Viện Chiến lợc và Chính sách KHCN Báo cáo tổng kết đề tài:
Nghiên cứu cơ sở khoa học hình thành
khu công nghệ cao tại khu kinh tế mở
Chu Lai-Quảng Nam Cnđt: Hoàng Xuân Long
8038
Hà nội 2010
1.3.5 Vấn đề thu hút FDI
Error! Bookmark not defined.
Phần hai: Điều kiện trong nước liên quan tới phát triển Khu CNC tại Khu kinh tế
mở Chu Lai Error! Bookmark not defined.
2.1 Bối cảnh chung quốc gia Error! Bookmark not defined.
2.1.1 Phát triển CNC ở Việt Nam Error! Bookmark not defined.
2.1.2 Những hạn chế về trình độ KH&CN và trình độ phát triển CNC Error!
Bookmark not defined.
2.2 Bối cảnh của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Tỉnh Quảng Nam và Khu
kinh tế mở Chu Lai có liên quan tới phát triển khu CNC 31
2.2.1 Định hướ
ng phát triển liên quan tới CNC của Vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung 31
2.2.2 Định hướng phát triển có liên quan tới CNC của Quảng Nam Error!
Bookmark not defined.
2.2.3 Điều kiện phát triển của Khu kinh tế mở Chu Lai Error! Bookmark not
defined.
2.3 Một số điểm tóm lại 42
Phần ba: Nội dung về xây dựng và quản lý Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở
Chu Lai Error! Bookmark not defined.
3.1 Sự cần thi
ết, mục tiêu và chức năng của Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở
Chu Lai …………………………………………………………………… …….44
3.1.1. Sự cần thiết phải có một Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở Chu Lai 44
3.1.2 Định dạng Khu CNC tại Khu kinh tế mở Chu Lai….….… ………………49
3.1.3 Mục tiêu của Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở Chu Lai 53
3.1.4 Chức năng chủ yếu của Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở Chu Lai 57
3.2 Sản phẩm chủ yếu, quy mô Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở Chu Lai 58
3.2.1 Sả
n phẩm chủ yếu của Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế mở Chu Lai 58
Tài liệu tham khảo chính 112
Phần phụ lục
117
1
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với sự gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất trở nên hết sức chặt chẽ,
hoạt động kinh tế dựa trên công nghệ cao diễn ra phổ biến, áp dụng nhanh chóng và
sáng tạo công nghệ cao là yếu tố quyết định đối với cạnh tranh của nền kinh tế, thì
khu công nghệ cao ngày càng có ý nghĩa rõ rệt và to lớn. Trên thế giới đã có hàng loạt
khu công nghệ cao được hình thành, trong đó nhiề
u khu phát huy tác dụng tốt như:
Silicon Valley (Mỹ), Khu công nghệ cao Thuận Nghĩa (Trung Quốc), Khu công nghệ
cao Quang Trung Thôn (Trung Quốc), Khu công nghệ cao BangKok (Thái Lan), Khu
công nghệ cao Tân Trúc (Đài Loan), Khu công nghệ cao Kulim, Technology Park
Adelaid (Úc),
Ở Việt Nam, Khu công nghệ cao cũng đang thu hút sự chú ý của nhiều cấp,
nhiều địa phương. Trên thực tế đã có một số loại hình khu công nghệ cao đã phát triển
như khu công nghệ cao đa chức năng, khu công nghiệp công nghệ cao, khu nông nghiệp
công nghệ cao, khu phần mề
m,
Quảng Nam là tỉnh nằm trong Vùng trọng điểm kinh tế miền Trung và đang xúc
tiến mạnh mẽ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quá trình này đòi hỏi công
nghiệp của Tỉnh phải phát triển theo hướng dựa trên công nghệ cao. Trên địa bàn Tỉnh
có Khu kinh tế mở Chu Lai với vai trò thử nghiệm mô hình kinh tế mở cho cả nước.
Đây là khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, lĩnh vực với trọng tâm là phát triển công nghiệp
có quy mô lớ
n bao gồm: công nghiệp cơ khí, đóng và sửa chữa tàu biển, hoá chất, các
- Phần ba: Nội dung về xây dựng và quản lý Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế
mở Chu Lai.
- Phần bốn: Dự báo các tác độ
ng chính của Khu công nghệ cao tại Khu kinh tế
mở Chu Lai.
- Phần năm: Chính sách đối với Khu công nghệ cao tại Khu Kinh tế mở Chu Lai
và một số kiến nghị của Đề tài
Công trình này được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu gồm các thành viên chính là:
Hoàng Xuân Long, Phan Văn Chức, Nguyễn Văn Lúa, Đặng Thu Giang, Nguyễn
Phương Mai, Chu Đức Dũng, Nguyễn Lan Anh và một số cộng tác viên khác.
Nhóm nghiên cứu cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Ban Khoa học và Công nghệ
đị
a phương (Bộ Khoa học và Công nghệ), Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Nam, Ban
Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai và nhiều đơn vị, cá nhân khác trong thời gian qua đã
giúp đỡ và hỗ trợ Đề tài.
Mặc dù có nhiều cố gắng, chắc chắn công trình nghiên cứu không tránh khỏi
những thiếu sót. Nhóm tác giả xin hoan nghênh và trân trọng các ý kiến góp ý, bổ sung
đối với sản phẩm của mình.
định nghĩa CNC là công
nghệ mới có ảnh hưởng to lớn về quân sự, kinh tế, có ý nghĩa xã hội to lớn, hoặc hình
thành một ngành nghề mới. Theo đó, CNC không chỉ là công nghệ mũi nhọn mà còn là
công nghệ mới có mục đích kinh tế trực tiếp, cho ra một sản phẩm giá trị gia tăng cao
chiếm lĩnh được thị trường.
