BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
& BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
PHỤC VỤ XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG QUAN
TRẮC KHÍ THEO CÔNG NGHỆ TELEMONITORING
Chủ nhiệm đề tài: Văn Hùng Vỹ
8210
HÀ NỘI, 2009
TS. Nguyễn Thế Đồng
………, ngày …… tháng …… năm 20…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ
NGHIỆM THU
Ths. Nguyễn Duy Hùng
………, ngày …… tháng …… năm 20…
TL. BỘ TRƯỞNG
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
TS. Nguyễn Đắc Đồng
HÀ NỘI, 2009
c. Vấn đề thời gian thực và bảo mật cho các Hệ thống ứng dụng công
nghệ Telemonitoring 14
3.2. Khảo sát hiện trạng các trạm quan trắc khí phục vụ triển khai đề tài 16
3.3. Xây dựng Cơ sở dữ
liệu và phần mềm phục vụ truyền, nhận và lưu trữ
dữ liệu giữa các trạm quan trắc và trung tâm dữ liệu 19
3.3.1. Một số mô hình và công nghệ đã và đang được áp dụng 19
3.3.2. Xây dựng hệ thống 25
a. Mô hình triển khai 26
b. Các chức năng chính 28
3.4. Áp dụng thử nghiệm 51
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
4.4. Kết luận 55
4.4. Kiến nghị 56
PHỤ LỤC 1 57
PHỤ LỤC 2 59
4
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NHIỆM VỤ
1.1. Đặt vấn đề
Một trong những mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2007 – 2010 của Quy hoach
tổng thể mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia đến năm 2020
theo Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 là “tăng cường năng lực
và đảm bảo truyền tin thông suốt giữa các trạm quan trắc, các trung tâm thông
tin, tư liệu tài nguyên và môi trường; tạo lập, quản lý và khai thác có hiệu qu
ả cơ
sở dữ liệu quan trắc tài nguyên và môi trường”. Ngoài ra, Quyết định số 179/
2004/ QĐ-TTg ngày 06/10/2004 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Chiến
lược ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020 đã xác định rõ xu hướng tương lai là
Trong môi trường, diễn biến các chất ô nhiễm môi trường thường thay đổi rất
nhanh, ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sức kh
ỏe cộng đồng.Việc giám sát thường
xuyên, liên tục theo thời gian thực một số thành phần môi trường như nước,
không khí cho phép phản ánh kịp thời chất lượng của các thành phần môi trường
qua các giá trị tức thời của các thông số là rất quan trọng, đặc biệt là đối với các
nguồn thải. Hiện nay, áp dụng công nghệ kiểu “Telemonitoring” trong quan trắc
môi trường bằng kết hợp công nghệ thông tin hiện đại, các phương pháp ghép
nối giữa thiết bị quan trắc tự động liên tục và các phương tiện kết nối truyền tín
hiệu đã đưa công tác quan trắc sang một bước ngoặt mới. Bằng sự hỗ trợ của
công nghệ này các diễn biến chất lượng môi trường luôn được phản ánh chính
xác và tức thời đến trung tâm xử lý góp phần cảnh báo và xử lý ô nhiễm môi
trường tức thời. Tuy vậy, tuỳ từng l
ĩnh vực và thành phần môi trường quan trắc
mà mạng lưới theo mô hình telemonitoring – quan trắc môi trường từ xa được
thiết kế tương ứng. Đối với quan trắc ô nhiễm nước sông, trạm quan trắc nước tự
động được thiết kế phù hợp, tương ứng với điểm đo, theo mục đích sử dụng
nguồn nước và khả năng tự làm sạch của lưu vực sông ấy. Trong khi
đó, đối với
quan trắc chất lượng không khí việc thiết kế mạng lưới quan trắc chất lượng
không khí xung quanh sẽ khác với giám sát khí thải. Trong quan trắc thành phần
không khí, thực tế đã chứng minh quan trắc khí tự động là một hình thức giám
sát và lấy mẫu đáng lưu ý bởi hiệu quả và ý nghĩa mà nó mang lại. Trong loại
hình quan trắc này, từ đầu đo tự động tại trạm quan trắc khí, các thông số thành
phần thu được được truyền liên tục thông qua quay số, modem, cáp đồng trục…
về hệ thống xử lý số liệu trung tâm cách đó có thể lên tới hàng trăm km. Việc xử
lý số liệu phục vụ thống kê báo cáo vì thế cũng được tiến hành một cách thuận
lợi, nhanh chóng với tính thời sự cao.
Với việc áp dụng telemonitoring, các trạm quan trắc khí/ nước tự động có
thể hỗ trợ cho quan trắc đị
thông tin/ số liệu quan trắc về khí thu thập được;
1.3. Đối tượng và phạm vi của đề tài
Đối tượng:
Các trạm quan trắc không khí xung quanh tự động liên tục.
Phạm vi:
- Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ telemonitoring phục vụ việc thu thập
số liệu tại các trạm quan trắc không khí xung quanh tự động liên tục;
-
Triển khai áp dụng thử nghiệm đối với 02 trạm quan trắc không khí tự
động.
1.4. Các nội dung công việc của đề tài
(1). Nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm phát triển hệ thống truyền dữ liệu
telemonitoring:
7
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong thực tiễn, nghiên cứu, xác định
các yêu cầu nhằm thiết lập hệ thống trạm quan trắc khí theo mô hình
telemonitoring đối với Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về việc khai thác, xử dụng các thông
tin dữ liệu từ hệ thống telemonitoring
(2). Khảo sát hiện trạng các trạm quan trắc khí phục vụ triển khai xây dựng hệ
thống tại 05 tr
ạm quan trắc không khí của Hà Nội.
(3). Xây dựng cơ sở dữ liệu và phần mềm phục vụ truyền, nhận và lưu trữ dữ
liệu giữa các trạm quan trức và trung tâm dữ liệu
Xây dựng phương thức kết nối và truyền số liệu quan trắc không khí liên
tục từ các trạm quan trắc tới hệ thống trung tâm (cấp 1)
- Thiết lập kết nối b
ằng hình thức quay số qua modem;
- Thiết lập kênh kết nối qua đường ADSL;
dụng.
Các sản phẩm lý thuyết: bảo đảm cả về mặt lý luận lẫn thực tế, ứng
dụng công nghệ mới, hiện đại với điều kiện thực tế và có tính khả thi
cao.
-
Báo cáo vận dụng kinh nghiệm quốc tế trong thực tiễn, nghiên cứu,
xác định các yêu cầu nhằm thiết lập hệ thống kết nối các trạm quan
trắc khí theo mô hình telemonitoring đối với Việt Nam
- Báo cáo vận dụng kinh nghiệm quốc tế về việc khai thác, sử dụng
các thông tin dữ liệu từ hệ thống telemonitoring
- Báo cáo khảo sát hiện trạng các trạm quan trắc khí phục vụ triển
khai xây dự
ng hệ thống.
Phần mềm ứng dụng: đảm bảo các tính chất: tính thống nhất; tính kế
thừa cao, sử dụng tối đa các dịch vụ và hạ tầng trang thiết bị có sẵn,
tránh đầu tư trùng lặp gây lãng phí; tin cậy, an toàn và bảo mật; ổn
định, khả thi và hướng dịch vụ. Các chức năng của phần mềm:
- Quản trị cơ sở d
ữ liệu phục vụ lưu trữ và quản lý số liệu quan trắc
không khí tự động đặt tại trung tâm dữ liệu;
- Kết nối và truyền số liệu quan trắc khí liên tục từ các trạm quan trắc
tới hệ thống trung tâm (cấp 1);
- Chuyển đổi, chuẩn hoá và cập nhật dữ liệu sau chuẩn hoá;
- Giám sát và hiển thị: sơ đồ hoá các điểm quan trắc
đang tham gia
kết nối trong hệ thống, hiển thị số liệu quan trắc theo thời gian thực;
9
- Cảnh báo và gửi thông tin cảnh báo cho nhà quản lý dưới hình thức
thư điện tử và tin nhắn trên điện thoại di động
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý, giám sát hoặc đánh giá
môi trường bằng hệ thống quan trắc môi trường tự động từ xa cũ
ng đã được các
10
nước nghiên cứu và đưa vào áp dụng trong thực tế. Xét về khía cạnh môi trường,
“Telemonitoring” là thuật ngữ chuyên ngành được hiểu là việc ứng dụng các
phương tiện và các công nghệ truyền thông thông tin để phản ánh giá trị tức thời
tại địa điểm quan trắc đến trung tâm quản lý, phục vụ theo dõi tập trung, quản lý
điều hành và tự động cảnh báo khi xảy ra biến động môi trường hoặc sự cố về
mặt kỹ thuật.
Trên thế giới nhiều quốc gia đã xây dựng và đưa vào hoạt động các hệ
thống quan trắc môi trường tự động như mạng lưới quan trắc chất lượng nước tự
động, chất lượng không khí tự động đối với môi trường xung quanh và giám sát
nguồn thải (khí thải ống khói). Một số nước trong khu vực Đông Nam Á như
Malaysia, Thái Lan, Singapore….cũng như trong khu vực Châu Á như
: Nhật
Bản và Hàn Quốc …. đã thiết lập hệ thống telemonitoring giám sát chất lượng
không khí và nước đồng bộ và rất hiệu quả. Kết quả, sự thành công của các hệ
thống quan trắc môi trường từ xa của các quốc gia có trong khu vực có nhiều nét
tương đồng về địa lý, vùng khí hậu cũng như tập quán sẽ là những kinh nghiệm
quý cho Việt Nam.
a. Thái Lan
Thái Lan – một nước đang phát triển có khá nhiều đặ
c điểm tương đồng với
nước ta là một ví dụ điển hình trong việc triển khai áp dụng telemonitoring trong
quan trắc môi trường. Với sự ra đời của trung tâm Thông tin tài nguyên môi
trường NERIC từ những năm 1994 mạng lưới quan trắc không khí tự động nước
này đã hoạt động khá đồng bộ. Với vai trò là trung tâm quốc gia về thông tin dữ
thống quan trắc không
khí tác động (Stack Tele-Monitoring System -TMS). Với hệ thống này, mỗi ống
khói lớn – nơi phát ra khí thải gây ô nhiễm đều được theo dõi và giám sát. Điều
này đóng vai trò quan trọng trong việc giữ gìn chất lượng không khí và phát
triển công nghiệp ở mức độ thích đáng nhất.
Hơn nữa, TMS được có khả năng tự động hoá hệ thống kiểm soát phát thải
khắp đất nước, đánh dấu các điểm phát th
ải mạnh để giảm thiểu và cải tiến trong
quy trình xử lý. Một phần cơ bản của TMS là các phương thức kiểm soát, TMS
có khả năng quan trắc tự động 24 giờ liên tục và lưu trữ dữ liệu cùng một lúc.
Căn cứ trên thông tin thu thập đuợc từ TMS, chính phủ có thể dựa vào đó để
đánh thuế phát thải và như vậy vô hình chung đã hình thành một cơ chế thông
suố
t, điều hành trên cơ sở khoa học. Với các kết quả đạt được, TMS được lựa
chọn là dự án công nghệ thông tin cấp quốc gia năm 2004. TMS cổ vũ các cơ sở
công nghiệp để tạo hiệu quả tiên phong trong việc giảm thiểu ô nhiễm – đánh
dấu bằng cam kết nâng cao chất lượng không khí. Bằng việc tận dụng các thông
tin quan trắc không khí thời gian thưc, các nhà máy có thể có các hành động
thiết thự
c để nâng cấp quy trình sản xuất trong khi đưa ra các giải pháp quản lý
thích hợp để ngăn ngừa ô nhiễm.
13
Nhằm hướng dẫn một cách hiệu quả việc quản lý chất lượng không khí, Bộ
Môi trường Hàn Quốc đã phân lãnh thổ quốc gia làm ba vùng – vùng đặc biệt
dành cho việc bảo tồn môi trường không khí, vùng kiểm soát ô nhiễm và vùng
khác. Ngoài ra các nhà máy công nghiệp nặng được nhóm lại theo 3 cấp khác
nhau trên cơ sở thải lượng, loại nhà máy và vị trí nhà máy. Các nhà máy trong
phạm vi vùng bảo tồn phải được cài đặt hệ thống TMS để giám sát
cấp thành luật môi trường và các hướng dẫn liên quan tới TMS. Thứ hai, Hội
đồng quản lý môi trường – một bộ phận của Bộ môi trường, chịu trách nhiệm
trong việ
c xây dựng và quản lý các trung tâm điều khiển TMS, thu thập dữ liệu,
xác định phạm vi phân tích, cung cấp trợ giúp kỹ thuật cho các cơ sở công
nghiệp và báo cáo số liệu và kết quả thu thập được tới Chính phủ. Thứ ba, các
cơ sở công nghiệp đóng phí để cài đặt TMS, truyền dữ liệu và cho hoạt động của
TMS.
c. Vấn đề thời gian thực và bảo mật cho các Hệ thống ứng dụ
ng công nghệ
Telemonitoring
15
Hệ thống điều hành từ xa có nhiều thành phần khác nhau với các yêu cầu
về tri thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Để phát triển một hệ thống điều hành từ
xa hiệu quả, cần tập trung vào nhiều vấn đề và các yêu cầu ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu năng thực hiện. Các giải pháp đưa ra phải cân bằng, tức là hiệu suất cao
trong một l
ĩnh vực sẽ mang lại ít giá trị nếu các tác nhân khác giới hạn hiệu năng
của hệ thống. Trong phạm vi ứng dụng công nghệ Telemonitoring để truyền dữ
liệu từ xa, chúng tôi chỉ xin đề cập đến 2 vấn đề đó là truyền dữ liệu thời gian
thực và đảm bảo an toàn hệ thống.
Truyền dữ liệu thời gian thực: Thiết bị đo là một đầ
u cảm biến, những
thay đổi theo thời gian sẽ được ghi lại thông qua đầu cảm biến này. Dựa trên
một cơ chế đã thiết lập sẵn, các lệnh điều khiển thích hợp sẽ đươc đưa ra. Thực
tế, các ứng dụng thời gian thực khá khác với các ứng dụng dữ liệu chuẩn, và yêu
cầu dịch vụ không thể được phân phối trên cơ sở cấu trúc d
ịch vụ dữ liệu chuẩn.
Trễ và mất mát dữ liệu là những vấn đề nghiêm trọng phải đối mặt trong các ứng
thiết bị và quy trình được điều khiển từ xa sử dụng các máy tính cá nhân và
truyền thông mạng với chi phí thấp. Song bảo đảm an toàn là một v
ấn đề đặt ra.
Như vậy, để đảm bảo cho việc kiểm soát hệ thống được an toàn và quyền sở hữu
dữ liệu được bảo vệ, các cơ chế phải được đặt ra để kiểm soát truy nhập dữ liệu
và hệ thống. Để an toàn, tính tin cậy và giảm thiểu chi phí, bảo mật dữ liệu phải
được triển khai trong một hệ thống điều hành t
ừ xa, đặc biệt là khi hệ thống hoạt
động thông qua các mạng mở rộng. Những điều khác nhau mà một dịch vụ điều
hành từ xa có thể làm trên cơ sở đảm bảo an toàn, trong mối quan hệ tới các hoạt
động điều hành trên internet có thể nhóm thành 2 loại sau:
1. Đảm bảo định danh của mỗi người sử dụng: đảm bảo rằng các truy cập
được biết và được phép;
2. Bảo v
ệ truyền thông dữ liệu, đảm bảo rằng dữ liệu này không bị chặn,
hỏng, hoặc thay thế trong quá trình vận chuyển.
Loại đầu tiên phục vụ mục đích cho phép hệ thống kiểm soát được đối
tượng nào đang thực sự sử dụng chúng. Loại thứ hai nêu khá rõ về mục đích của
hệ thống; nó đảm bảo rằng dữ liệu đến nguyên vẹn, và không rò rỉ
khi chưa
được cá nhân cho phép. Một số hình thức đảm bảo việc này là mã hóa, sử dụng
mật khẩu … Bên nhận sẽ thực hiện giải mã trước khi đọc dữ liệu.
3.2. Khảo sát hiện trạng các trạm quan trắc khí phục vụ triển khai đề tài
Tại Việt Nam, các trạm quan trắc môi trường không khí tự động có thể kể
tới:
Tại Hà Nội, bao gồm 06 trạm do các đơn vị khác nhau qu
ản lý. Hầu hết
các trạm này được trang bị các máy móc phần lớn có nguồn gốc từ Hoa
Kỳ, Nhật Bản và Pháp; cụ thể như sau:
- Trạm quan trắc không khí khu vực Nam Thăng Long tại đường Phạm
kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp, Trường Đại học Xây
dựng, Hà Nội. Trạm tự động cố định: bắt đầu quan trắc từ năm 1999.
Tần suất quan trắc 24/24 giờ, các thông số
quan trắc gồm có: SO
2,
NO
x,
O
3,
CO, PM
10
; các thông số khí tượng. Hiện trạm không hoạt động do
các thiết bị hỏng, không có phụ tùng thay thế;
- Trạm tự động di động: bắt đầu quan trắc từ năm 2002 đến năm 2004.
Hoạt động quan trắc được tiến hành trên cơ sở các chương trình/ dự án,
các thông số quan trắc gồm có: SO
2,
NO
x,
O
3,
CO, bụi TSP, các thông số
khí tượng. Hiện nay, Tổng cục môi trường đang lên kế hoạch sửa chữa
để tiếp tục đưa vào hoạt động.
