BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VIẾT BẢO
NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN
QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Để thực hiện luận văn “Nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ
thu thuế hải quan qua Ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, tôi đã tự
mình nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng
viên hướng dẫn, bạn bè, đồng nghiệp, …
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và kết quả trong luận văn này là những thông tin xác thực.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2014
Người thực hiện luận văn Nguyễn Viết Bảo MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
Thỏa thuận phối hợp thu NSNN với KBNN và TCHQ 19
1.6. Một số hình thức nộp thuế của một số nước trên thế giới 20
1.6.1. Nộp thuế tại Vương quốc Anh 20
1.6.2. Nộp thuế tại Singapore 22
1.7. Sự hài lòng của khách hàng 23
1.7.1. Khái niệm sự hài lòng 23
1.7.2. Phân loại sự hài lòng 24
1.7.3. Các nhân tố quyết định sự hài lòng của khách hàng 25
1.8. Chất lượng sản phẩm dịch vụ và mối quan hệ với sự hài lòng 27
1.9. Một số mô hình nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng 29
1.9.1. Mô hình chất lượng dịch vụ 29
1.9.2. Mô hình SERVQUAL 30
1.9.3. Mô hình SERVPERF 32
1.9.4. Mô hình FSQ và TSQ (mô hình FTSQ) 33
1.9.5. Mô hình chỉ số hài lòng của khách hàng (CSI model) 34
1.9.6. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (American Customer
Satisfaction Index - ACSI) 34
1.9.7. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (European Customer
Satisfaction Index – ECSI) 35
1.10. Các mô hình nghiên cứu trước đây 36
1.11. Mô hình nghiên cứu đề nghị 37
Kết luận chương 1 39
Chương 2: KHẢO SÁT SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH
VỤ THU THUẾ HẢI QUAN QUA NHTM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 40
2.1. Tổng quan về Đề án phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương th
2.1.1. Mục tiêu 40
2.1.2. Cơ sở pháp lý 41
2.1.3. Tình hình thực hiện 42
2.2. Tổng quan việc triển khai Đề án phối hợp thu NSNN, bảo lãnh thuế đối với
hàng hóa XNK bằng phương thức điện tử qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 43
2.3.4.3.3. Đánh giá độ phù hợp, kiểm định độ phù hợp của mô hình và hiện
tượng đa cộng tuyến 62
2.3.4.3.4. Phương trình hồi qui 63
2.3.4.3.5. Tổng kết kết quả kiểm định các giả thuyết 63
Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG
ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN QUA NHTM TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH ĐỒNG NAI 66
3.1. Định hướng hiện đại hóa quy trình thu nộp NSNN và thủ tục hải quan 66
3.1.1. Sự cần thiết để phát triển dịch vụ nộp thuế hải quan tại Việt Nam 66
3.1.2. Định hướng hiện đại hóa quy trình thu nộp NSNN và thủ tục hải quan 68
3.2. Giải pháp nâng cao sự hài lòng và phát triển dịch vụ nộp thuế hải quan cho
khách hàng tại các NHTM 70
3.2.1. Giải pháp đối với các NHTM 70
3.2.1.1. Nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên thực hiện dịch vụ 70
3.2.1.2. Phát triển thêm các hình thức nộp thuế mới, đồng thời đẩy mạnh quảng
bá dịch vụ 72
3.2.1.3. Đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh thuế hải quan 72
3.2.1.4. Phát triển gói sản phẩm dành cho doanh nghiệp XNK 74
3.2.1.5. Tăng cường hợp tác để KBNN mở tài khoản tại NHTM 75
3.2.2. Giải pháp về phía các cơ quan Nhà nước 76
3.2.2.1. Cơ quan hải quan cho phép NHTM được thực hiện bảo lãnh chung tại
nhiều Chi cục 76
3.2.2.2. Nghiên cứu triển khai nhiều hình thức nộp thuế 76
3.2.2.3. Xác định thời điểm tiền vào NSNN 78
3.2.2.4. KBNN mở tài khoản ở nhiều NHTM hơn 79
3.2.2.5. Ban hành Thông tư cho phép cơ quan hải quan mở tài khoản tại Ngân
hàng thương mại 79
3.2.2.6. Bộ Tài chính có hướng dẫn về việc sử dụng giấy nộp tiền tại NHTM để
thực hiện thông quan cho doanh nghiệp 81
NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Bảng 2.2: Số lượng tờ khai nộp thuế qua dịch vụ thu thuế tại NHTM trên địa bàn
tỉnh Đồng Nai.