- Ở Trung Quốc, trong một số tài liệu, CNC được coi là công nghệ có các đặc
đ
iểm như tính sáng tạo, tính trí tuệ, tính ảnh hưởng, tính chiến lược, tính rủi ro và tính
thời gian.
2
- Tại Canada, CNC được phân biệt với công nghệ trung bình hay thấp thông qua
những tiêu chí về chi phí cho NC&PT, các tiêu chí liên quan đến nhân lực công nghệ
được nhúng trong các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ.
3
- Ở Việt Nam cũng đã có các định nghĩa về CNC như: “CNC là công nghệ được
tích hợp từ các thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, có khả năng tạo ra sự gia
tăng đột biến về năng suất lao động, tính năng, chất lượng và giá trị gia tăng của sản
phẩm hàng hoá, hình thành các ngành sản xuất hoặc dịch vụ mới có hiệu quả kinh tế -
xã hội cao, có ảnh hưở
ng, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh
- quốc phòng” (Khoản 1, Điều 1 của Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 về
việc ban hành Quy chế Khu công nghệ cao); “CNC là công nghệ có hàm lượng cao về
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất
lượng và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới
hoặc hiện đại hoá ngành sản xuấ
t, dịch vụ hiện có” (Khoản 3, Điều 3 của Luật Chuyển
1
5
Có thể hình dung rõ hơn các đặc trưng này qua các lĩnh vực CNC cụ thể. Đến nay, trên thế giới đã cơ bản thống
nhất với nhau có 6 lĩnh vực công nghệ cao sau đây để nghiên cứu phát triển trong thế kỷ XXI là:
- Công nghệ thông tin là chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý
thông tin. Theo đó, công nghệ thong tin là hệ thống các tri thức khoa học, các kỹ thuật và phương tiện hiện đại để
thu thập, x
ử lý, lưu trữ, sản xuất và truyền thông tin nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thông
tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Công nghệ thông tin chính là lực lượng nòng cốt và xung kích của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, dẫn dắt nhân loại bước vào kỷ nguyên trí tuệ.
- Công nghệ sinh học tập hợp các ngành khoa học (sinh học phân tử, di truyền học, vi sinh vật, sinh hóa học
và công nghệ
học) nhằm tạo ra các công nghệ khai thác ở quy mô công nghiệp các hoạt động sống của các vi sinh
vật, tế bào thực vật và động vật. Sản phẩm đặc trưng là giống cây, con, vi sinh vật có chất lượng cao và các sản
phẩm chưa từng có dùng trong nông nghiệp, công nghiệp, y tế Cùng với các ngành công nghệ mũi nhọn khác
(công nghệ thông tin và công nghệ vật liệu mới), CNSH sẽ góp phần khai thác tối ưu các nguồn lực của đất nướ
c
phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và chuẩn bị những tiền đề cần thiết về
mặt công nghệ trong thế kỷ XXI.
- Công nghệ vật liệu mới dựa trên khoa học vật liệu, khoa học về cấu trúc các hệ đông đặc, khoa học mô phỏng
hệ nguyên tử v.v Sản phẩm chủ yếu của nó là các vật liệu ch
ức năng (ví dụ: vật liệu bán dẫn, siêu dẫn, laze ),
vật liệu siêu bền, siêu cứng, siêu chịu nhiệt, vật liệu compozit, vật liệu nanô Với công nghệ nanô, con người có
khả năng thao tác vật liệu ở mức phân tử hay nguyên tử, mở ra khả năng điều khiển cấu trúc vật liệu. Nó cho phép
chế tạo những vật liệu có các chức năng rất đặc thù như thăm dò môi sinh và xử lý thông tin. V
ật liệu được thao
tác ở cấp nanô sẽ có tiềm năng rất lớn do có các tính chất hoàn toàn khác với những vật liệu chế tạo trước đó.
- Công nghệ năng lượng mới bao gồm năng lượng hạt nhân, năng lượng mặt trời, năng lượng địa nhiệt, năng
lượng hải dương v.v., trong đó đặc biệt là lợi dụng sự phát triển của nă
ng lượng hạt nhân và năng lượng mặt trời,
nhằm thoát khỏi sự ràng buộc vào loại năng lượng hóa thạch (dầu mỏ và than đá), mở ra một thời đại năng lượng
nghệ trong nước, biến đổi cơ cấu công nghiệp và dịch vụ trong nước. Do vậy, Khu CNC
phải có một môi trường thuận lợi để sáng tạo ra công nghệ mới trong lĩnh vực công
nghệ mũi nhọn, luôn luôn được đổi mới bằng những thành tựu KH&CN tiên tiến nhất.
6
- Khu CNC là một địa điểm có môi trường tốt nhất để: đầu tư CNC; chuyển giao
CNC; nghiên cứu và phát triển CNC; sản xuất các sản phẩn CNC; tăng cường năng lực
công nghệ nội sinh của đất nước; đào tạo, huấn luyện kỹ năng CNC.
7
- Khu CNC nhằm vào phát triển công nghiệp CNC, thu hút chất xám để tạo ra
sản phẩm có hàm lượng khoa học cao hơn hẳn các khu công nghiệp hay khu chế xuất,
nhằm tạo ra những bước đột phá quan trọng để phát triển công nghệ và công nghiệp
trong nước.
8
- Khu CNC là khu kinh tế - kỹ thuật đa chức năng, có ranh giới xác định, do Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập, nhằm nghiên cứu - phát triển và ứng dụng CNC,
ươm tạo doanh nghiệp CNC, đào tạo nhân lực CNC và sản xuất, kinh doanh sản phẩm
CNC. Trong Khu CNC có thể có khu chế xuất, kho ngoại quan, khu bảo thuế và khu
nhà ở (Khoản 2, Điều 2 của Nghị định 99/2003/NĐ-CP ngày 28/08/2003 về việc ban
hành Quy chế
Khu công nghệ cao).
