xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam - Pdf 13

Đề cơng chi tiết
A. Lời mở đầu :
B. Nội dung :
I. Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan của các nớc
trong giai đoạn hiện nay:
1. Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan:
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực làm nảy sinh và thúc đẩy quá
trình hội nhập :
1.2. Sự hình thành chủ trơng hội nhập kinh tế quốc tế ở nớc ta:
2. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế ở nớc ta:
3. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam:
3.1. Các bớc đi của ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.2. Một số kết quả bớc đầu đã đạt đợc :
3.3. Những yếu kém và tồn tại cần giảI quyết trong thời gian
tới:
I. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế ở Việt Nam:
1. Quan niệm về một nền kinh tế độc lập tự chủ :
2. Điều kiện và giải pháp chủ yếu để bảo đảm tự chủ về kinh tế
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế :
a. Có đờng lối , chính sách độc lập tự chủ về phát triển kinh tế
xã hội :
b. Phải có tiềm lực kinh tế đủ mạnh :
c. Xây dựng thể chế kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa :
C. Mối quan hệ hữu cơ giữa xây dụng nền kinh tế độc lập tự chủ trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế :
1
Lời mở đầu
Hiện nay , hoà bình và hợp tác quốc tế vì sự phát triển ngày càng trở

2
Nội dung
I. Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan của các n ớc trong giai
đoạn hiện nay:
.1 Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan:
1.1. Tình hình quốc tế và khu vực làm nảy sinh và thúc đẩy quá trình hội
nhập :
Đại hội VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại , chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực , củng cố và
nâng cao vị thế nớc ta trên trờng quốc tế . Đại hội lần thứ IX khẳng định
chủ trơng phát huy cao độ nội lực , đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh , có hiệu
quả và bền vững
(1)
. Chủ trơng hội nhập kinh tế quốc tế đợc đề ra trong bối
cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến nhanh chóng , phức tạp , khó l-
ờng trớc đợc , với những đặc điểm sau :
Trong hơn thập kỷ qua , kinh tế thế giới nhìn chung phát triển không
đồng đều . Trên thế giới đã xảy ra mấy cuộc khủng hoảng lớn , sâu rộng
hơn cả là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nổ ra năm 1997. Vị thế
các nớc và các khu vực thay đổi theo hớng : kinh tế Mỹ phát triển nhanh và
ổn định liên tục trong nhiều năm và đến 2002 bắt đầu suy giảm ; kinh tế
Tây Âu hiện khong còn phát triển nhanh nh các thập kỷ trớc ; kinh tế Nhật
suy thoáI cha có lối ra ; các nơc thuộc Liên Xô trớc đây và các nớc Đông
Âu rơi vào tình trạng suy thoái kéo dài , vài năm gần đây tăng trởng tơng
đối khá ; kinh tế Trung Quốc phát triển ngoạn mục ; Đông Nam á và Đông
á phát triển nhanh vào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trớc, tuy nhiên
vừa qua đã rơi vào suy thoái và nay đang hồi phục ; Nam á và nhất là Châu
Phi vẫn cha thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài ; kinh tế Mỹ la tinh có khá
hơn song cũng không ổn định .