Bảng 2.3: Cơ cấu số tiền thuế hải quan nộp qua NHTM phân theo sắc thuế
Bảng 2.4: Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Bảng 2.5: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Phương tiện hữu hình.
Bảng 2.6: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ tin cậy.
Bảng 2.7: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ đảm bảo.
Bảng 2.8: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Mức độ đáp ứng.
Bảng 2.9: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Sự cảm thông.
Bảng 2.10: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Quy trình thực hiện.
Bảng 2.11: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Chính sách quy định của cơ
quan Nhà nước.
Bảng 2.12: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 1.
Bảng 2.13: Kết quả phân tích EFA lần 1.
Bảng 2.14: Ma trận xoay nhân tố lần 1.
Bảng 2.15: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 2.
Bảng 2.16: Kết quả phân tích EFA lần 2
Bảng 2.17: Ma trận xoay nhân tố lần 2
Bảng 2.18: Kiểm định KMO và Bartlett's lần 3.
Bảng 2.19: Kết quả phân tích EFA lần 3.
Bảng 2.20: Ma trận xoay nhân tố lần 3.
Bảng 2.21: Hệ số Cronbach’s alpha của Thành phần Chính sách quy định của cơ
quan Nhà nước.
Bảng 2.22: Kiểm định KMO và Bartlett's Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.23: Kết quả phân tích EFA của Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.24: Hệ số tải nhân tố của Thành phần Sự hài lòng.
Bảng 2.25: Hệ số tương quan lần 1.
Bảng 2.26: Tóm tắt các hệ số hồi qui lần 1.
Bảng 2.27: Hệ số tương quan lần 2.
trực tiếp quản lý việc thu thuế, Tổng cục Hải quan đã và đang đóng vai trò quan trọng
thực hiện nhiệm vụ thu NSNN trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu của mình.
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, thu thuế từ hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu luôn chiếm 20% trong tổng số thu của NSNN hàng năm. Trong đó năm
2013, số thuế Tổng cục Hải quan đã thu là 221.400 tỷ đồng, chiếm 26,61 % trong tổng
thu NSNN năm 2013 (832.000 tỷ đồng).
Dự toán thu NSNN năm 2014, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã giao số
thu thuế năm 2014 của Tổng cục Hải quan là 154.000 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng
dự toán thu NSNN năm 2014 (787.700 tỷ đồng).
Với số thu thuế hải quan nộp NSNN rất lớn như vậy, việc thu nộp thuế là một
nội dung mang tính mấu chốt, quan trọng. Trước đây, doanh nghiệp chỉ có thể nộp thuế
bằng tiền mặt tại cơ quan hải quan hoặc KBNN. Điều này làm mất nhiều thời gian phát
2
sinh thêm chi phí, không đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp. Do đó giải pháp đưa ra là
cần có một kênh thu nộp thuế an toàn, nhanh chóng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của
Chính phủ trong việc thanh toán không dùng tiền mặt. Xuất phát từ nhu cầu đó, hình
thức nộp thuế qua NHTM là một giải pháp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu trên.