- Khu CNC là nơi tập trung, liên kết hoạt động nghiên cứu và phát triển, ứng
dụng CNC; ươm tạo CNC, ươm tạo doanh nghiệp CNC; đào tạo nhân lực CNC; sản
xuất và kinh doanh sản phẩm CNC, cung ứng dịch vụ CNC (Khoản 1, Điều 31 của Luật
Công nghệ cao).
Nhìn chung, đặc trưng của khu CNC được phân biệt khá rõ với khu công nghiệp,
khu chế xuất
9
1.1.2 Mối quan hệ giữa nghiên cứu và sản xuất trong khu công nghệ cao
Lao động sản xuất vốn là hoạt động mang tính sáng tạo của con người. Dù cấp
độ cộ
ng đồng hay cá nhân, trong quá trình tạo ra của cải vật chất, con người thường nỗ
lực suy nghĩ và tích cực tiến hành cải tiến nhằm tăng hiệu quả và giảm nặng nhọc. Tuy
nhiên, sự sáng tạo này không giống nhau giữa các thời kỳ lịch sử.
Các sáng tạo áp dụng vào sản xuất ở thời kỳ đầu hoàn toàn dựa vào cải tiến kỹ
thuật. Văn minh Hy Lạp từng tạo ra nhiều thành t
ựu trong lĩnh vực kỹ thuật, đặc biệt là
kỹ thuật nông nghiệp, thuỷ lợi, xây dựng và hàng hải. Nhưng kiến thức về các thành tựu
đó thì còn rất mơ hồ. Cụ thể, các văn bản kỹ thuật không bao giờ đề cập đến công thức
chung và chứng minh các kết quả mà chỉ nêu lên cách thực hành, thao tác. Trong suốt
thời kỳ Trung đại, những bước tiến về kỹ thuật thực chất cũng chỉ là sự kế tục, phát
triển hệ thống kỹ thuật thời kỳ cổ đại về quy mô áp dụng, trình độ nghề nghiệp trong lao
động, trình độ tinh xảo của sản phẩm.
Mặc dù nghiên cứu khoa học đã có từ rất sớ
m (tri thức khoa học từng nở rộ từ
thời kỳ cổ đại ở cả phương Đông và phương Tây), nhưng giữa nghiên cứu khoa học và
sản xuất chưa có mối quan hệ trực tiếp. Khoa học hoạc tập trung vào nghiên cứu chủ đề
cách biệt hoàn toàn với sản xuất hiện tại, hoạc đi sau lý giải các hiện tượng kỹ thuật
Cho đến thế kỷ 18, khoa h
ọc mới bắt đầu đóng vai trò cơ sở cho kỹ thuật. Quan
hệ mới giữa khoa học và kỹ thuật đã mở ra cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất
nhưng chưa hẳn mở ra phương thức hoạt động khoa học mới: nghiên cứu khoa học định
hướng vào phục vụ sản xuất. Hơn nữa, nhiều phát minh kỹ thuật quan trọng như máy
hơ
i nước của J.Watt, vẫn chỉ có thể coi là kết quả chủ yếu của "mầy mò kỹ thuật".
Cùng với sự phát triển của KH&CN và của kinh tế, mối quan hệ giữa nghiên cứu
khoa học và sản xuất ngày càng gắn bó và trở nên thực sự chặt chẽ trong CNC. Nét mới
của gắn kết nghiên cứu và sản xuất trong CNC là:
tục, đan xen và nhiều khi các ranh giới trở nên rất mờ nhạt. Xét về một khía cạnh, việc
khám phá ra enzyme cắt và nối các nucleotide ADN là kết quả của sự khao khát muốn
hiểu biết cách thức các tế bào làm việc ở mức độ phân tử và là một thành tựu nổi bật
của khoa học cơ bản. Nhưng
ở khía cạnh khác, những phát hiện tương tự đã ngay lập
tức tạo ra công nghệ then chốt, xây dựng nên cả một ngành công nghiệp mới là "công
nghệ sinh học". Cũng không dễ dàng có được định nghĩa chính xác về Nanotech. Một
số nanotech không phải là nano, khi hoạt động ở thang micro, tức 1000 lần lớn hơn. có
khi nanotech không phải là công nghệ, vì nó liên quan tới các nghiên cứu cơ bảnở
những cấu trúc có ít nhất một chiều từ m
ột tới hàng trăm nm. Một ví dụ khác nữa, muốn
sử dụng tia la de trong liên lạc viễn thông, các nhà khoa học phải tìm cách chế tạo các
sợi thuỷ tinh tinh khiết. Họ phải tiến hành những công trình nghiên cứu cơ bản về tính
chất những khuyết tật hoặc những tạp chất của thuỷ tinh để nhằm vào các mục đích thực
tiễn rất cụ thể.
- Gắn kết nghiên cứu và sản xuất trong CNC
được thực hiện trong những hình
thức cụ thể như sản phẩm CNC, doanh nghiệp CNC, ngành công nghiệp CNC.
Sản phẩm CNC là sản phẩm được tạo ra nhờ CNC thông qua quá trình thiết kế
hoặc sản xuất sản phẩm. Sản phẩm CNC thường phải có các đặc điểm: chứa đựng hàm
lượng cao về nghiên cứu và phát triển; có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia; sản phẩm
được
đổi mới nhanh chóng; dầu tư lớn, độ rủi ro cao, nhưng khi thành công sẽ đem lại
lợi nhuận khổng lồ; thúc đẩy năng lực cạnh tranh và hợp tác trong NC&PT, sản xuất và
tìm kiếm thị trường trên quy mô toàn cầu. Theo Luật Công nghệ cao: “Sản phẩm CNC
là sản phẩm do công nghệ cao tạo ra, có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng
cao, thân thiện với môi trường” (Khoản 3, Điều 3).
