chức kinh doanh khai thác dịch vụ Viễn thông nước ngoài. Trong khi đó các công ty
20
trong nước nhất là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam do hoạt động trong
một môi trường độc quyền với một thời gian dài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do sức ép
cạnh tranh từ việc mở cửa thị trường. Mặt khác so với các công ty khai thác dịch vụ
Viễn thông trên thế giới thì các công ty của Việt Nam còn thu kém rất nhiều mặt:
Công nghệ, tài chính, thị trường, kinh nghiệm quản lý và một điều quan trọng là các
công ty này được hoạt động trong một môi trường cạnh tranh khá dài cho nên kinh
nghiệm kinh doanh của họ hơn hẳn các công ty Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới,
việc tự do và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông đồng nghĩa với việc các công ty
trong nước sẽ mất dần thị trường do không đủ sức cạnh tranh với các công ty nước
ngoài.
+ Việc tự do và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông dẫn đến việc thành lập
nhiều công ty trong nước cũng như cho phép các công ty nước ngoài cùng tham gia
vào khai thác dịch vụ Viễn thông. Đối với các công ty, đặc biệt là các công ty nước

điều kiện thuận lợi cho các công ty cung cấp dịch vụ Viễn thông Việt Nam thâm nhập
vào thị trường các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
III - Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lược tự do hoá và mở cửa thị trường
dịch vụ viễn thông Việt Nam
1. Bản chất của tự do hoá và mở cửa thị trường:
Toàn cầu hoá hiểu theo nghĩa rộng là sự gia tăng trong giao lưu quốc tế về
kinh tế xã hội, văn hoá và chính trị trên toàn thế giới. Về kinh tế nó có nghĩa là sự di
chuyển ngày một tăng của các loại hàng hoá, dịch vụ tài chính và các yếu tố của quá
trình sản xuất. Khi các quốc gia cùng tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá thì các
quốc gia đó đang hội nhập với thế giới. Ngày nay quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá trong quan hệ quốc tế không còn là xu hướng mà đã trở thành quy luật khách
quan. Tuy nhiên, để thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội nhập, phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước, trong đó việc hoạch định chiến lược tự
do hoá và mở cửa thị trường đúng đắn cho mỗi ngành và các biện pháp thực hiện
chiến lược đó có vai trò đặc biệt quan trọng. Việc đẩy nhanh quá trình hội nhập vào
nền về kinh tế thế giới thực sự là một thử thách to lớn, đặc biệt là ở các nước đang
phát triển với những điều kiện không thuận lợi như Việt Nam.
Tự do hoá và mở cửa thị trường bắt nguồn từ quá trình phát triển về kinh tế
của các nước có nền về kinh tế thị trường phát triển cao. Khi các thành phần kinh
doanh trong nền về kinh tế đứng trước những áp lực gia tăng của thị trường do cạnh
tranh gay gắt và đòi hỏi Chính phủ phải nới lỏng những ràng buộc cứng nhắc của các
luật lệ, quy chế gây cản trở kinh doanh và bỏ dần sự can thiệp sâu. Điều này đã giúp
cho các thành phần về kinh tế phát triển với quy mô toàn cầu bất chấp sự khác biệt về
thể chế chính trị cũng như trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia khác nhau và
trở thành chất xúc tác quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế thế giới trong quá
trình toàn cầu hoá. Như vậy, tự do hoá và mở cửa thị trường là một chiếc “cầu nối” để
giúp cho nền kinh tế nước đó hội nhập một cách đầy đủ vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá, mở cửa thị trường là
22
mối quan hệ hai chiều, nghĩa là tự do hoá và mở cửa thị trường góp phần đẩy nhanh

ASEAN đang cố gắng đạt được những thoả thuận mới trong thời gian tới.
Trước xu thế tự do hoá và toàn cầu hoá dịch vụ Viễn thông diễn ra hầu hết các
quốc gia trên thế giới và được đưa vào chương trình hành động của tất cả các tổ chức
kinh tế quốc tế và khu vực: WTO, APEC, ASEAN đã đặt ra cho dịch vụ Viễn
23
thông Việt Nam cần có một chiến lược phát triển phù hợp với xu hướng phát triển của
Viễn thông thế giới, đồng thời phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước cũng như thực trạng Viễn thông Việt Nam.
Vậy chiến lược tự do hoá và mở cửa dịch vụ viễn thông là gì?
* Xét một cách tổng thể thì chiến lược là tập hợp những mục tiêu chiến lược
có tính chất dài hạn và những nhiệm vụ của một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh
vực nào đó với hệ thống các giải pháp, chính sách, kế hoạch hành động thực hiện
đồng bộ để đạt được các mục tiêu đó một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, một chiến lược bao giờ cũng có tính chất dài hạn thường từ 10-20
năm, nó luôn mang tính tổng hợp và linh hoạt cho phép khai thác một cách tối ưu
nguồn lực bên trong và bên ngoài để thực hiện được chiến lược đó.
* Trong các doanh nghiệp thì chiến lược được cụ thể hoá dưới góc độ là chiến
lược kinh doanh của một doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và
phát triển thì phải xây dựng một chiến lược kinh doanh phù hợp với thực trạng của
doanh nghiệp đó. Chiến lược kinh doanh là sự tập hợp một cách thống nhất các mục
tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh chiến
lược tổng thể nhất định. Chiến lược kinh doanh được xem xét như một quá trình ra
quyết định trong đó các nhà quản lý, những người ra quyết định cần phải phân tích
môi trường kinh doanh, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, xây
dựng các mục tiêu và tìm kiếm các nguồn lực, các biện pháp cần thiết để đạt được
mục tiêu đó. Mục tiêu là sự cụ thể hoá định hướng chiến lược của doanh nghiệp. Mục
tiêu bao giờ cũng được phân thành mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, căn cứ
vào đó để đề ra các nhiệm vụ thích hợp cho mỗi giai đoạn. Muốn mục tiêu đề ra sát
tình hình thực tế và có tính khả thi phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Thứ nhất, các mục tiêu phải cụ thể hoá không được chung chung để các cấp

+ Cho phép các thành phần kinh tế trong nước (tư nhân, Nhà nước) cùng tham
gia vào kinh doanh khai thác dịch vụ viễn thông.
+ Mở cửa và cho phép các Công ty, tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào
kinh doanh, đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông.
Tự do hoá và mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông trở thành một đòi hỏi cấp
bách trong xu thế hội nhập với khu vực cũng như thế giới hiện nay.
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ Viễn thông các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Tuỳ thuộc vào tình hình phát triển Viễn thông cũng như tình hình kinh tế -
chính trị - xã hội và quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế về Viễn thông của từng
quốc gia qua nhiều giai đoạn khác nhau. Việc nghiên cứu lộ trình mở cửa dịch vụ
Viễn thông của các quốc gia trên thế giới sẽ giúp cho Viễn thông Việt Nam có một
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status