Trên thực tế, hình thức nộp thuế qua NHTM cũng tương tự hình thức nộp bảo
hiểm qua ngân hàng đã được phát triển trước đây. Bancassurance (banca + assurance)
là một hình thức ngân hàng và Công ty bảo hiểm hợp tác với nhau để phát triển và
phân phối một cách hiệu quả các sản phẩm ngân hàng và bảo hiểm thông qua việc cung
cấp các sản phẩm cho cùng một cơ sở khách hàng. Bancassurance được xem là hình
thức hợp tác mà các bên: công ty bảo hiểm, ngân hàng và khách hàng đều có lợi. Đối
với ngân là tăng thêm thu nhập do hưởng phí hoa hồng từ việc bán bảo hiểm, cho thuê
mặt bằng giao dịch, thu phí các dịch vụ ngân hàng… Đối với công ty bảo hiểm là có
thêm nguồn khách hàng mới đó là khách hàng của ngân hàng, giảm chi phí phân phối
sản phẩm, đa dạng hóa các kênh phân phối, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống đại lý và
môi giới bảo hiểm…Đối với khách hàng là được thêm kênh mua sản phẩm, tiết kiệm
chi phí, thủ tục đơn giản, thuận tiện, có thể sử dụng được trọn gói các sản phẩm tài
lại, chờ đợi nộp tiền thuế, đặc biệt những doanh nghiệp có số lượng tờ khai đăng ký
nhiều và đăng ký tại nhiều địa điểm khác nhau. Và đặc biệt tháo gỡ quy định phải nộp
thuế xuất khẩu, nhập khẩu hoàn toàn qua kho bạc như trước đây gây khó khăn nhiều
cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi quyết định chọn đề tài “NÂNG CAO SỰ
HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THU THUẾ HẢI QUAN
QUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI” làm
luận văn tốt nghiệp, nhằm tìm ra những yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng
đối với dịch vụ thu thuế xuất nhập khẩu tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai, từ đó đưa ra các biện pháp, kiến nghị đối với TCHQ, các ngân hàng để triển
khai tốt hơn dịch vụ này trong thời gian tới, đồng thời làm cơ sở để thực hiện các dịch
vụ thanh toán trực tuyến khi hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS được chính
4
thức triển khai từ tháng 4/2014 và Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN
sau này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng nộp thuế qua NHTM.
Sử dụng phân tích định tính nhằm làm rõ các yếu tố cá nhân và yếu tố trải
nghiệm của khách hàng nộp thuế có ảnh hưởng đến đo lường sự hài lòng thông qua
phương pháp thống kê mô tả.
Phân tích định lượng: xây dựng thang đo đánh giá sự hài lòng của khách hàng
nộp thuế khi nộp thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai, để từ đó rút ra những nhân tố nào đóng vai trò tích cực trong mô hình
nghiên cứu và những nhân tố nào cần chỉnh sửa bổ sung.
Dựa trên kết quả hồi quy để đánh giá sự hài lòng của khách hàng nộp thuế khi
sử dụng dịch vụ thu thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai. Qua đó đưa ra một số góp ý nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng nộp
thuế hải quan vào NSNN thông qua các NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, giới thiệu phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài, điểm
nổi bật của đề tài.
- Phần nội dung gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu.
Chương 2: Khảo sát hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thu thuế hải quan
qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thu
thuế hải quan qua NHTM trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
- Phần kết luận: Tóm lược lại các kết quả nghiên cứu đã thực hiện cũng các
giải pháp then chốt của tác giả trong việc thực hiện đề tài.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Dịch vụ ngân hàng
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có một khái niệm nào được nêu cụ thể về dịch
vụ ngân hàng. Có không ít quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng không phụ thuộc
phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của
một trung gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay), chỉ những hoạt động ngân hàng
không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng như dịch vụ chuyển tiền,
thu hộ ủy thác, mua bán hộ, môi giới kinh doanh chứng khoán… một số khác lại cho
rằng tất cả hoạt động của ngân hàng phục vụ cho khách hàng là cá nhân và doanh
nghiệp đều gọi là dịch vụ ngân hàng.
Khi nói đến lĩnh vực dịch vụ ngân hàng đối với nền kinh tế, các nước đều quan
niệm dịch vụ ngân hàng theo nghĩa rộng. Trên thực tế, một ngân hàng bán lẻ thường có
nhiều dịch vụ khác nhau cho khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp, dịch vụ ngân hàng
càng hiện đại và không có giới hạn khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày
càng văn minh, nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng.