Doanh nghiệ
p CNC thường dành nhiều nguồn lực cho việc cải tiến, sáng tạo
công nghệ và sản phẩm. Đây là loại hình doanh nghiệp khai thác nghiên cứu cơ bản cực
trưng phân biệt khu CNC với khu công nghiệp, khu chế xuất. Quan hệ giữa nghiên cứu
và sản xuất trong khu CNC bao hàm các nội dung như đã nêu trên đối với CNC bởi khu
CNC gắn với CNC, sản phẩm CNC, doanh nghiệp CNC, công nghi
ệp CNC. Đồng thời,
gắn kết nghiên cứu và sản xuất trong khu CNC cũng có một điểm nổi bật riêng:
- Hoạt động ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ luôn được coi trọng
trong các khu CNC. Đây là quá trình có nội dung gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất
khá cụ thể như “hoàn thiện, thương mại hóa công nghệ cao từ ý tưởng công nghệ, kết
quả nghiên cứu khoa học hoặc từ công nghệ cao ch
ưa hoàn thiện” (Khoản 7, Điều 3 của
Luật Công nghệ cao).
- Trong khu CNC thường có các khu chức năng khác nhau như: khu sản xuất –
thương mại, khu NC&PT và đào tạo, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ. Mối quan hệ
gắn kết nghiên cứu và sản xuất đươc thể hiện cả trong từng phân khu và đồng thời cả
trong quan hệ giữa các phân khu. Trên thực tế, quan hệ giữa các phân khu luôn có ý
nghĩa quyết định đến sự thành bại của một khu CNC
12
.
11
Theo UNESCO, hạng mục “công nghệ” được xác định dưới hình thức “hàm lượng NC&PT” ở các ngành công
nghiệp thuộc lĩnh vực chế tạo, trong đó chi phí NC&PT được tính theo tỷ lệ phần trăm của một biến số kinh tế
khác, thường là giá trị sản phẩm (doanh thu) của ngành đó. Hàm lượng NC&PT cao (high-tech) tương ứng với tỷ
số chi phí NC&PT/doanh thu ≥ 4%; hàm lượng NC&PT trung bình (medium-tech) có chi phí NC&PT/doanh thu =
1- 4%; và hàm lượng NC&PT thấp (low-tech) khi chi phí NC&PT/doanh thu ≤1%
.
12
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra một trong những nguyên nhân chính dẫn tới thất bại của các khu CNC là không thiết
lập được mối quan hệ giữa phân khu NC&PT và phân khu sản xuất. Gần đây, trong Kế hoạch Chiến lược Quốc
Các khu CNC có thể được xây dựng dưới dạ
ng Trung tâm công nghệ hoặc Trung tâm
gia về KH&CN Thái Lan (2004-2013) (The National Science and Technology Strategic Plan 2004-2013), cũng
nhấn mạnh “Một trong những đặc điểm đáng chú ý của công viên khoa học là năng lực liên kết các khu vực học
thuật (đặc biệt là các viện nghiên cứu và các trường đại học) với các khu công nghiệp” (“Phát triển bền vững và
sức cạnh tranh của Thái Lan dựa vào KH&CN”, trang 15).
13
Sự khác nhau này gắn liền với sự phong phú vốn có của khu CNC. Chẳng hạn, theo ông Glenn A Mitchell,
Tổng Giám đốc Khu công nghệ cao Edmonton (General manager, Edmonton Research Park), mô hình của các
Science Park rất đa dạng tuỳ thuộc loại hình sở hữu, nhiệm vụ chức năng và lịch sử hoạt động.
Nếu phân theo loại hình sở hữu và cơ cấu tổ chức thì có các mô hình sau:
-Mô hình làng khoa học do Nhà nước lập kế hoạch và đầu tư xây dựng, và dùng cơ chế trợ giúp (thường thấy
ở Châu Âu, Đài Loan);
- Mô hình làng khoa học được xây dựng nên do sự bành trướng của các trường đại học đóng trên địa bàn (ví
dụ Silicon Valey do trường đại học Stanford), sau đó được khuyến khích phát triển bởi chính sách của Nhà nước;
- Mô hình làng khoa học được xây dựng nên do có sự kết hợp giữa các Công ty lớn và các Trường đại học,
các tổ chức nghiên cứu lớn, lúc này các công ty đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong việc đầu tư và các tổ chức
nghiên cứu có vai trò quan trọng thứ hai.
Nếu phân theo chức năng nhiệm vụ của Làng khoa học thì có các mô hình sau:
- Mô hình thúc đẩy: Thực hiện vai trò là hạ
t nhân mới của nền công nghệ trong hoàn cảnh cần đổi mới nền
công nghiệp
- Mô hình thu hút: Thực hiện các mục tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh của nền công nghiệp hơn là mục
tiêu nâng cao chất lượng của nền khoa học.
10
đổi mới công nghệ chú trọng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và tạo việc làm,
như các khu CNC ở Singapo, Malaixia, Thái Lan. Trung Quốc xây dựng những khu thử
nghiệm ở dạng mô hình “vườn ươm doanh nghiệp”. Thái Lan xây dựng theo mô hình
với nhau và thông qua cạnh tranh, mỗi khu CNC tìm ra được nét riêng của mình. Không
nói đến các khu CNC cấp địa phương, ngay cả 53 khu CNC quốc gia, mỗi khu đều có
những mầu sắc riêng. Các khía cạnh khác nhau là: (i) Khác nhau về ngành nghề; (ii)
Khác nhau về mức độ ưu đãi; (iii) Khác nhau về chủ thể chính của KH&CN: KH&CN
của Bắc Kinh chủ yếu nằm trong các trường đại học - KH&CN của Thượng Hải thuộc
về doanh nghiệp đầu tư nước ngoài - KH&CN của Thẩm Quyến nằm ở doanh nghiệp
trong nước; (iv) Khác nhau về cách thức thu hút nhân tài: Bắc Kinh thu hút từ các
trường địa học và lưu h
ọc sinh từ bên ngoài, Thẩm Quyến thu hút từ các địa phương
khác và thành lập Đại học "ảo".