giíi (WB) , Liªn minh Ch©u ¢u (EU) , khu vùc th¬ng m¹i tù do B¾c
Mü(NAFTA) …
HiƯn nay, c¸c níc lín, nhá ®Ịu giµnh u tiªn cho ph¸t triĨn kinh tÕ , theo
®i chÝnh s¸ch kinh tÕ më. Nay nh÷ng níc cã tiỊm n¨ng vµ thÞ trêng lín
nh Trung Qc , Nga , Ên §é , Mü vµ c¶ mét sè n… íc vèn khÐp kÝn , theo
m« h×nh tù cung tù cÊp còng dÇn dÇn më cưa , tõng bíc héi nhËp vµo nỊn
kinh tÕ khu vùc vµ thÕ giíi .
MỈt kh¸c céng ®ång thÕ giíi ®ang ®øng tríc nh÷ng vÊn ®Ị toµn cÇu mµ
kh«ng mét qc gia riªng lỴ nµo cã thĨ tù gi¶i qut nÕu kh«ng cã sù hỵp
t¸c ®a ph¬ng nh : b¶o vƯ m«i trêng , h¹n chÕ sù bïng nỉ d©n sè , ®Èy lïi
dÞch bƯnh hiĨm nghÌo , chèng téi ph¹m qc tÕ …
Tuy nhiªn trong xu thÕ ®ã , c¸c níc c«ng nghiƯp ph¸t triĨn , ®øng ®Çu lµ
Mü, do có u thÕ vỊ thÞ trêng , n¾m ®ỵc tiÕn bé khoa häc - c«ng nghƯ, cã
nỊn kinh tÕ ph¸t triĨn cao , ®· ra søc thao tóng , chi phèi thÞ trêng thÕ giíi ,
¸p ®Ỉt ®iỊu kiƯn víi nh÷ng níc chËm ph¸t triĨn h¬n , thËm chÝ dïng nhiỊu
biƯn ph¸p th« b¹o nh bao v©y cÊm vËn , trõng ph¹t , lµm thiƯt h¹i lỵi Ých
cđa c¸c níc ®ang ph¸t triĨn vµ chËm ph¸t triĨn. Tríc t×nh h×nh ®ã c¸c níc
®ang ph¸t triĨn ®· tõng bíc tËp hỵp nhau l¹i ,®Êu tranh chèng chÝnh s¸ch c-
êng qun ¸p ®Ỉt cđa Mü ®Ỵ b¶o vƯ lỵi Ých cđa m×nh v× mét trËt tù kinh tÕ
b×nh ®¼ng, c«ng b»ng.
Ở khu vùc §«ng Nam ¸ đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc. Mặc dù
trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính trầm trọng trong thời gian
1997-1998 , song vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng do vò trí đòa lý
chính trò và đòa lý kinh tế của mình , dung lượng thò trường lớn , tài
nguyên phong phú , lao động dồi dào , được đào tạo tốt , có quan hệ
quốc tế rộng rãi.
4
Toàn bộ tình hình trên đem lại nhiểu thuận lợi to lớn , đồng thời cũng
đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trình phát triển
đất nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng.

đồng thế giới , phấn đấu vì hoà bình , độc lập và phát triển”. Hội nghò
Trung ương lần thứ 3 khoá VII đã ra nghò quyết về chính sách đối ngoại,
trong đó nêu ra tư tưởng chỉ đạo là “giữ vững nguyên tắc độc lập , thống
5
nhất và CNXH , đồng thời phải rất sáng tạo . Năng động , linh hoạt ,
phù hợp với vò trí , điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như
diễn biến của tình hình thế giới và khu vực , phù hợp với từng đối tượng
nước ta có quan hệ ”. Đồng thời nghò quyết cũng nêu ra bốn phương
châm: bảo đảm lợi ích dân tộc ,trong đó kết hợp nhuần nhuyễn chủ
nghóa yêu nước với chủ nghóa quốc tế của giai cấp công nhân ; giữ vững
độc lập tự chủ , tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá , đa phương hoá
các quan hệ đối ngoại ; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong
quan hệ quốc tế ; ưu tiên hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ
với tất cả các nước.
- Đại hội lần thứ VIII họp tháng 6/1996 đã khẳng đònh chủ trương
“xây dựng một nền kinh tế mở”, “ đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới”. Hội nghò Trung ương 4 khoá VIII nêu nhiệm vụ
“tích cực chủ động thâm nhập và mở rộng thò trường quốc tế”, “tiến
hành khẩn trương , vững chắc việc đàm phán Hiệp đònh thương mại với
Mỹ”, “gia nhập APEC và WTO , có kế hoạch cụ thể để chủ động thực
hiện cam kết trong khuôn khổ AFTA”.
2. Quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước
ta:
- Quán triệt chủ trương được xác đònh tại Đại hội IX là : “ Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực , nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế , bảo đảm độc lập tự chủ và
đònh hướng xã hội chủ nghóa , bảo vệ lợi ích dân tộc , an ninh quốc gia ,
giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ mội trường”.
(2)
- Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá trình