- Trạm đặt tại 556 Nguyễn Văn Cừ, do Trung tâm Quan trắc Môi trường
quản lý, lắp đặt từ 2009, đến nay vẫn hoạt động tốt, các thông số đo:
SO
2,
NO
x,
4
và không có gốc
CH
4
).
Tại thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống 09 trạm khí tự động do Sở TNMT
TP Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm quản lý. Các thiết bị có xuất xứ từ Mỹ.
Tần suất quan trắc 24/24 giờ, bắt đầu quan trắc từ năm 2002, các thông số
quan trắc SO
2,
NO
x,
CO.
Nhìn chung, đối với các trạm quan trắc này, tuy đã tiến hành quan trắc không
khí tự động có nơi lên đến 24/24 giờ liên tục song việc liên kết giữa các trạm do
các đơn vị khác nhau quản lý còn chưa thực hiện được, nguyên nhân chủ yếu là
do công nghệ, thiết bị sử dụng khác nhau về đời máy, chủng loại và hãng sản
xuất và thiếu một cơ chế chung trong quản lý, vận hành… Mặt khác, việc triển
khai vẫn tính th
ụ động, một chiều, dữ liệu thu thập được chủ yếu phục vụ mục
đích phân tích báo cáo, chưa có sự tương tác với người sử dụng khi hệ thống gặp
sự cố, cảnh báo khi giá trị sai hoặc vượt mức cho phép báo hiệu gây ô nhiễm
môi trường.
Trong phạm vi kinh phí của đề tài, phục vụ mục đích xây dựng hệ thống
nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tạ
i một số trạm quan trắc không khí tự
động cố định tại Hà Nội, cụ thể như sau là:
- Trạm đặt tại 285 Lạc Long Quân;
- Trạm đặt tại ĐH Xây dựng;
- Trạm Thượng Đình - ĐH tự nhiên;
nhiễm tại các vùng khác nhau và nhằm đưa ra các quyết định hay biện pháp
khắc phục kịp thời. Về mặt thiết kế, mô hình kết nối các trạm quan trắc với trạm
trung tâm như sau:
Trạm quan trắc: Trạm quan trắc ở đây được coi là hệ thống các mạng
sensor nội bộ có mục đích thu thập thông tin của môi trường khí thông qua các
cảm biến chuyên dụng. Các số liệu thu về này sẽ được lưu trữ lên các bộ data
logger và có thể được xử lý rồi lưu lại dưới dạng file (.txt, file excel ) hay
được gửi về trung tâm dữ liệu. Theo như thiết kế của mạng telemonitoring thì
trạm quan tr
ắc được phân quyền ở mức thấp nhất, nghĩa là chỉ có vai trò thu thập
thông tin, gửi thông tin theo định kỳ hay tức thời tùy theo các yêu cầu của trạm
có phân quyền cao hơn và thông báo cho trạm trung tâm biết khi xảy ra các
thông tin vượt ngưỡng (báo động).
Trạm trung tâm: Trạm trung tâm được trang bị đầy đủ các giao diện kết
nối và bằng các hình thức trực tiếp hay gián tiếp có thể liên lạc, ra lệnh cho bất
cứ thành phần nào của m
ạng. Ngoài nhiệm vụ thu thập dữ liệu, trạm trung tâm
còn có vai trò quan trọng trong việc xử lý các số liệu nhận được và đưa ra thông
21
tin dưới dạng các văn bản và siêu văn bản trực quan. Trạm trung tâm có các
server chuyên dụng để lưu trữ lịch sử thông tin, cho phép truy xuất và thay đổi
dữ liệu. Ngoài ra các phần mềm chuyên dụng đóng vai trò phân tích, dự báo và
xây dựng các cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc quản lý môi trường và các ứng
dụng cụ thể khác. Những ứng dụng khai thác dữ liệu từ hệ thống mạng
Telemonitoring này sẽ đượ
c nói rõ hơn trong chuyên đề tiếp theo. Đối với các
trạm xử lý trung tâm hiện đại, ngoài việc lập các báo cáo theo phương pháp
truyền thống, trạm còn phải có khả năng xây dựng mô hình truy xuất dữ liệu
22
Truyền dữ liệu qua đường điện thoại theo kiểu dial-up: hai phương thức
truyền dữ liệu qua đường dây thoại: truyền trực tiếp từ trạm đo đến trạm trung
tâm hoặc truyền gián tiếp qua mạng dial-up. Trong hai phương pháp này thì
phương pháp thứ 2 tỏ ra hiệu quả hơn đặc biệt là khi hệ thống được mở rộng với
số lượng trạm đo khí lớn.
Ưu điểm: yêu cầu trang thiết bị tối thiểu, cấu trúc của mạng cực kỳ đơn
giản với hai đầu số thuê bao điện thoại cố định, dây thoại và 2 modem kiểu V90
là hai nút mạng có thể liên lạc được với nhau thông qua các lệnh kết nối đơn
giản.
Nhược điểm: sử dụng các đầu số thuê bao điện thoại cố định. Theo kinh
nghi
ệm thực tế thì số lượng đầu số thuê bao là hạn chế và như vậy các trạm đo
thường phải dùng chung đầu số này với các trạm khác hay với dịch vụ thoại
thông thường. Việc này dẫn tới tình trạng mất mát thông tin, đặc biệt là thông tin
báo động do khi trạm muốn quay số kết nối thì đường dây đang bận do có người
hay dịch vụ khác sử dụng. Để xử lý vấn đề
khó khăn này, việc kết nối qua
đường dial-up cần có thêm cơ chế tự động chiếm đường truyền và phân quyền
sử dụng đường truyền. Các dịch vụ dùng chung đầu số thuê bao phải kết nối vào
thiết bị tự động chuyển kênh để được dùng đường truyền.
Truyền thông tin qua mạng Internet hữu tuyến: Cấu trúc của 1 hệ thống
mạng như sau: Các trạm kết nối qua chuẩn Ethernet (IEEE 802.3) cấu thành
mạng LAN (ví dụ với các trạm ở gần nhau), truyền qua switch hoặc router qua
mạng Internet tới trạm trung tâm. Trạm trung tâm có nhiệm vụ thu thập và xử lý
thông tin truyền về từ các trạm bao gồm một đường thuê bao internet ADSL có
địa chỉ IP tĩnh và server chuyên dụng. Với cách thức truyền thông tin như thế
này, ph
truyền đi và quay số kết nối gửi qua mạng thông tin di động. Quá trình này hoàn
toàn đơn giản, tương tự như việc sử dụng modem hữu tuyến.
Ưu điểm: Tốc độ truyền khá lớn, của GSM là 14.4 kbps cho mỗi kênh,
nếu sử dụng toàn bộ 8 kênh thì tốc độ theo lý thuyết sẽ là 115.2 kbps, còn trên
th
ực tế tốc độ chỉ đạt tới 57.6 kbps là tối đa; tốc độ tối đa thực tế của GPRS có
thể lên tới 80kbps.
Nhược điểm: Chỉ sử dụng tốt ở những vị trí có chất lượng tín hiệu cao,
ngoài ra GPRS cũng chưa được phủ sóng tới toàn bộ mạng mà chỉ tập trung ở
các thành phố hay đô thị. Đối với cơ sở h
ạ tầng mạng tại Việt Nam, việc nghẽn
mạng vào những giờ cao điểm thường xuyên xảy ra và chất lượng truyền thực tế
không cao như tiêu chuẩn. Đây là những hạn chế mà người thiết kế cần tính toán
để đạt hiệu suất sử dụng cao nhất.
Truyền thông tin qua mạng điện thoại di động GSM, 3G: Truyền thông
tin qua mạng 3G: mạng thông tin di động thế h
ệ thứ 3 (3th Generation) hỗ trợ
24
dịch vụ truyền tải thông tin băng thông rộng đang trở nên rất phổ biến tại các
nước Mỹ, châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản Việc cấp phép dịch vụ 3G cho một
số công ty viễn thông lớn tại nước ta mở ra một kênh thông tin mới đầy tiềm
năng đặc biệt là trong các lĩnh vực khai thác mạng di động như các dịch vụ
video, TV trực tuyến cho điện thoại di động.
Ưu điểm: Cho hiệu quả truyền thông tin rất cao và giúp gia tăng lượng
kết nối và dịch vụ. Vấn đề hiện nay của mạng 3G chính là lượng thiết bị đầu
cuối hỗ trợ truyền thông tin còn có giá thành cao và chưa được ứng dụng phổ
biến.
Nhược điểm: Cơ sở hạ tầng mạng chưa thể hoàn thiện trong thời gian
ngắn do các nhà cung cấp dị