Có thể ra một số so sánh giữa các khu CNC điển hình:
- Khu CNC Trung Quan Thôn đã chú ý đến 3 thế mạnh mà các khu khác không
có được là: (i) Nằm ở trung tâm Bắc Kinh là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế,
14
Theo Asia-Pacific Development Journal, No.2/2005.
11
KH&CN của cả nước; (ii) Có nhiều người tài (trong khu có 39 trường đại học, 200 đơn
vị nghiên cứu, 40 vạn giáo sư và phó giáo sư); (iii) Tính tự chủ sáng tạo cao. Khai thác
các thế mạnh này, Trung Quan Thôn đã có các biện pháp như: vừa chú ý thu hút, vừa
chú ý đào tạo nhân tài, học sinh ở đây được đào tạo cả về mặt kiến thức và về mặt lập
nghiệp; tạo điều kiện để để các doanh nghiệp
đầu tư nước ngoài đến được sử dụng
nguồn nhân lực chất lượng cao với giá rẻ; liên kết chặt chẽ giữa trường đại học với
doanh nghiệp; không ngừng đổi mới về văn hoá, về cơ chế hoạt động NC&PT, phát
triển các ngành nghề mới.
- Thẩm Quyến không có nhiều cơ sở KH&CN (cả Thành phố mới có một trường
đại học đạt tầ
m quốc gia), do đó muốn thúc đẩy KH&CN Thành phố nàu phải tận dụng
yếu tố/điều kiện quyết định thành công của Khu. Trong trường hợp gián tiếp, Nhà nước
(trung ương hoặc địa phương) ban hành các quy định ưu tiên cho khu CNC, hỗ trợ việc
15
Hiện nay đầu tư cho KH&CN Thẩm Quyến chiếm 3,6% GDP, trong đó nguồn từ xã hội (chủ yếu là doanh
nghiêp) chiếm 95%.
16
Nghị Quyết 864 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 1- 4 -1986 về việc thành lập 5
khu công nghệ cao quốc gia ra đời chỉ sau có 3 ngày khi ông Đặng Tiểu Bình nhận được bức thư của 4 viện sĩ
Viện hàn lâm Trung Quốc viết về đề nghị thành lập khu CNC tại Trung Quốc, trong đó nhấn mạnh: " nếu Chính
phủ kịp thời lập các khu phát triển công nghệ cao thì đến đầu thế
kỷ 21, hàng hoá Trung Quốc không thể cạnh
tranh và không thể bán được trên thị trường thế giới, " ("Sự hình thành và phát triển các khu CNC trên thế giới -
Vai trò quan trọng của khu CNC thúc đẩy sự phát triển khoa học và công nghệ mới", Dương Minh Tâm - Ban
Quản lý Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh, trang 12).
12
điều hành và tác nghiệp. Trong trường hợp trực tiếp, Nhà nước tiến hành hầu như toàn
bộ các khâu từ khảo sát thị trường cho tới lập kế hoạch xây dựng, điều hành cụ thể các
hoạt động của khu CNC.
Có thể nêu ra nhiều dẫn chứng về vai trò nhà nước trong hình thành và phát triển
khu CNC như:
- Khu CNC Tân Trúc (Đài Loan):
Trong giai đoạn thành lập khu, Nhà nước đã tiến hành hàng loạt các hoạt động
đâu t
ư với mục đích: mua đất, xây dựng hạ tầng cơ sở, xây dựng sẵn nhà xưởng cho
thuê, cung cấp nhà cho chuyên gia hoặc người Hoa về nước, xây dựng trường đại học
tiếng Trung và song ngữ, xây dựng khu giải trí. Vốn ban đầu Nhà nước bỏ ra (vào
khoản đất và xây lắp) là 500 triệu USD.
Sau gần 20 năm hoạt động, tổng đầu tư cho khu Tân Trúc lên tới 7 tỷ USD, trong
lập Hội đồng quản trị của Công viên khoa học. Hội đồng quản trị bao gồm một mạng
lưới phi hình thức các đại diện của các cơ quan chính phủ và của những thành viên chủ
chốt của Công viên khoa học. Hội đồng quản trị có trách nhiệm soạn th
ảo và thực hiện
các quy chế áp dụng trong Công viên. Các thành viên nhất thiết phải có các hoạt động
liên quan tới lĩnh vực nghiên cứu của Công viên.
13
Phân cấp và phối hợp giữa cấp trung ương và địa phương trong phát triển khu
CNC được nhiều nước chú ý. Để phân tích, có thể lấy trường hợp Trung Quốc làm minh
họa.
Ở Trung Quốc, các khu CNC cấp địa phương do các địa phương quyết định (kể
cả tiêu chí xét duyệt doanh nghiệp vào khu CNC). Đối với 53 khu CNC quốc gia (vốn
do Quốc vụ viện quyết định công nhận), chính quyền trung ương có chính sách chung;
tuy nhiên, từng địa phương lại có những sự cụ thể hoá trên cơ sở vận dụng quy định
chung vào hoàn cảnh đặc thù của mình. Ví dụ, quy định chung đối với các doanh nghiệp
m
ới thành lập ở các khu CNC quốc gia là "3 miễn - 3 giảm" (3 năm đầu được miễn thuế,
3 năm tiếp theo được giảm thuế), nhưng giảm bao nhiêu phần trăm là do các địa phương
quy định để có thể thu hút được nhiều doanh nghiệp vào khu CNC trên địa bàn của
mình.