1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng
chóng và thuận tiện. Điều đó thể hiện rõ qua các dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ huy
động vốn góp phần tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; dịch vụ cấp tín
dụng giúp đáp ứng nhanh chóng, kịp thời nhu cầu vốn cho các thành phần kinh tế; dịch
vụ thanh toán, nhất là các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần tiết kiệm
thời gian cho xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về mặt tiền tệ, kiểm soát các
hành vi gian lận thương mại, trốn thuế, tham nhũng…
- Giảm chi phí cho xã hội: bằng việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng, xã hội đã
giảm được các chi phí như chi phí thanh toán, lưu thông tiền mặt (chi phí in ấn, kiểm
đếm, bảo quản, vận chuyển tiền…). Mặt khác, ngân hàng cũng là một kênh cung cấp
vốn với chi phí tương đối thấp cho nền kinh tế, nhất là khi ngân hàng phát triển tốt các
dịch vụ thanh toán, các dịch vụ ngân hàng hiện đại.
8
- Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế trong điều kiện hội
nhập: bằng việc cung cấp cho nền kinh tế một kênh huy động vốn với chi phấp thấp,
ngoài ra bằng các dịch vụ của minh, hệ thống NHTM giúp nền kinh tế - xã hội tiết
kiệm được thời gian, đó là một trong những yếu tố giúp nền kinh tế nâng cao được
năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập kinh tế. Chính từ sự cạnh trang này mà
ngân hàng có thể đi sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp,
thông qua đó có thể kiểm soát, giám sát được những hoạt động của các đơn vị này, góp
phần làm cho sản xuất kinh doanh lành mạnh và hiệu quả hơn.
- Phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực cho các ngành mũi nhọn. Chính những đòi hỏi một nguồn nhân
lực giỏi, năng động, đủ điều kiện tiếp thu kiến thức mới, đáp ứng nhu cầu hội nhập mà
các cơ sở đào tạo sẽ có những chương trình sát với thực tế, kết hợp với các ngân hàng
để đào tạo nguồn nhân lực ngày càng tốt hơn.
1.2. Khái niệm về thu Ngân sách Nhà nước
Luật NSNN ban hành năm 2002 nhằm quản lý nền tài chính quốc gia để thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Trong đó thu NSNN là yếu tố tiên quyết đảm bảo
thu thuế hải quan hàng năm.
Với vai trò là một cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính và một trong hai Tổng cục
trực tiếp quản lý việc thu thuế, TCHQ đã và đang đóng vai trò quan trọng trong nhiệm
vụ thực hiện thu NSNN. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính, thu thuế
từ hoạt động XNK luôn chiếm 20% trong tổng số thu của NSNN hàng năm. Trong đó
năm 2013, TCHQ đã thu về 221.421 tỷ đồng tiền thuế, chiếm 26,61 % trong tổng thu
NSNN năm 2013 (832.000 tỷ đồng).
Dự toán thu NSNN năm 2014, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đã giao số
thu thuế năm 2014 của TCHQ là 154.000 tỷ đồng, chiếm 20% trong tổng dự toán thu
NSNN 2014 (782.700 tỷ đồng).
10
1.2.2. Các hình thức thu NSNN
Hiện tại có 2 hình thức thu NSNN chủ yếu đang được áp dụng, đó là thu tiền
mặt tại KBNN hoặc thông qua NHTM chuyển tiền tới KBNN. Hai hình thức trên đều
được quy định tại Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN và quy định tại Thông tư số
126/2014/TT-BTC ngày 28/08/2014 của Bộ Tài chính quy định một số thủ tục về kê
khai, thu nộp thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản thu khác đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu. Bao gồm hai hình thức:
- Thu bằng chuyển khoản: thu bằng chuyển khoản bao gồm 2 hình thức:
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại ngân hàng, ngân hàng
chuyển tiền vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN;
+ Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại KBNN, KBNN thực
hiện trích tài khoản của người nộp để ghi thu NSNN;
- Thu bằng tiền mặt: thu bằng tiền mặt bao gồm 2 hình thức:
+ Thu bằng tiền mặt trực tiếp vào KBNN;
+ Thu bằng tiền mặt vào ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản. Hình thức này áp
dụng đối với các ngân hàng có thoả thuận với KBNN về việc thu tiền mặt vào tài
giao dịch
Chậm hơn do phải đợi cán bộ của
kho bạc thực hiện kiểm đếm tiền
và cập nhật chứng từ vào hệ thống
Nhanh chóng, tiết kiệm được thời
gian do thực hiện chuyển khoản
Rủi ro Rủi ro liên quan đến việc mang
tiền mặt đi nộp trực tiếp tại kho
bạc như: cướp giật, thất thoát,
Không phát sinh rủi ro do khách
hàng thực hiện chuyển khoản để
nộp thuế, không sử dụng tiền mặt.
Phí dịch vụ Không phát sinh chi phí liên quan
đến việc nộp thuế
Phí ngân hàng liên quan đến việc
thu NSNN
Lợi ích Tiền vào trực tiếp vào tài khoản
của cơ quan hải quan, tuy nhiên
khách hàng phải dùng giấy nộp
tiền có xác nhận của KBNN đến
cơ quan Hải quan để thông quan
hàng hóa do KBNN chỉ thực hiện
truyền dữ liệu nộp thuế tới cơ
quan Hải quan sau khi kết thúc
phiên giao dịch trong ngày
Tiền được chuyển vào tài khoản
của KBNN, dữ liệu về khoản tiền
thuế của khách hàng được ngân
hàng truyền trực tiếp qua Cổng
truy vấn trên cổng thanh toán điện tử hải quan (chưa phù hợp về thông tin mã nội dung
kinh tế): thực hiện chuyển tiền và thông tin thu để cơ quan hải quan thông quan hàng
hóa kịp thời cho người nộp thuế, sau đó phối hợp với cơ quan hải quan kiểm tra và bổ
sung các thông tin cho phù hợp;
a3) Trường hợp kiểm tra thông tin người nộp thuế kê khai nhưng không có
thông tin trong cổng thanh toán điện tử hải quan (người nộp thuế nộp tiền trước khi hệ
thống có thông tin tờ khai), tổ chức tín dụng phối hợp thu căn cứ thông tin tờ khai theo
kê khai của người nộp thuế trên giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước và truy vấn
thông tin còn lại khác trong cơ sở dữ liệu trên cổng thanh toán điện tử hải quan (trường
hợp cổng thanh toán điện tử hải quan chưa đáp ứng thì lấy các thông tin khác từ trung
tâm dữ liệu của Bộ Tài chính) để thực hiện:
13
- Chuyển tiền ngay vào tài khoản thu NSNN của KBNN mở tại NHTM;
- Đồng thời truyền ngay dữ liệu thông tin thu ngân sách theo đúng định dạng
thống nhất đến cổng thanh toán điện tử hải quan cho cơ quan hải quan.
b) Sau khi nhận được thông tin do tổ chức tín dụng phối hợp thu gửi qua cổng
thanh toán điện tử hải quan, cơ quan hải quan cập nhật thông tin thu, hạch toán thanh
khoản nợ, thông quan hàng hóa cho người nộp thuế theo quy định.
c) Sau khi nhận được thông tin chuyển tiền do tổ chức tín dụng phối hợp thu
chuyển đến, KBNN thực hiện hạch toán kế toán số tiền phát sinh vào tài khoản thu
NSNN hoặc tài khoản tiền gửi của cơ quan hải quan.
Cuối ngày hoặc chậm nhất vào đầu ngày làm việc tiếp theo, KBNN truyền thông
tin hạch toán thu ngân sách nhà nước qua trung tâm dữ liệu của Bộ Tài chính và cổng
thanh toán điện tử hải quan.
d) Sau khi nhận được thông tin hạch toán thu ngân sách nhà nước do KBNN gửi
đến, cơ quan hải quan cập nhật thông tin và hạch toán kế toán thanh toán với NSNN
theo quy định.
1.3.2.2. Trường hợp NHTM đã ký Thỏa thuận hợp tác tổ chức phối hợp thu
NSNN, bảo lãnh thuế đối với hàng hóa XNK bằng phương pháp điện tử