với các tổ chức này , chúng ta chỉ chấp nhận sự hỗ trợ tài chính nếu yêu
cầu của họ không tái với đường lối chính sách của ta ; có năm điều kiện
họ đưa ra vi phạm chủ quyền và lợi ích của ta nên ta không nhận .
- Ngày 25/7/1995, nước ta đã chính thức gia nhập ASEAN, đồng thời
tham gia khu vực mậu dòch tự do ASEAN (AFTA) . Từ ngày1/1/1996,
chúng ta bắt đầu thực hiện nghóa vụ và các cam kết trong chương trình
ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEFT) của AFTA. Ngoài ra chúng
ta còn tham gia đàm phán hiệp đònh thương mại dòch vụ , tham gia
chương trình hợp tác công nghiệp (AICO) và khu vực đầu tư ASEAN
(AIA) cũng như các chương trình hợp tác trong công nghiệp , nông
nghiệp , giao thông vận tải … của ASEAN.
- Tháng 3/1996 nước ta tham gia diễn đàn hợp tác Á – ÂU (ASEM)
với tư cách là thành viên sáng lập. Nội dung chủ yếu tập trung vào
thuận lợi hoá thương mại , đầu tư vf hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp
Á – ÂU . Cam kết về tự do hoá thương mại đàu tư chưa dược đặt ra .
- Ngày 15/6/1996, Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) . Tháng 11/1998 đã được
công nhận là thành viên chính thức của tổ chức này. APEC quyết đònh
thực hiện hội nhập đầy đủ vào năm 2010 đối với thành viên là các nước
7
phát triển và vào năm 2020 đối với các nước đang phát triển (trong đó
có Việt Nam ).
- Tháng 12 / 1994 , ta gửi đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) . Cho tới nay , chúng ta đã tiến hành bốn phiên đàm phán
(mỗi năm 2 phiên) tập trung giải thích chính sách kinh tế – thương mại
của ta . Để gia nhập WTO , ta sẽ phải vừa tiến hành đàm phán đa
phương với WTO vừa đàm phán song phương với khoảng trên 30 nước.
3.2. Một số kết quả bước đầu đã đạt được :
- Chúng ta đã đẩy lùi dược chính sách bao vây cô lập , cấm vận của
các thế lực thù đòch , tạo dựng được môi trường quốc tế , khu vực thuận

của IMF ,WB , ADB, Nhật Bản … được khai thông và không ngừng tăng.
Cho đến nay, tổng mức cam kết tài trợ là 13,04 tỷ USD, trong đó vốn đã
được ký là gần 10 tỷ USD và số vốn đã giải ngân tới cuối năm 1999 là
gần 6 tỷ USD. Riêng tại hội nghò Nhóm tư vấn lần thứ 7 tại Hà Nội
tháng 12/1999 , các nhà tài trợ đã cam kết dành cho Việt Nam 2,15 tỷ
USD cùng với 700 triệu USD để giúp Việt Nam đẩy nhanh quá trình đổi
mới kinh tế. Việc khai thông quan hệ với IMF và WB cũng tạo điều
kiện cho ta giải quyết một bước quan trọng vấn đề nợ nước ngoài ; đã
giảm được tới 70% nợ các nước từ năm 1993 về trước, góp phần ổn đònh
cán cân thu chi ngân sách, tập trung nguồn lực cho các chương trình phát
triển kinh tế – xã hội , mở ra khả năng vay được vốn qua các kênh
khác.
- Tiếp thu khoa học và công nghệ , kỹ năng quản lý , góp phần đào
tạo đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh . Hội nhập kinh tế
quốc tế đã tạo cơ hội để nước ta tiếp cận với những thành quảcủa cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trên thế
giới . Nhiều công nghệ hiện đại , dây chuyền sản xuất tiên tiến dược sử
dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản xuất. Đồng
thời thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài , các doanh
nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý sản xuất
hiện đại .
- Từng bước đưa hoạt độngcủa các doanh nghiệp và cả nền kinh tế
vào môi trường cạnh tranh ,nhờ đó tạo được tư duy làm ăn mới , thúc
đẩy sự chuyển dòch cơ cấu kinh tế , nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh . Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều doanh nghiệp đã
nỗ lực đổi mới công nghệ , đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất
lượng , khong ngừng vươn lên trong cạnh tranh và phát triển , và thực tế
sức cạnh tranh của họ cũng được nâng lên đáng kể . Một tư duy mới ,
một nếp làm ăn mới , lấy hiệu quả sản xuất và kinh doanh làm thước
đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp năng đôïng , sáng tạo có kiến

- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập
kinh tế quốc tế và một lộ trình hợp lý cho việc thực hiện các cam kết
quốc tế. Thời gian qua chúng ta vừa tiến hành hội nhập , vừa triển khai
nghiên cứu những nội dung cam kết để xác đònh chủ trương , phương
hướng hành động nhưng thường bò động đối phó với nhiều khuyến nghò
do các đối tác nước ngoài nêu ra; không có đủ cơ sở để hướng dẫn các
doanh nghiệp xây dựng chương trình cải tiến quản lý , nâng cao khả
năng cạnh tranh , chủ động vươn ra thò trường khu vực và thế giới .
- Luật pháp , chính sách quản lý kinh tế thương mại chưa hoàn chỉnh.
Luật pháp , chính sách là công cụ để đảm bảo hội nhập thành công ,
10
kinh tế phát triển . Cáùc hoạt động hợp tác kinh tế thương mại quốc tế
đang diễn ra theo thể chế kinh tế thò trường , theo xu thế thuận lợi hoá ,
tự do hoá , theo “luật chơi” của các thể chế kinh tế quốc tế và khu vực.
Nhưng hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách của ta chưa hoàn chỉnh,
không đồng bộ , gây nhiều khó khăn cho ta khi đáp ứng các cam kết của
các tổ chức kinh tế quốc tế. Việc hoàn chỉnh luật pháp và chính sách
của ta phải phù hợp với thông lệ quốc tế và những quy tắc của các tổ
chức mà nước mình tham gia , vừa phù hợp với đặc thù của nước ta , đặc
biệt là bảo đảm được đònh hướng xã hội chủ nghóa. Ta cũng chưa nghiên
cứu sâu để đề xuất những biện pháp chính sách cần thiết , những cách
làm khôn khéo , hợp lý nhằm tận dụng những ưu đãi mà quốc tế dành
cho nước đang phát triển và kém phát triển như quy chế tối huệ quốc,
đãi ngộ quốc gia , chế độ hạn ngạch thuế quan , quyền tự vệ , chống
bán phá giá … bảo vệ lợi ích của ta.
- Doanh nghiệp của ta còn yếu cả về sản xuất quản lý và khả năng
cạnh tranh. Doanh nghiệp nước ta hầu hết quy mô nhỏ , yếu kém về cả
hai mặt quản lý và công nghệ , lại hình thành và hoạt động quá lâu
trong cơ chế bao cấp . Chúng ta chưa tạo đủ cơ chế , biện pháp có hiệu
lực nhằm kích thích các doanh nghiệp gắn sự tồn tại và phát triển của

độc lập tự chủ về các mặt khác , tạo thành sự độc lập tự chủ và sức
mạnh tổng hợp của quốc gia .
Độc lập tự chủ về kinh tế trước hết là không bò lệ thuộc vào nước
khác , vào một tổ chức quốc tế nào đó về đường lối , chính sách phát
triển kinh tế , vào những điều kiện kinh tế, chính trò mà người khác áp
đặt cho mình trong hợp tác song phương , đa phương , hoặc trong tiếp
nhận viện trợ mà những điều kiện ấy gây tổn hại cho chủ quyền quốc
gia và lợi ích cơ bản của dân tộc .
Một sự tự chủ về kinh tế cũng có nghóa là trước những chấn động của
thò trường, của khủng hoảng kinh tế , tài chính ở bên ngoài , về cơ bản
vẫn giữ được sự ổn đònh của nền kinh tế quốc gia và đònh hướng phát
triển
Một sự tự chủ về kinh tế cũng còn có nghóa là trước sự bao vây , cô
lập và chống phá về kinh tế , chính trò của các thế lực thù đòch bên
ngoài, đất nước vẫn trụ vững , không bò sụp đổ về kinh tế và chính trò .
Như vậy , độc lập tự chủ về kinh tế của nước ta đồng thời cũng là
bảo đảm vững chắc cho đònh hướng xã hội chủ nghóa theo đường lối ,
chủ trương của Đảng đề ra, không có bất kỳ sự áp đặt nào từ bên ngoài .
Khác với trước đây, khi nói đến độc lập tự chủ , người ta thường hình
dung là một nền kinh tế khép kín , tự cung tự cấp ; trong điều kiện ngày
nay độc lập tự chủ kinh tế phải là độc lập tự chủ trong phát triển nền
kinh tế thò trường mở cửa, hội nhập với nền kinh tế thế giới , chủ động ,
tích cực tham gia sự giao lưu , hợp tác , phân công lao động quốc tế và
12
trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc gia để
hợp tác và cạnh tranh quốc tế có hiệu quả.
Về mức độ , xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là một quá trình từ
thấp đến cao . Độc lập tự chủ kinh tế ở mức đọ cao là phải đạt được đầøy
đủ những yêu cầu , nội dung nêu trên và những điều kiện cụ thể nêu ở
phần dưới. Đồng thời , phải có mức độ tối thiểu cần thiết cơ bản bảo

13
tranh chung của toàn bộ nền kinh tế )dựa trên việc phát huy lợi thế so
sánh về các mặt của đất nước : con người , nguồn nhân lực , tài nguyên
thiên nhiên , vò trí đòa lý , với việc vận dụng tốt những yếu tố tiến bộ
khoa học kỹ thuật và công nghệ, giáo dục – đào tạo , văn hoá , tổ chức
và quản lý , cơ chế và chính sách .Thực tế cho thấy , trong cuộc khủng
hoảng kinh tế – tài chính khu vực vừa qua , nền kinh tế nào có sức cạnh
tranh cao trên thò trường cả trong nước và quốc tế thì nền kinh tế đó có
sức chòu đựng cao hơn và hạn chế được tác động của khủng hoảng nhiều
nhất . Thực tế cũng cho thấy , không nhất thiết phải là một nền kinh tế
lớn mới đạt được trình độ cạnh tranh cao , mà một nền kinh tế nhỏ nếu
biết khai thác , vận dụng , phát huy đến mức cao nhất các yếu tố nêu
trên , đặc biệt là yếu tố con người – nguồn nhân lực có chất lượng cao ,
sự tiến bộ khoa học –công nghệ và năng lực quản lý thì vẫn có thể đạt
được sức cạnh tranh tốt . Để tạo ra được sức cạnh tranh kinh tế của quốc
gia thì cần hội đủ nhiều yếu tố trong đó đặc biệt quan trọng là xây dựng
và luôn luôn hoàn chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý gắn với cơ cấu công nghệ
tiến bộ , gây dựng năng lực nội sinh cần thiết về khoa học và công nghệ
của đất nước.
- Cơ cấu kinh tế hợp lý trong điều kiện cụ thể của nước ta và trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là một cơ cấu có khả năng tạo ra hiệu quả
cao , đáp ứng được yêu cầu gia tăng sức cạnh tranh ; thực hiện tái sản
xuất mở rộng , tạo được sự phát triển nhanh , hiệu quả và bền vững theo
đònh hướng XHCN; giữ được ổn đònh kinh tế xã hội . Cơ cấu kinh tế này
bao gồm cơ cấu các ngành và lónh vực kinh tế chủ yếu ; cơ cấu các vùng
lãnh thổ ; cơ cấu thành phần kinh tế ; cơ cấu giữa kinh tế trong nước và
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài … trong đó cơ cấu các ngành, lónh vực
kinh tế chủ yếu là có vai trò quan trọng hàng đầu . Trong khi hình thành
cơ cấu kinh tế hợp lý phải xem xét hiệu quả tổng hợp cả về kinh tế – xã
hội , môi trường , an ninh quốc phòng , trong đó phải ưu tiên cho hiệu

trong từng đòa bàn hẹp , là sản xuất lương thực với bất cứ giá nào mà
không tính đến hiệu quả so sánh , mà là phải làm tốt việc điều chuyển
lương thực giữa các vùng và có dự trữ quốc gia đầy đủ về lương thực .
Cần có quy hoạch về sử dụng đất cho sản xuất lương thực và có chính
sách về giá lương thực khuyến khích và bảo đảm lợi ích của người sản
xuất. Không thể đặt vấn đề chỉ cần có đủ ngoại tệ để mua và nhập khẩu
lương thực . Làm như vậy là tự tước bỏ đi một thế mạnh kinh tế quan
trọng , một khả năng hiện thực sẵn có về tự chủ kinh tế .
+ Vấn đề năng lượng : dù sự phát triển của lực lượng sản xuất , sự văn
minh của cuộc sống con người thay đổi rất nhanh , năng lượng vẫn giữ
một vò trí đặc biệt và không thể thiếu được . Nước ta có nguồn tiềm
năng tương đối khá về năng lượng cả dầu khí , thuỷ điện , than … có
điều kiện để phát triển mạnh và bảo đảm cung ứng đủ cho nền kinh tế
và đời sống nhân dân, và còn tạo được nguồn xuất khẩu quan trọng .
15
Trong việc bảo đảm an toàn năng lượng , vấn đề hàng đầu là phát triển
điện năng đi trước với một cơ cấu hợp lý và từng bước thực hiện điện
khí hoá nông thôn , miền núi . mặt khác , cũng phải phấn đấu đạt hiệu
quả ngày càng cao về sản xuất và sử dụng điện.
+ Bảo đảm mức cần thiết về kết cấu hạ tầng : kết cấu hạ tầng là nền
tảng vật chất của nền kinh tế và xã hội . yêu cầu về lónh vực này thật sự
to lớn , kể cả ở mức tối thiểu , để tạo tiền đề cho sự phát triển ,để vượt
qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển để đẩy mạnh công nghiệp
hoá , hiện đại hoá . Do đó , ta phải khẩn trương xây dựng có hiệu quả ,
vượt qua những kho khăn yếu kém trước mắt về lónh vực này.
+ Phát triển một số ngành và cơ sở công nghiệp có tính chất nền tảng :
Sức mạnh kinh tế nước ta chủ yếu và về lâu dài phải dựa vào sức mạnh
của nền công nghiệp . Phát triển công nghiệp là một nhiệm vụ trọng
tâm của công nghiệp hoá, hiện đại hoá . Vấn đề là phát triển ngành và
cơ sở công nghiệp gì và phát triển bằng cách nào để tạo ra sức mạnh

phạm vi toàn cầu . Một khi thảm hoạ về môi trường xảy ra thì trước hết
ảnh hưởng lớn đến sức mạnh kinh tế và cuộc sống của nhân dân,đồng
thời nếu có sự hỗ trợ quốc tế thì cũng không loại trừ đi kèm theo những
điều kiện nhất đònh đối với ta.
c. Xây dựng thể chế kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa :
trong lónh vực này, vấn đề quan trọng là tạo ra môi trường thuận lợi
về luật pháp và kinh tế để cho mọi tổ chức kinh doanh thuộc các thành
phần kinh tế đều được khuyến khích phát triển lâu dài , hợp tác cạnh
tranh bình đẳng và đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thò trường
xã hội chủ nghóa. Trong đó , kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo , là lực
lượng vật chất quan trọng , là một công cụ vó mô để Nhà nước đònh
hướng và điều tiết nền kinh tế. Có chính sách khuyến khích hình thành
những doanh nghiệp mạnh với những sản phẩm có giá trò nội đòa và sức
cạnh tranh cao. Doanh nghiệp Nhà nước phải được sắp xếp lại , hình
thành những tập đoàn, những tổng công ty lớn kinh doanh đa ngành và
thông qua cạnh tranh lành mạnh vươn lên giữ những vò trí then chốt, đi
đầu trong ứng dụng khoa học – công nghệ , nâng cao năng lực quản lý ,
nêu gương về năng suất , chất lượng hiệu quả kinh tế xã hội và chấp
hành pháp luật.
Trong quá trình hình thành nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội
chủ nghóa , cần tạo lập đồng bộ các loại thò trường . Ngoài việc tiếp tục
hoàn thiện những loại thò trường về hàng hoá và dòch vụ hiện có , cần
phát triển nhanh thò trường vốn và tiền tệ , thò trường bất động sản bao
gồm quyền sử dụng đất theo quy đònh của pháp luật , thò trường sức lao
động, thò trường các loại dòch vụ khoa học , công nghệ , sản phẩm trí
tuệ, bảo hiểm , tư vấn . Việc hoàn thiện đồng bộ các loại thò trường là
yêu cầu khách quan , bức thiết , nhưng phải có bước đi thích hợp nhằm
phát huy mặt tích cực vàhạn chế các mặt tiêu cực , tạo ra sự năng động
hiệu quả cao , bền vững , cạnh tranh lành mạnh . Phạm vi và cơ chế
hoạt động của mỗi loại thò trường cần có sự quản lý của nhà nước.

phát huy hiệu quả các nguồn vốn vay , trả được nợ , giữ vững cán cân
thanh toán lành mạnh . Và cần có một lượng dự trữ ngoại tệ đủ mức cần
thiết để bảo đảm an toàn cho các dòch vụ trả nợ đến hạn , dự phòng ứng
phó với những thâm hụt về cán cân thanh toán quốc tế và những biến
động bất thường của thò trường tài chính , tiền tệ cả trong lẫn ngoài
nước.
18
19
KÕt ln
Nếu quan niệm trước đây về một nền kinh tế độc lập tự chủ làm cho
ngươi ta liên tưởng đến một nền kinh tế tự lực cánh sinh , biệt lập , khép
kín , ít giao lưu và kém hiệu quả thì hiện nay khái niệm này được hiểu
một cách mềm dẻo hơn , linh hoạt hơn , độc lập tự chủ có tính tương đối.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ dược đặt trong mối quan hệ biện
chứng với việc đa dạng hoá , đa phương hoá , mở cửa , giao lưu kinh tế ,
là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, hợp tác bình
đẳng và cùng có lợi . Nói một cách chung nhất , nền kinh tế độc lập tự
chủ là một nền kinh tế có khả năng tự thân vận động , sử dụng và phát
huy dược nội lực , chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới đa phương
hoá , đa dạng hoá, không bò lệ thuộc vào bất cứ ai, thế lực nào , có thể
đối phó và đứng vững trước những thách thức , tác động tiêu cực từ bên
ngoài . Việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ được đặt ra trong thời
điểm này cũng thực sự bắt nguồn từ chính quá trình toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Thực tiễn cho thấy nếu không có độc lập
tự chủ sẽ không những không thể có độc lập về chính trò , không thể bảo
đảm được lợi ích cơ bản của dân tộc cũng như chủ quyền của quốc gia
mà bản thân việc mở cửa , hội nhập kinh tế quốc tế cũng không đạt
được kết quả như mong muốn. Hiện nay , toàn cầu hoá , tự do hoá làm
cho các nền kinh tế phụ thuộc nhau , đan xen vào nhau . Tuy nhiên ,
trong sự ràng buộc đó không có sự ràng buộc thuần tuý , vô điều kiện

hội.
21
Tài liệu tham khảo
1. Báo nhân dân ngày 18 tháng 9 năm 2002
2. Báo Nhân dân ngày 18 tháng 4 năm 2002
3. Báo Nhân dân ngày 6 tháng 5 năm 2002
4. Đa nghị quyết Đại hội IX của Đảng vào cuộc sống số 16 tháng 8-2001
5. Đa nghị quyết Đại hội IX của Đảng vào cuộc sống số 21 tháng 11-2001
6. Đa nghị quyết Đại hội IX của Đảng vào cuộc sống số 24 tháng 12-2001
7. Đa nghị quyết Đại hội IX của Đảng vào cuộc sống số 33 tháng 11-2002
8. Tạp chí cộng sản số 2 năm 2001
9. Tạp chí cộng sản số 4 năm 2001
10.Tạp chí cộng sản số 12 tháng 6-2001
11.Tạp chí cộng sản số 9 tháng 3-2002
12.Tạp chí cộng sản số 17 tháng 6-2002
13.Tạp chí cộng sản số 32 tháng 11 năm 2002
14.Tạp chí Công Nghiệp Việt Nam số 3/2001
15.Tạp chí kinh tế - dự báo số 4 năm 2001
16.Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 216 tháng 5 năm 1996
17.Triết học số 2(129) tháng 2-2002
18.Kinh tế phát triển số 44/2001
19.Tạp chí con số - sự kiện số 6/2002
20.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
( Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội)
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status