Có thể đề cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với các khu
CNC, kể cả các khu đã được xếp vào cấp quốc gia, là bởi vì các khu CNC này đóng góp
trực tiếp cho sự phát triển của địa phương (Trung Quang Thôn đang đóng góp 60% vào
phát triển kinh tế của Thành phố Bắc Kinh). Một khi khu CNC đã góp phần phát triển
địa phương thì chính quyền địa phương phải có trách nhiệm đầu tư và hỗ trợ cho các
khu CNC trên địa bàn phát triển. Ở Trung Quốc người ta cho rằng quan hệ giữa khu
CNC và địa phương đã trở nên chặt chẽ: nếu địa phương hỗ trợ khu CNC phát tri
ển tốt
sẽ được hưởng lợi, ngược lại thì phải trả giá. Chính vì vậy, gần đây Chính phủ không
Taedok (TST) – giai đoạn 1 được thành lập năm 1970 với các mục tiêu chính: tạo nền
tảng cho việc gia nhập hàng ngũ các nước tiên tiến vào thế kỷ 21 dựa trên cơ sở phát
triển KH&CN; nuôi dưỡng các mối liên kết gần gũi hơn giữa các tổ chức nghiên cứu và
công nghiệ
p thông qua việc sắp xếp công việc một cách hợp lý cho các trường đại học
và viện nghiên cứu Nhà nước và tư nhân; thành lập một thành phố vườn khoa học
không ô nhiễm có các cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu về văn hóa.
17
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển khu công nghệ cao trong khu chế xuất, khu kinh tế mở
a. Sự cần thiết và ý nghĩa của của khu công nghệ cao đối với khu chế xuất, khu
kinh tế mở
Trên thế giới, khu chế xuất, khu kinh tế mở. Khu chế xuất (Export Procescing
Zone) ra đời đầu tiên vào năm 1956 ở khu vực sân bay Shan non (thuộc Ai-rơ-len) và
sau đó phát triển ở nhiều nơi khác. Hình thành và phát triển các khu chế xuất đã từng
gắn liề
n với chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của các nước đang phát
triển, trong đó khu chế xuất được coi là một khâu quan trọng thu hút nguồn vốn và kỹ
thuật từ bên ngoài, đồng thời là một cửa ngõ đánh thông con đường thâm nhập thị
trường thế giới. Một cách chung nhất, mục đích của việc thiết lập khu chế xuất đối với
các nước đang phát tri
ển là thu hút nguồn vốn và kỹ thuật của nước ngoài, chủ yếu của
các công ty xuyên quốc gia để vừa xâm nhập thị trường thế giới và vừa tạo nên những
điều kiện cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước.
Cùng với xu hướng phát triển kinh tế và cạnh tranh kinh tế dựa trên những thành
tựu của cách mạng KH&CN, nhiệm vụ thu hút nguồn lực KH&CN từ bên ngoài của các
khu chế xuấ
t ngày càng nổi bật.
Trong khi đó, các cách thức thường được sử dụng để thu hút kỹ thuật của thế
giới tỏ ra không mấy hiệu quả. Đây là các cách thức thông qua:
Đó là những động cơ không hề bắt buộc các công ty xuyên quốc gia phải tích cực góp
phần nâng cao năng lực KH&CN của nước s
ở tại. Đây là hiện tượng phổ biến ở các khu
chế xuất tại Philippin, Xrilanca, Pakistang, Bangladet, Ấn Độ, …
Có thể lấy Thẩm Quyến làm ví dụ minh họa. Sau giai đoạn đầu 5 năm hoạt động,
đặc khu kinh tế Thẩm Quyến cùng với khu công nghiệp Shekou được đánh giá là rất
thịnh vượng và thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thành công
trong thu hút kỹ thuật cao lại thấp hơn dự kiến rất nhiều. Một trong những lý do là các
công ty có kỹ thuật cao nước ngoài cho rằng khuyến khích về thuế, công lao động thấp
và phí ưu đãi không phải là những yếu tố biến Trung Quốc thành nơi hấp dẫn đầu tư. Từ
kinh nghiệm của đặc khu kinh tế Thẩm Quyến có thể thấy rằng tiền công thấp, khuyến
khích về thuế và vốn đầu tư đã thu hút một số loại đầu tư nhất định, nhưng không phải
loại mong muốn trong ngành CNC.
Mặt khác, cũng không phải không có những cơ hội để khai thác công nghệ bên
ngoài. Dưới tác động của cách mạng KH&CN và xu hướng quốc tế hóa hoạt động
KH&CN, các công ty xuyên quốc gia buộc phải chuyển giao một số công nghệ mới
cho các nước sở tại. Đáng tiếc là hiếm khi những có hội này được tận dụng, bởi để thu
hút các doanh nghiệp CNC nước ngoài cần phải có những điều ki
ện nhiều hơn những gì
hiện có ở các khu chế xuất.
Thực tế ở một số nước cho thấy việc hình thành các khu CNC trong khu chế xuất,
khu kinh tế mở đã khắc phục được những hạn chế trên:
- Thành công thường được nói tới của các khu chế xuất ở Đài Loan và Hàn Quốc
chính là gắn liền với xuất hiện những khu CNC đảm bảo cho việc chuyển lên những
trình độ cao hơn về công nghiệp chế biến
18
.
- Trung Quốc với sự phát triển các Khu khai phát kinh tế kỹ thuật trong các
Thành phố mở cửa vùng duyên hải phía nam là một ví dụ nổi bật về thành công của ý
đồ phát triển khu CNC trong khu chế xuất.
