DỊCH VỤ VIỆC LÀM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG - LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội có tính toàn
cầu, là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Ngày nay, quan niệm
về phát triển được hiểu đầy đủ là: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công
bằng xã hội; phải xoá đói, giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp…
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm
cho nhân dân lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn
việc làm, được ấm no và được sống một đời hạnh phúc”. Tư tưởng của người
luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về giải quyết việc làm cho người lao động.
Thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, cản trở quá
trình vận động và phát triển kinh tế đất nước. Vì vậy, tạo việc làm cho người
lao động là vấn đề nóng bỏng, cấp thiết cho từng ngành, địa phương và từng
gia đình. Tạo điều kiện cho người lao động có việc làm, một mặt, nhằm phát
huy tiềm năng lao động, nguồn lực to lớn ở nước ta cho sự phát triển kinh tế -
xã hội, mặt khác, là hướng cơ bản để xoá đói, giảm nghèo có hiệu quả, là cơ
sở để cải thiện và nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần quan trọng giữ
vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo động lực mạnh mẽ thực
hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “Giải quyết
việc làm là một chính sách xã hội cơ bản. Bằng nhiều biện pháp, tạo ra nhiều
việc làm mới, tăng quỹ thời gian lao động được sử dụng, nhất là trong nông
nghiệp, nông thôn. Các thành phần kinh tế mở mang các ngành nghề, các cơ
sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động. Chăm lo cải thiện
điều kiện làm việc, đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động, phòng chống tai nạn
và bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Khôi phục và phát triển các làng
1
nghề… sớm xây dựng và thực hiện chính sách trợ cấp cho người lao động thất
nghiệp”[7, tr135].
Trước những yêu cầu bức xúc về giải quyết việc làm. Năm 1992, Nhà

cũng như quyền lợi của người lao động. Chính vì vậy, việc phát triển đồng bộ
hệ thống dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng và cả nước
nói chung là nhiệm vụ cần thực hiện để tư vấn, thu thập, cung cấp thông tin
thị trường lao động góp phần phát triển thị trường lao động.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Dịch vụ việc làm trên địa bàn
tỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Thời gian qua, có nhiều công trình khoa học đề cập đến quá trình hình
thành và phát triển các tổ chức dịch vụ việc làm. Đảng, Nhà nước ta và rất
nhiều học giả rất quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, được đăng
tải, công bố như:
+ Thực trạng và một số giải pháp phát triển thị trường lao động ở thành
phố Đà Nẵng, Sở Lao động – thương binh và xã hội thành phố Đà Nẵng,
tháng 5 năm 2006.
+ Các chính sách về việc làm và thị trường lao động trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế của TS Nguyễn Bá Ngọc, Phó hiệu trưởng trường Đại
học Lao động – Xã hội, số 332, 333 tháng 3 năm 2008.
+ Vai trò trung tâm giới thiệu việc làm đối với chính sách bảo hiểm thất
nghiệp, Ths. Trần Phương trường Đại học Lao động – Xã hội, số 338 tháng 7
năm 2008.
3
+ Đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia
về việc làm, của Nguyễn Đại Đồng Cục trưởng Cục Việc làm Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội, số 350 tháng 01 năm 2009.
+ Báo cáo: Thực trạng hoạt động của hệ thống Trung tâm giới thiệu việc
làm và hệ thống thông tun thị trường lao động tại Việt Nam, phương hướng,
nhiệm vụ và giải pháp phát triển trong thời gian tới của Vụ Lao động – việc
làm (nay Cục việc làm) Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tháng 9 năm 2007.
+ Hội thảo: Tổng kết 15 năm hoạt động giới thiệu việc làm và đề ra
phương hướng đổi mới hoạt động giới thiệu việc làm trong thời gian tới, Bộ

đề xuất giải pháp từ nay đến 2020
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; dựa vào những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta cũng như những lý thuyết của kinh tế chính trị học và kinh tế
học về dịch vụ việc làm.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương pháp
duy vật biện chứng & duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin đồng thời
kết hợp sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích tổng
hợp để làm rõ các nội dung của luận văn.
6. Những đóng góp mới về mặt khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng các loại hình dịch vụ
việc làm trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong thời gian qua.
5
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát triển hệ thống dịch
vụ việc làm trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ nay đến năm 2015 và 2020, góp phần
phát triển thị trường lao động trên địa bàn tỉnh Hải Dương theo hướng tích cực.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết cụ thể như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ việc làm.
Chương II: Thực trạng dịch vụ việc làm trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Chương III: Một số quan điểm, giải pháp phát triển dịch vụ việc làm trên
địa bàn tỉnh Hải Dương.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ VIỆC LÀM
1.1. Cơ sở lý luận chung về dịch vụ việc làm

Thứ nhất, dịch vụ là sản phẩm vô hình. Sản phẩm hữu hình có thể dễ
dàng định lượng và tiêu chuẩn hóa. Còn kết quả của hoạt động dịch vụ, mặc
dù có thể cảm nhận, đánh giá, nhưng rất khó lượng hoá vì không tách riêng ra
dưới hình thái hiện vật được. Phần lớn công việc của những người làm dịch
vụ thường biến đi ngay khi làm xong, rất ít khi để lại một dấu vết hay một giá
trị nào đó để sau này có thể cho ta nhận được một số lượng dịch vụ ngang như
thế. Kết quả một số dịch vụ nhất định có thể tồn tại như một giá trị sử dụng có
hình thái độc lập tách khỏi người sản xuất và người tiêu dùng, có thể duy trì
sự tồn tại, lưu thông trong một khoảng thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng
như những tác phẩm nghệ thuật, Nhưng, thực ra, giá trị sử dụng của chúng
không phải là bản thân yếu tố vật chất của sản phẩm tồn tại độc lập đó, mà là
“cái hồn” của những tác phẩm đó, thể hiện ở cái đẹp, cái hay mà từng người
tiêu dùng cảm thụ được. Cũng có những dịch vụ phải có sản phẩm vật chất
kèm theo, làm trung gian, như dịch vụ cung ứng bữa ăn trên máy bay hay trên
xe lửa, hoặc là dịch vụ cho thuê nhà nhưng bản thân dịch vụ đó vẫn là vô hình.
8
Thứ hai, phần lớn dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời, nên dịch
vụ không thể tích luỹ, để dành. Sản phẩm hiệu vật có thể tách rời sản xuất với
tiêu dùng, có thể tích trữ trong kho, nhưng dịch vụ thì thường sản xuất đến
đâu tiêu dùng đến đấy, không tiêu dùng sẽ bỏ phí vì dịch vụ không thể tích
trữ, để dành. Ví dụ, khi xe chở khách, người lái xe tạo ra sự di chuyển đến
đâu thì hành khách hưởng thụ đến đó. Nếu xe có 4 chỗ mà chỉ có một người
ngồi thì ba chỗ còn lại sẽ bị bỏ phí, không thể để dành cho lần sau được.
Thứ ba, chất lượng của dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp xúc trực
tiếp hay sự tương tác giữa người cung cấp dịch vụ và người được thụ hưởng
dịch vụ. Sản phẩm hiện vật có thể đánh giá thông qua các tiêu chuẩn cụ thể về
chất lượng mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và
người tiêu dùng. Còn chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất nhiều vào sự giao tiếp,
thái độ và năng lực đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng, đem lại sự hài
lòng và thiện cảm của khách hàng đối với người phục vụ.

Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ; dịch vụ là
một điều kiện để phát triển sản xuất, kinh doanh. Sự phát triển dịch vụ hợp lí,
có chất lượng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội
văn minh.
Do ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh
vực kinh tế quan trọng, có vị trí lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia phát
triển.
10
Dịch vụ là những hoạt động cần thiết, tất yếu được nẩy sinh từ yêu cầu của
các hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và nhu cầu đời sống của
con người. Dịch vụ sản xuất ra các điều kiện nhằm phục vụ các hoạt động xã
hội và đời sống con người. Các sản phẩm của dịch vụ cũng là những hàng hoá
được mua bán trao đổi trên thị trường. Dịch vụ vừa là nguyên nhân, vừa là kết
quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Xã hội phát triển càng cao
thì lĩnh vực sản xuất dịch vụ có xu hướng phát triển ngày càng tăng.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhất là nền kinh tế tri thức, trong
GDP và cơ cấu lao động xã hội, cơ cấu kinh tế quốc dân, dịch vụ là một bộ
phận hàng hóa vô hình ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Dịch vụ là nguồn của
cải vô tận, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Việc làm
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã
hội loài người. Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới
xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã
hội phát triển, những hoạt động lao động sản xuất nói chung ấy, được phân
chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động được làm
việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi người tham
gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống
bản thân và đóng góp cho xã hội.
Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động sản xuất ở mỗi

làm là phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế xã hội. Trên khía cạnh
12
xã hội, việc làm phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người trong
những giới hạn nhất định, trong đó quá trình lao động được diễn ra, là cơ sở
để các mối quan hệ xã hội tồn tại trong mối liên hệ đan xen, liên kết với nhau
phát triển theo hướng lành mạnh. Trên khía cạnh kinh tế việc làm thể hiện
mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người
và yếu tố vật chất trong lao động sản xuất.
Vấn đề việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp. Đó là công việc
của mỗi cá nhân nhưng lại gắn liền với xã hội. Có việc làm, không những người lao
động có thu nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lượng của cải cho xã hội.
Mác đã nói: “Với những điều kiện khác không thay đổi thì khối lượng và giá trị của
sản phẩm tăng lên theo tỷ lệ thuận với số lượng lao động được sử dụng” [32, tr.75].
Việc làm là một vần đề có ý nghĩa kinh tế xã hội và chính trị quan trọng
của một quốc gia. Hiện nay đảm bảo an toàn việc làm là một trong những yếu
tố cơ bản của sự phát triển bền vững. Thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và xu thế
chủ động hội nhập kinh tế thế giới ở nước ta hiện nay đang tạo ra những cơ
hội và thách thức về lao động, việc làm cho người lao động. Chính vì vậy
nhận thức đúng đắn về việc làm là vấn đề quan trọng tạo cơ sở lý luận để đưa
ra những giải pháp tích cực giải quyết việc làm, phát huy nguồn lực lao động
của xã hội.
Trước đây, trong cơ chế cũ việc làm của người lao động thường do nhà
nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời. Người lao động có việc làm
được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ
quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, các đơn vị kinh tế quốc doanh, với
quan niệm Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động. Chính vì vậy, xã hội
không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không
đầy đủ. Quan điểm đó tạo ra tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người lao động khi
họ cần việc làm.
13

nghề của công nghiệp hóa. Chình vì vậy thiếu việc làm đầy đủ cả vô hình và
hữu hình là hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Việc làm được tự do lựa chọn là sự đáp ứng tối ưu nhất nhu cầu về việc
làm cho người lao động. Nó không những đưa lại thu nhập cao cho người lao
động mà còn đưa lại năng suất lao động cao cho xã hội. Việc làm được tự do
lựa chọn là sự kết hợp tối ưu sức lao động với các yếu tố khác của sản xuất.
Người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp với nhu cầu vật chất cũng
như năng lực sở trường để vừa đảm bảo thu nhập vừa có điều kiện phát triển
phong phú đời sống tinh thần.
Dịch vụ việc làm
Dịch vụ việc làm được hiểu là hoạt động môi giới việc làm giữa người sử
dụng lao động và người lao động, nhằm chắp nối cung – cầu về lao động trên
thị trường lao động.
DVVL đã phát triển từ lâu trên thế giới. Ở nhiều nước, hoạt động DVVL
được tổ chức thành hệ thống, được trang bị các phương tiện hiện đại nhằm thu
thập, phân tích và cung cấp thông tin thị trường lao động cho người sử dụng
lao động, người lao động cũng như các cơ quan chức năng liên quan. Người
lao động có thể tiếp cận thông tin bằng nhiều hình thức để tìm kiếm cơ hội
việc làm thuận tiện và nhanh chóng.
Nội dung hoạt động dịch vụ việc làm
Với chức năng kết nối cung - cầu lao động, DVVL giữ vai trò trong hình
thành phát triển thị trường lao động. Các trung tâm giới thiệu việc làm đã và
đang là cầu nối cần thiết, hữu ích giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Trên thế giới, dịch vụ việc làm diễn ra ở hầu hết các nước, tập trung theo
hai mô hình chủ yếu là theo ngành dọc và theo đơn vị hành chính với mức độ
15
phân cấp khác nhau. Việt Nam hiện nay có cả hai loại hình là DVVL công và
DVVL tư. Hiện cả nước có hơn 130 Trung tâm giới thiệu việc làm, trong đó
64 trung tâm trực thuộc các Sở Lao động – Thương binh và xã hội, 66 trung tâm
thuộc các bộ, ngành, tổ chức đoàn thể và các ban quản lý khu công nghiệp – khu

gian hạn chế số lượng người được tìm hiểu thông tin. Đối với tư vấn tập thể
trước hết đòi hỏi lựa chọn đối tượng có cùng đặc điểm nhu cầu tìm kiếm
thông tin cơ bản giống nhau mới phù hợp nội dung tư vấn.
Trong quá trình giúp đỡ người lao động tìm việc, các cơ sở DVVL
thường hỗ trợ bằng cách đóng góp ý kiến cho người lao động về học nghề, về
việc làm, về kỹ năng thi tuyển, về tự tạo việc làm, về chính sách, pháp luật lao
động. Hỗ trợ người sử dụng lao động về tuyển dụng, quản trị và phát triển
nguồn nhân lực, về sử dụng và phát triển việc làm
Cán bộ phụ trách công tác tư vấn đòi hỏi phải nắm và hiểu các vấn đề
liên quan đến dịch vụ việc làm để đóng góp ý kiến cho người lao động, người
sử dụng lao động quyết định về việc chọn nghề, về việc làm, lựa chọn việc làm và
tuyển dụng, tổ chức thực hiện các chính sách, chế độ trong quá trình quan hệ
lao động.
- Về giới thiệu việc làm
Giới thiệu việc làm là giúp người lao động đang trên đường tìm việc và
người sử dụng lao động gặp nhau trao đổi, thỏa thuận về việc làm và các điều
kiện liên quan trong quan hệ lao động.
Giới thiệu người lao động để chắp nối việc làm còn trống được diễn ra
theo các bước: tiếp nhận người lao động đăng ký tìm việc làm. Tiếp nhận
17
đăng ký là quá trình phỏng vấn thu thập thông tin người lao động về trình độ
được đào tạo, nghề nghiệp, kinh nghiệm và các vấn đề liên quan, lưu giữ
thông tin người tìm việc. Đồng thời DVVL còn khai thác hoặc tiếp nhận đăng
ký chỗ việc làm trống có nhu cầu tuyển dụng cũng là quá trình phỏng vấn thu
thập thông tin về chỗ việc trống và các điều kiện làm việc, môi trường làm
việc, các chế độ liên quan… trên cơ sở đó giới thiệu người lao động đến chỗ
việc làm trống phù hợp.
Như vậy, giới thiệu việc làm là quá trình trong đó cơ sở DVVL có những
thông tin về chỗ việc làm trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ
của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thỏa thuận về việc

tìm việc làm hoặc đang làm việc
Cung thực tế: bao gồm tất cả những người đủ tuổi lao động, ở Việt Nam
quy định người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc và tất cả những người thất
nghiệp có nguyện vọng đi tìm việc làm.
Cung tiềm năng: bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc
và những người thất nghiệp; cả những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ hoặc không có nhu
cầu tìm việc.
Cầu lao động: chỗ việc làm trống hiện có và tổng mức việc làm
Xét về số lượng lao động, trong điều kiện năng suất lao động không đổi,
cầu lao động xã hội tỷ lệ thuận với quy mô và tốc độ phát triển sản xuất, kinh
doanh. Nếu quy mô sản xuất, kinh doanh không đổi, cầu lao động tỷ lệ nghịch
với năng suất lao động.
Xét về chất lượng lao động, việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất
lao động đòi hỏi doanh nghiệp phải bổ sung lực lượng lao động có chất lượng cao,
19
đó là lao động có trình độ tay nghề giỏi, thông thạo nhiệm vụ chuyên môn, chịu áp
lực công việc, có ý thức, tác phong công nghiệp, chấp hành kỷ luật lao động tốt.
Các trung gian thị trường lao động: cơ chế và các tổ chức hỗ trợ việc làm
kết nối giữa người lao động và chỗ việc làm trống (người sử dụng lao động).
+ Thông tin thị trường lao động:
Thị trường lao động lại khá phức tạp và để hiểu rõ hơn, chúng ta còn
hiểu thêm các đặc điểm của lực lượng lao động, điều kiện làm việc các loại
công việc hiện có và đặc điểm phân bổ chúng.
Thông tin thị trường lao động đóng vai trò quan trọng đối với các cơ sở
DVVL. Thông tin thị trường lao động giúp cơ sở DVVL nâng cao vai trò của
mình trên thị trường lao động bằng việc cung cấp thông tin có chất lượng về:
Việc làm và các thiếu hụt kỹ năng; các xu hướng và cơ hội việc làm, các khu
vực kinh tế, ngành nghề đang có xu hướng phát triển. Đồng thời giúp các cơ
sở DVVL tiếp cận đầy đủ các thông tin để xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt

động, bao gồm:
Nhu cầu tuyển lao động, nhu cầu tìm việc làm
Tiêu chuẩn lao động, tiền lương, tiền công trên địa bàn hoạt động, của
vùng và cả nước.
Riêng đối với các Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc ngành Lao động –
Thương binh và Xã hội, từ năm 2010 thêm nhiệm vụ thực hiện chính sách
bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật lao động.
Cơ sở dịch vụ việc làm công (TTGTVL)
Trước khi Tổ chức Lao động quốc tế công nhận DVVL tư, năm 1949 đã
thông qua Công ước số 96 hướng tới sự độc quyền DVVL công và kêu gọi
bãi bỏ DVVL tư. Xuất phát từ DVVL công không thu phí sẽ đáp ứng thỏa
21
đáng các nhu cầu của người tìm việc cũng như người sử dụng lao động. Đến
năm 1994, mặc dù trên thực tế vẫn thực hiện nhưng dần không còn phù hợp.
Đến 1997 một Công ước mới được Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra, Công
ước 181 và đề xuất 188 đã hợp pháp hóa các DVVL tư.
Ở Việt Nam, DVVL ra đời muộn, đồng thời với việc từng bước chuyển
đổi nền kinh tế, DVVL công ngay từ khi hình thành phát triển theo hướng
trước hết là DVVL công.
Dịch vụ việc làm công (TTGTVL): Theo quy định hiện hành là đơn vị
sự nghiệp có thứ tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên, là tổ
chức thuộc lĩnh vực hoạt động xã hội do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội thành lập.
Dịch vụ việc làm công (TTGTVL) do Chủ tịch Ủy ban nhân dân các
tỉnh, Thành phố, Thủ trưởng cơ quan Trung ương các tổ chức chính trị - xã
hội, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc
Chính phủ quyết định thành lập Trung tâm thuộc quyền quản lý của mình.
Các trung tâm giới thiệu việc làm hoạt động vì mục tiêu xã hội, hoạt động phi
lợi nhuận. Chi phí hoạt động các Trung tâm tự đảm bảo một phần và được
ngân sách đài thọ.

được Tổ chức lao động quốc tế hợp pháp hóa từ năm 1997.
Ở Việt Nam cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế, việc chấp nhận DVVL
tư cũng như hoạt động DVVL công nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng thị
trường lao động, năm 2005 chính thức được công nhận hợp pháp. Tuy nhiên,
DVVL tư hoạt động phải đặt dưới sự giám sát, có điều kiện được cấp phép
hoạt động và Nhà nước quy định chỉ cho thu những khoản phí và mức thu nhất
định nhằm bảo đảm rằng có tác động tích cực cho sự phát triển hệ thống DVVL.
23
Dịch vụ việc làm tư: Doanh nghiệp hoạt động GTVL là Doanh nghiệp
thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005. Có
thể nói doanh nghiệp hoạt động GTVL hoạt động gắn liền với lợi ích kinh tế.
Sự phát triển của thị trường lao động, nhu cầu đa dạng của người sử
dụng lao động và người lao động tăng. DVVL công chưa đủ nguồn lực đáp
ứng, đồng thời DVVL công ưu tiên khai thác hỗ trợ giải quyết việc làm cho
lao động yếu thế. Các việc làm đặc thù có thu nhập cao khai thác tốn thời
gian và chủ yếu hỗ trợ người lao động đã có điêu kiện tham gia thị trường lao
động, nhằm hướng đến thu nhập cao chưa được quan tâm. Thực hiện chủ
trương xã hội hóa các lĩnh vực, Nhà nước đầu tư củng cố và phát triển DVVL
công, đồng thời Nhà nước mở rộng DVVL cho doanh nghiệp tham gia, tạo
thuận lợi nữa cho mọi người lao động, có thể chọn lựa địa vị cung cấp dịch
vụ phù hợp nhu cầu cá nhân.
Doanh nghiệp hoạt động GTVL được thu phí tư vấn, giới thiệu việc làm
của người lao động, người sử dụng lao động. Thu phí cung ứng và tuyển
dụng lao động của người lao động, người sử dụng lao động.
Từ năm 2005 đến nay, các doanh nghiệp hoạt động GTVL đã tham gia
cung cấp DVVL cho người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt việc
làm có thu nhập cao, kịp thời lấp đầy chỗ việc làm trống ngày càng tăng. Các
công ty với hình thức săn đầu người đi đầu trong việc tìm kiếm, đào tạo, chắp
nối việc làm đặc thù có thu nhập cao cho người lao động.
Các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp đã đầu tư xây dựng lực lượng

đầu tư, hoạt động thuộc lĩnh vực xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Người lao động sử dụng dịch vụ không phải mất phí và phần lớn là
những đối tượng yếu thế trên thị trường lao động. Người sử dụng lao động
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status