- Giai đoạn hai là giai đo
ạn trưởng thành (Période de Maturite) với những đặc
điểm như: chuyển dần những công nghệ dùng nhiều nhân công, đầu tư vốn ít sang
những công nghệ đầu tư vốn lớn, những ngành công nghiệp như hóa chất, điện tử, … để
có khả năng đưa công nghệ tiên tiến vào nước chủ nhà; mối quan hệ giữa các công
nghiệp trong khu với công nghiệp quốc gia được hình thành qua các quan hệ gia công;
ưu đãi khuyến khích
được chuyển dần sang những ngành công nghiệp có hàm lượng
KH&CN cao.
- Giai đoạn ba hay giai đoạn hòa nhập (Période D’integration), khu chế xuất mất
dần tính chất một khu vực khép kín vì nền công nghiệp chế biến nội địa đã phát triển
đạt được tiêu chuẩn cạnh tranh trên thị trường thế giới và các công ty nước ngoài đầu tư
nhiều trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng được hưởng những ưu đãi và quyề
n lợi
dành cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất. Đồng thời khu chế xuất có thể chuyển
thành khu CNC.
Với cách phân đoạn này, các khu chế xuất, khu kinh tế mở phải tuần tự trải qua
ba bước và đến bước phát triển cao mới có thể xuất hiện khu CNC. Đó là trường hợp
của các khu chế xuất ở Hàn Quốc và Đài Loan (điển hình là khu Hsinchu của Đài
Loan
20
).
Lý thuyết về vòng đời của khu chế xuất, khu kinh tế mở đúng với một số trường
hợp nhưng vẫn có những trường hợp khác mà điển hình là các Thành phố mở cửa của
Trung Quốc ngay từ đầu đã chú ý thành lập khu CNC. Ở đây khác biệt không phải về
giai đoạn phát triển mà là liên quan tới mục tiêu, chiến lược của khu chế xuất. Về bề
ngoài, mụ
c tiêu của khu chế xuất, khu kinh tế mở Trung Quốc dường như giống với các
khu chế xuất trên thế giới: phát triển hợp tác kinh tế, xúc tiến trao đổi kỹ thuật, mở rộng
xuất khẩu, thu ngoại tệ, tăng thêm việc làm, tạo liên kết với những cơ sở kinh tế nội địa
ộ quản lý và họat động kinh tế đối
ngoại.
(vi) Tạo những mối liên kết kinh tế tích cực (trực tiếp và gián tiếp) giữa những
cơ sở trong khu chế xuất với những có sở của nền kinh tế quốc dân nằm ngoài khu chế
xuất; đi từ khai thác cung cấp nguyên liệu tại chỗ, gia công chế biến, cung cấp bán
thành phẩm và dịch vụ tại chỗ đến mở r
ộng diện đầu tư của công ty xuyên quốc gia
trong khu chế xuất sang những khu vực khác trong nền kinh tế nước chủ nhà (Backward
linkages).
Những mục tiêu chung này cũng có sự phân biệt tùy theo hoàn cảnh:
- Đứng về lợi ích lâu dài của nước sở tại thì mục tiêu (i), (v), (vi) là có ý nghĩa
quan trọng nhất. Đó là tiêu chuẩn cơ bản để nhìn nhận, đánh giá sự thành công hay thất
bại của việc lập khu chế xuất và là những mụ
c tiêu có ý nghĩa chiến lược quán xuyến
nhất đòi hỏi nước chủ nhà phải có đối sách linh hoạt và khôn ngoan để đạt được.
- Có sự khác nhau về vận dụng các muc tiêu này ở các nước khác nhau tùy theo ý
đồ chiến lược phát triển quốc gia. Ở Ấn Độ, khu chế xuất mang ý nghĩa là một khu biệt
lập thực hiện chế độ mậu dịch tự do với thị trường thế giới. Trong một thờ
i gian dài, các
khu này chỉ được coi như một trong những chính sách điều chỉnh kinh tế của chủ nghĩa
tư bản nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nền công nghiệp bản xứ theo chiến
lược thay thế nhập khẩu. Đối với những đặc khu kinh tế và các thành phố mở cửa của
Trung Quốc, mục tiêu (i), (iv), (v), (vi) là những mục tiêu được quan tâm nhất.
Như vậy, có thể thấy, khả nă
ng xây dựng khu CNC trong khu chế xuất, khu kinh
tế mở là rất khác nhau thuộc vào sự khác nhau trong xác định mục tiêu chủ yếu của các
khu chế xuất. Có thể xuất hiện khu CNC trong các khu chế xuất vốn nhấn mạnh vào
một số mục tiêu phát triển kinh tế dựa trên KH&CN, mở rộng quan hệ lan tỏa công
nghệ ra toàn nền kinh tế, … và cũng là mục tiêu mang tính chiến lược, lâu dài. Ngược
nghệ tiến tiến với nước ngoài …
Việc áp dụng kinh nghiệm bên ngoài theo kiểu “đi tắt đón đầu” của Trung Quốc
một phần là dựa trên những phân tích về bối cảnh quốc tế. Các nhà thiết kế chính sách
Trung Hoa đã nhấn mạnh tới những tình hình mới nổi bất liên quan tới KH&CN: sự
chuyển hóa từ KH&CN sang sản xuất trở nên nhanh chóng hơn bao giờ hết; kinh tế phát
tri
ển dựa nhiều vào KH&CN. Tình hình mới đặt các đặc khu kinh tế, Thành phố ở của
cua Trung Quốc đứng trước các thách thức và Khu khai thác kinh tế kỹ thuật được xây
dựng để đón nhận và đáp lại những thách thức đó.
Ba là, vai trò quan trọng của sự phối hợp, lồng ghép về hạ tầng, vốn, … giữa khu
chế xuất, khu kinh tế mở và khu CNC trong khu chế xuất, khu kinh tế mở.
Có sự giống nhau gi
ữa khu CNC và khu chế xuất, khu kinh tế mở về tập trung ưu
tiên theo giới hạn không gian. Đối với các nền kinh tế chậm phát triển, việc tập hợp và
kiến tạo được đầy đủ ngay một lúc trên phạm vi rộng rãi những điều kiện và yếu tố để
có được những sản phẩm công nghiệp có thế mạnh cạnh tranh về giá cả và chất lượng
trên thị trường thế
giới là điều không đơn giản. Đây chính là một trong những bế tắc của
“Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu” mà các nước đang phát triển theo
đuổi. Việc thành lập khu chế xuất trên cơ sở tập trung kiến tạo những điều kiện, yếu tố
lý tưởng nhất có thể có được trên một địa bàn nhỏ hẹp được khoanh vùng là một giải
pháp khôn ngoan thoát khỏi bế tắc trên.
Tương tự, phát triển CNC đòi hỏi những điều kiện nhất định vốn không hề dễ
dàng đối với các nước đang phát triển. Khu CNC có ý nghĩa là sự ưu tiên tạo ra môi
trường tập trung thuận lợi để thu hút CNC từ bên ngoài, nghiên cứu CNC, thương mại
hóa CNC, …
19
Lợi dụng những tương thích về cơ sở hạ tầng sẵn có của khu chế xuất, khu kinh
tế mở sẽ tạo những lợi thế như hạ chi phí đầu tư của các khu CNC
- Chi phí theo het ta:
Theo tính toán của chuyên gia Mỹ Carl Godenez, xây dựng một khu chế xuất 100 ha sẽ tốn kém 25 – 40
triệu USD theo thời giá 1982.
Cụ thể chi phí của khu chế xuất trong một số nước Châu Á chọn lọc là:
Khu chế xuất Chi phí phát triển
(triệu USD)
Chi phí phát triển
(Nghìn USD/ha)
Chittagong, Băngladét 8,0 30
Kandla, Ấn Độ (đến tháng 12.1982) 18,0 6,5
Penang, Malaixia 10,0 20
Karachi, Pakixtan (đến tháng 6.1985) 26,3 (a) 13
Bataan, Philippin 208,2 602,9
Nasan, Hàn Quốc (đến 1979) 28,8 35
Lat Krabang, Thái Lan 9,8 36
- Thời gian tính toán dự trù tài chính cho một khu chế xuất thường trải qua 20 – 25 năm (tức là sau 20 –
25 năm là hoàn vốn).
20
viên Báo Tuổi trẻ Chủ nhật, ông Nguyễn Văn Lạng - Thứ trưởng Bộ Khoa học Công
nghệ, Trưởng ban quản lý Khu CNC Hoà Lạc đã nhấn mạnh một trong những lý do
khiến nhiều năm qua Khu Hoà Lạc trì trệ, không “lên” được là “Cái khó của một Khu
CNC như Hoà Lạc là chúng ta chưa có mô hình nào về khu CNC. Làm khu công nghiệp
thì đơn giản, chỉ san lấp mặt bằng, làm đường sá, hạ tầng xong rồi mời người ta vào, cứ
công nghiệp thì cho vào. Còn khu CNC thì phả
i làm thật bài bản. Chúng ta chọn mô
hình cho Hoà Lạc là đào tạo nguồn lực, nghiên cứu triển khai, công viên phần mềm,
khu công nghiệp CNC và các khu dịch vụ đáp ứng yêu cầu CNC, khu vui chơi, giải
trí…”
Khi phân tích về tình trạng chậm tiến độ trong triển khai khu CNC Hòa Lạc, một
nguyên nhân thường được nhắc tới là: xét về các điều kiện cần và đủ để xây dựng Khu
CNC Hòa Lạc thì vị trí/địa điểm xây dựng Khu này là một bất lợi (một trong những
điều kiện quan trọng là Khu CNC cần được xây dựng gần các thành ph
ố lớn, tập trung
nhiều tổ chức nghiên cứu - phát triển, đào tạo và doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh
23
24
UBND Thành phố Hồ Chí Minh- Ban Quản lý Dự án Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh: “Nghiên
cứu hoàn thiện quy hoạch tổng thể Khu Công nghệ cao TP. Hồ Chí Minh” (Báo cáo tổng hợp) – Thành phố Hồ
Chí Minh, tháng 4 – năm 2005, trang 1-2.
21
vực CNC). Đó cũng hợp với ý kiến trước đây của nhiều chuyên gia đã cảnh báo về
những khó khăn khi thực hiện phương án này.
Trái với Khu CNC Hòa Lạc, nhiều phân tích đã gắn việc triển khai có phần thuận
lợi hơn của Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh với sự lựa chọn ví trí chỉ cách trung tâm
thành phố, cảng Sài Gòn và sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 15km, nằm ở giữa 43
khu công nghiệ
p và khu chế xuất, gần Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các
viện nghiên cứu công nghệ.
Thậm chí, trong quá trình xem xét Dự án xây dựng Khu CNC Thành phố Hồ Chí
Minh, các chuyên gia nước ngoài (Mỹ, Thụy Điển và Nhật Bản) có nhiều kinh nghiệm
về thành công và thất bại của một số khu đặc thù loại này, đã nhất trí khuyến nghị
Thành phố Hồ Chí Minh chọn địa điểm Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh tại Quận 9,
n
ằm kề bên khu các đại học. Do vậy, dù chi phí đền bù giải tỏa tương đối cao thì lợi thế
địa điểm khu đất vẫn được chọn.
đồng ý ủy quyền Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phê duyệt nhiệm vụ và đồ
án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ
1/5000 trên cơ sở ý kiến của Bộ Xây dựng theo quy định; căn cứ vào tình hình thực tế
triển khai xây dựng Khu CNC, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền