qua quá trình nghiên cứu quan hệ ngoại giao giữa 2 nước dù là tích cực hay tiêu cực, là thù địch hay hợp tác, đều có những nhân tố chủ yếu của thời đại, chính sách đối ngoại - Pdf 14

MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương I: Môi trường văn hoá và tác động của nó đối với hoạt động
kinh doanh quốc tế
I. Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế và sự cần thiết phải nghiên
cứu
1. Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế
2. Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh
II. Khái quát môi trường văn hoá
1. Khái niệm
2. Những đặc tính văn hoá cần nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu môi trường văn hoá
III. Tác động của môi trường văn hoá đối với hoạt động kinh doanh quốc tế
Chương II: Môi trường văn hoá Mỹ
I. Sơ lược về lịch sử và nguồn gốc con người nước Mỹ
II. Nền văn hoá Mỹ
1. Ngôn ngữ và bản săc dân tộc
2. Tôn giáo
3. Tính cách, lối sống và suy nghĩ của con người Mỹ
4. Quan niệm về kinh tế - xã hội của con người Mỹ
Chương III: Đôi điều cần lưu ý khi tiếp cận với các doanh nhân Mỹ
I. Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, phương thức giao dịch kinh doanh của các
doanh nhân Mỹ
II. Đạo đức và văn hoá doanh nhân Mỹ
1. Quan niệm về đạo đức trong kinh doanh
2. Văn hoá doanh nghiệp Mỹ qua suy nghĩ của doanh nhân Mỹ
III. Quan hệ giao tiếp và đàm phán trong kinh doanh
1. Vấn đề giao tiếp và đối thoại
2. Danh thiếp và sự tôn trọng cấp bậc trong kinh doanh
3. Thoả thuận, mặc cả và đàm phán
4. Làm việc với phụ nữ

Do hiểu biết và trình độ có hạn, bài viết khó tránh khỏi thiếu sót. Tác giả
rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn.
CHƯƠNG I
MÔI TRƯỜNG VĂN HOÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH QUỐC TẾ
I. KHÁI QUÁT VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT
PHẢI NGHIÊN CỨU
1. Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế
Do khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, trình độ
nhận thức, tập quán nên mỗi quốc gia tồn tại môi trường kinh doanh không giống
nhau. Môi trường kinh doanh là sự tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây
ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh
hưởng không chỉ đối với các hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nước
ngoài đang hoạt động tại nước sở tại, mà còn ảnh hưởng đến cả kết quả hoạt động của
các doanh nghiệp kinh doanh nội địa. Vì vậy, để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu
quả, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có sự am hiểu nhất định về môi trường
kinh doanh nước ngoài.
Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành phần, như môi
trường luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hoá, cạnh tranh, tài chính Nó là toàn bộ các
điều kiện bên trong và bên ngoài nước có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của
doanh nghiệp, chi phối bình quân hoạt động tức là sự thành công hoặc thất bại đối với
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài. Chúng ta tác động và chi phối
mạnh mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, buộc các doanh
nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình
cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong
kinh doanh. Trong những điều kiện mở cửa xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá và khu
vực hoá nền kinh tế thế giới và nền kinh tế mỗi quốc gia, hoạt động kinh doanh quốc
tế ngày càng được mở rộng và phát triển. Thích ứng với xu hướng này, các doanh
nghiệp đang từng bước tăng dần khả nănghoà nhập, thích ứng của mình với điều kiện
mới của môi trường kinh doanh trong nước và ngoài nước nhằm tăng cơ hội, giảm

trạng thái “tĩnh” ít thay đổi có thể chia môi trường kinh doanh thành môi trường địa lý,
chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hoá, thể chế
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, em chỉ xin trình bày về môi trường văn
hoá.
1. Khái niệm
Theo định nghĩa văn hoá của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá ngày
nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm
quyết định tính cách của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao
gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hoá là những giá trị có thể học hỏi, chia sẻ và liên hệ mật thiết với nhau, nó
cung cấp những định hướng cho các thành viên trong xã hội. Những định hướng này
cung cấp những giải pháp cho những vấn đề mà xã hội cần giải quyết.
Văn hoá được hiểu như một tổng thể phức tạp, bao gồm ngôn ngữ, niềm tin, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và tất cả khả năng khác mà con người có được.
Văn hoá quy định hành vi của mỗi con người, thông qua mối quan hệ giữa người với
người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các
nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở
môi trường đó. Điều này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp nhận
của doanh nghiệp đối với môi trường văn hoá nước ngoài. Sự khác nhau về văn hoá
dẫn đến sự khác nhau trong mô hình quản lý của các doanh nghiệp.
2. Những đặc tính văn hoá cần nghiên cứu
Để tăng khả năng thành công của hoạt động kinh doanh quốc tế, các nhà kinh
doanh quốc tế cần phải am hiểu về môi trường văn hoá mà mình hoạt động. Việc thuê
mướn nhân công, buôn bán của doanh nghiệp đều được điều chỉnh và sở hữu của con
người. Con người chính là chủ thể trong quan hệ kinh tế đó – mà con người lại bị tác
động bởi cái văn hoá trong môi trường họ sinh sống. Vì vậy, doanh nghiệp phải cân
nhắc, dự đoán, am hiểu về văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế
giới. Có như vậy, hiệu quả của hoạt động kinh doanh đó mới có khả quan.

Tính cách và suy nghĩ của con người Mỹ quyết định phần lớn đến hành vi của họ.
Đặc biệt, trong quan hệ kinh doanh quốc tế, hiểu biết về đối tác của mình là vấn đề cần
thiết cho bất kỳ thương gia nào muốn giao dịch, buôn bán với các đối tác nước ngoài.
Nó không những tạo ra lợi nhuận, mà còn đem lại sự đam mê thực sự cho cả hai phía.
d. Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng
Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vì hàng
hoá dù có chất lượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng
khó được họ chấp nhận. Ví như nếu nhà kinh doanh nào đó mang các sản phẩm chế
biế từ thịt lợn đến tiêu thụ ở Irắc, Xiri hoặc đem thịt bò đến bán ở Ấn Độ thì đó là
một điều nguy hiểm, vì những sản phẩm đó theo tập quán, tôn giáo thì các quốc gia
này không tiêu dùng. Nếu nắm bắt được thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, doanh
nghiệp kinh doanh có điều kiện mở rộng khối lượng cầu một cách nhanh chóng. Chính
thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từng vùng, từng
châu lục, từng dân tộc và chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, lịch sử, tôn giáo.
3. Mục đích nghiên cứu môi trường văn hoá
Kinh doanh ở nước ngoài, các doanh nghiệp phải cố gắng thích nghi với môi
trường văn hoá của các nước sở tại nhằm nâng cao dần vị thế của mình trên thương
trường quốc tế. Chỉ trên cơ sở đó họ mới có thể mở rộng và nâng cao sự hiểu biết của
mình về văn hoá tương ứng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Như
vậy, tuỳ thuộc vào nhu cầu và trình độ hiểu biết về văn hoá mà công ty sẽ có hoạt động
thích ứng và hiệu quả. Nếu nhu cầu và trình độ hiểu biết văn hoá đối với nước sở tại
còn ở mức thấp thì công ty chỉ nên kinh doanh với một công ty nước ngoài và một
nước mà chức năng hoạt đọng của công ty đó còn hạn chế. Ngược lại, nếu nhu cầu và
trình độ am hiểu nền văn hoá nước sở tại ở mức cao, thì khi đó công ty có thể tiến
hành kinh doanh với nhiều nước, nhiều công ty khác nhau và công ty có điều kiện
thuận lợi trong việc mở rộng các chức năng và biện pháp hoạt động của mình.
Vì thế, nghiên cứu môi trường văn hoá mà mình hoạt động nhằm giúp các doanh
nghiệp cá nhân và tổ chức kinh doanh có hiệu quả, phòng tránh rủi ro và tối đa hoá
mong muốn của mình.
II. TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG VĂN HOÁ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH

người trong cuộc điều tra dân số năm 1790, có tới 60 đến 80% là người Anh.
Một nước Mỹ mới: từ năm 1783 đến nay
Sau khi giành được độc lập, số dân Mỹ tăng nhanh chóng. Từ năm 1790 đến năm
1835, số dân tăng lên chủ yếu là do sự nhân giống của người “Mỹ chính gốc”. Nhưng
từ năm 1830 đến năm 1860, thì chủ yếu là do người di cư từ Bắc Âu sang.
Cũng trong thời gian này, lãnh thổ nước Mỹ được mở rộng ra rất nhiều. Đến năm
1860, công việc định cư đã vượt khỏi sông Mítsisipi sang Minêsôta, Kandát, Mítsuri,
Áckansa, và miền đông Tếchdát. Việc di cư đến Ôrigơn để tìm các vùng đất tự do và
tới Caliphoócnia để tìm vàng đã là nhân tố thúc đẩy hai bang này gia nhập liên bang.
Vào khoảng năm 1860, những đặc điểm của xã hội Mỹ đã trở nên rõ ràng hơn.
Trong hơn 80 năm từ khi giành được độc lập, tốc độ tăng dân số – kể cả người chính
gốc và người mới di cư tới – sánh kịp với tốc độ mở rộng lãnh thổ. Cũng như ở thời kỳ
thuộc địa, sự tăng trưởng của người da đen và người di cư từ Bắc Âu sang đã làm cho
da màu của người Mỹ thay đổi dần. Tính cách của người Mỹ về cơ bản vẫn như ở thời
kỳ thuộc địa: cần cù, chăm chỉ, độc lập, táo bạo, dân tộc chủ nghĩa Tuy nhiên, cho
đến năm 1860, dân tộc Mỹ vẫn bị chia rẽ. Chỉ sau khi nội chiến kết thúc thì quyền
thống trị của nhà nước liên bang đối với các bang mới được thiết lập, và chế độ nô lệ
người da đen mới được bãi bỏ.
Từ năm 1860 đến nay, số dân nước Mỹ có những thay đổi đáng kể. Cùng với tốc
độ tăng của số dân khá nhanh, một xu thế rất quan trọng là cộng đồng người di cư
trong tổng số dân nước Mỹ lớn dần lên và gốc người nhập cư đến Mỹ cũng thay đổi.
Những người di cư từ các nước Bắc và Tây Âu giảm, từ Đông và Nam Âu tăng lên.
Đồng thời, luồng di cư từ châu Á đến Mỹ cũng tăng lên, bắt đầu là người Trung Quốc,
sau đến người Nhật Chính những thayđổi này đã có tác động lớn đến sự hình thành
về sau này, một dân tộc Mỹ tuy phức tạp, không đồng nhất nhưng sáng tạo và năng
động.
ii. NỀN VĂN HOÁ MỸ
Nền văn hoá của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thật đa dạng, phong phú, cũng giống
như một cây xanh cao to, gồm nhiều cành, nhánh và dĩ nhiên là chúng mọc xúm xít
chung quanh thân hình chính, làm nên diện mạo đầy đủ cho vây xanh đó.

Giữa những năm 20, Mỹ đã thông qua một chính sách hạn chế sự nhập cư. Chính
sách này kéo dài 40 năm. Năm 1965, chính sách này thay đổi hoàn toàn, nó cho phép
tiếp nhận những người nhập cư mới, trước hết là những người từ châu Mỹ la tinh và
châu Á tới. Chính sách này đưa lại kết quả rõ rệt. Tỷ lệ người Mỹ sinh ở ngoài nước
Mỹ đã tăng gấp đôi từ những nam 60. Gần 11% dân số có nguồn gốc Tây ban nha,
12% người Mỹ gốc Phi và 3% gốc châu Á. Ở New York, những người gốc Tây ban
nha đã tạo ra nhóm thiểu số quan trọng nhất. Năm 1997, lần đầu tiên số lượng trẻ em
gốc Tây ban nha vượt quá số lượng trẻ em Mỹ gốc Phi.
Sự phát triển này sẽ tăng tốc độ trong nửa đầu thế kỷ tới. Ngay từ năm 2005,
những người Tây ban nha sẽ trở thành nhóm thiểu số đầu tiên của Mỹ. Năm 2050, họ
sẽ chiếm 1/4 dân số Mỹ và những người châu Á chiếm 8% (người Mỹ gốc Phi chiếm
13,5%). Tỷ lệ người da trắng không phải gốc Tây ban nha tụt xuống còn 53%, và ở
nhiều bang họ trở thành thiểu số.
Do đó các dữ kiện bầu cử sẽ bị thay đổi sâu sắc. Các nhà có trách nhiệm về chính
sách bắt đầu quan tâm đến điều đó. Vì vậy, những người của đảng Cộng hoà - họ từng
xem người Mỹ gốc Phi, người Tây ban nha ở Caliphoócnia, ở Tếchdát và Florida như
kẻ thù – sẽ xem xét lại đường lối của họ trong những năm tới.
Một chính sách tập hợp các dân tộc khác nhau lại không thể chỉ được khẳng định
trên nguyên tắc. Nó cũng cần phải vạch ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề nâng cao
đời sông cho mọi người.
2. Tôn giáo
Mỹ là một nước đa chủng tộc, gần như không thiếu một màu da nào, một dân tộc
nào trên đất nước này. Góp vào bức tranh xã hội đầy màu sắc, tôn giáo Mỹ hết sức đa
dạng, phong phú, mang một bản sắc riêng không thấy ở bất cứ quốc gia nào khác.
Các nhà nghiên cứu về xã hội Mỹ nêu lên một nhận xét rằng, khi thấy người Mỹ
đi ghi tên tham gia vào các đoàn thể thì có thể ước đoán với độ chính xác khá cao là họ
đăng ký gia nhập một tổ chức tôn giáo nhiều hơn tất cả các hội tự nguyện khác gộp lại.
Khoảng 60% tổng số người dân Mỹ là thành viên các hiệp hội tôn giáo, đông hơn
nhiều so với các nước Tây Âu và Canađa.
Tính đến năm 1989, có 145.384 triệu người Mỹ theo tôn giáo, trong đó khoảng

một quận tồn tại nhiều trung tâm của các tôn giáo khác nhau? Phải chăng tôn giáo luôn
được chính phủ “quan tâm chăm sóc” hay người Mỹ là những người hiền lành, yêu
hoà bình, nhân ái?
Lời giải đáp chính xác và đầy đủ nhất đó chính là nền tôn giáo Mỹ với tính cách
đặc biệt của nó. Nhận xét về nền tôn giáo Mỹ ngày nay, nhà nghiên cứu văn hoá
Esther Waming đã viết trong cuốn Culture Shock (Sốc văn hoá) như sau: “Rất có thể ít
nhiều do tình cảm tôn giáo truyền lại từ khuynh hướng tôn giáo của nước Mỹ lúc ban
đầu”.
Càng về giai đoạn cuối của thế kỷ XVII, khi những đợt di cư ồ ạt từ khắp nơi đổ
về, nước Mỹ thực sự trở thành nước đa tôn giáo. Thanh giáo từ Anh, Do Thái giáo từ
Đức, Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc, Hồi giáo theo chân những nô lệ châu Phi
Hơn thế, Hoa Kỳ còn như bà đỡ khéo tay cho sự ra đời hàng loạt tôn giáo mới như
Quaker, Mormons Đó là chưa kể đến sự phân tách của các giáo hội thành các giáo
phái mới. Các giáo phái dến Mỹ hay được thành lập ở Mỹ đều chung một ý tưởng coi
đây là Tân Thế Giới, một miền đất hứa, thậm chí coi nơi đây chỉ là lãnh đậo của giáo
phái họ thôi. Tất cả các ý tưởng nhằm đưa một tôn giáo lên thành quốc giáo hay dùng
tiền của, quyền lực áp đặt buộc người dân phải theo một tôn giáo nào đó đều bị loại
bỏ. Nếu có một giáo hội nào dám đi ngược với tiêu chí, với khuynh hướng tôn giáo
Mỹ đã hình thành từ buổi ban đầu thì đều phải trả giá. Nó sẽ bị cô lập, bị phản dối
hoặc bị trục xuất khỏi mảnh đất đang sinh sống.
Theo thời gian, những tình cảm hoà đồng tôn giáo Mỹ trở nên bình thường, mọi
cộng đồng tôn giáo vừa độc lập, vừa cùng nhau sinh sống. Những điều đó có được là
nhờ 3 yếu tố cơ bản là Nhà nước, gia đình và tư tưởng người dân.
Ở Mỹ, hiện tượng trong một gia đình có năm người mà có ba, bốn quốc tịch là
chuyện bình thường. Như một gia đình có người bố là người Anh theo Tân giáo, người
mẹ là người Ireland theo phái Calvin, các người con mỗi người theo một tôn giáo. Như
vậy, sự hoà đồng trong tôn giáo chỉ có ở một đất nước như Mỹ khi mà quyền tự do cá
nhân được tôn trọng: Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do điều trần và không ngoại
trừ tự do tín ngưỡng, không ai có thể ép buộc ai phải theo tôn giáo mình đã theo:
chồng không thể ép vợ, bố không thể ép con nhưng vợ chồng con cái vẫn cùng

khỏi những ràng buộc bên ngoài và sẽ cảm thấy biết ơn nếu để yên cho họ “làm mọi
thứ theo cách của họ” hay “đạt được điều gì đó theo cách của họ”.
Theo quan niệm này, ít nhất một số người Mỹ không nhận ra thực tế là họ đang
chia sẻ một nền văn hoá với nhau. Như đã đề cập ở trên, họ có ý tưởng rằng họ hoàn
toàn độc lập để quyết định về những giả định hay giá trị riêng của họ. Quan niệm rằng
các nhân tố xã hội bắt họ trở thành như những người khác và trong trường hợp này đã
làm cho họ có cảm giác tính tự chủ bị tổn thương.
Như vậy, người Mỹ xem mẫu người lý tưởng phải là một người độc lập, tự chủ
và riêng biệt. Còn quan điểm về “chủ nghĩa cá nhân” - đó là phải tự đứng bằng đôi
chân của mình và tự quyết định – thì có thể nói rằng, người Mỹ rất khác biệt. Ví dụ
nhiều người Mỹ xem các cá nhân là anh hùng, bởi họ “nổi bật trong một đám đông” do
tiên phong làm một điều gì đó, lâu và thường xuyên, hay nói cách khác là làm những
điều tốt nhất, chẳng hạn như các phi công lừng danh: Charles Lindberg và Amelia
Earhart Người Mỹ thán phục những ai có thể vược qua khó khăn như nghèo khổ hay
tàn tật để thành công trong cuộc sống. Nhà giáo dục da đen Brooker T. Washington,
một tác giả vừa bị mù vừa bị điếc là một ví dụ.
Sự tôn sùng “chủ nghĩa cá nhân” vẫn thường thể hiện qua việc người Mỹ sử dụng
các câu như “Hãy làm cái gì đó theo cách của mình”, “Tôi làm cái gì đó theo cách của
tôi”, “Hãy tự quyết định điều đó”, “Mình làm mình chịu”, “Đừng trông cậy vào sự
giúp đỡ của người khác” và “Hãy cố gắng là điều tốt nhất”
Mối liên hệ chặt chẽ vốn có tầm quan trọng lớn mà người Mỹ gắn liền với chủ
nghĩa cá nhân là sự riêng tư. Người Mỹ cho rằng, con ngưòi ta “cần có những lúc ở
một mình” hoặc “để trầm tĩnh lại” để nghĩ lại mọi sự hoặc hồi phục năng lượng, tâm lý
đã hao tổn. Người Mỹ thực sự không hiểu những người nước ngoài mà thường thích
có ai đó để bầu bạn và họ dường như không thích ở một mình. Thái độ của người Mỹ
về riêng tư có vẻ rất khó hiểu đối với người nước ngoài. Nhà, sân chơi, thậm chí văn
phòng của người Mỹ có thể mở rộng cửa đón tiếp bạn, song, họ lại có những biên giới
mà đơn giản là người khác không thể bước qua. Khi những biên giới này bị xâm phạm,
có thể thấy người Mỹ hoàn toàn bị cứng lại, và thái độ của họ trở nên lạnh nhạt và xa
lánh.

Nhưng sự phân biệt này chỉ tồn tại ở dạng tinh vi, khó nhận thấy. Giọng điệu của lời
nói, cách ra lệnh, cách dùng ngôn từ, vị trí chỗ ngồi – tất cả những điều này là cách để
người Mỹ công nhận vị trí xã hội khác nhau giữa họ. Người ở vị trí cao hơn có thể có
quyền nói trước, nói to hơn và lâu hơn. Họ ngồi ở đầu bàn hay trong một ghế thoải mái
nhất. Họ cảm thấy tự do để có thể chen ngang. Người có vị trí cao trong xã hội có thể
đặt tay lên vai của người có vị trí xã hội thấp hơn. Nếu có vấn đề đề cập đến giữa
những người có liên quan, thì người có vị trí cao hơn sẽ được nói đến trước.
Những người nước ngoài quen với những cách thể hiện sự kính trọng rõ ràng hơn
như cúi chào, quay mắt sang phía người có vị trí cao hơn, hay dùng tên, tước hiệu
danh giá thì thường tỏ ra xem thường cách mà người Mỹ thể hiện sự kính trọng đối với
người có vị trí cao hơn trong xã hội. Họ nghĩ một cách hơi thiên lệch rằng, người Mỹ
thông thường không nhận ra sự khác nhau vị trí xã hội và thường tỏ ra bất nhã với
người khác. Điều đặc biệt trong quan điểm người Mỹ về vấn đề công bằng là những
giả định quan trọng, theo đó bất kể vị trí xã hội lúc đầu của một người như thế nào thì
người đó cũng có khả năng đề đạt những vị trí xã hội cao và rằng mọi người dù bất
hạnh đến mấy cũng xứng đáng được hưởng sự đối xử cơ bản ngang nhau.
d. Sự thoải mái
Các khái niệm về công bằng đã làm cho người Mỹ khá thoải mái trong phong thái
noi chung của họ và trong các mội quan hệ của họ với người khác. Ví dụ như người
bán hàng hay người phục vụ bàn đều có thể giới thiệu bằng tên và nói chuyện với
khách hàng rất thoải mái và cởi mở. Những thư ký Mỹ, như những người khác, được
dạy rằng họ cũng hữu ích như mọi người khác, thậm chí cả khi họ làm cố định một
công việc mà người khác cho có thể cho là thấp kém. Thái độ thoải mái này có khi làm
mếch lòng người nước ngoài, những người đang có vị trí xã hội ở những nước mà
không cho là “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng”.
Những người đến từ xã hội mà sự cư xử một cách trịnh trọng thường dễ bị xốc
bởi sự xuề xoà trong cách giao tiếp, ăn mặc, cách đi đứng của người Mỹ. Cách nói sử
dụng các thuật ngữ hay còn gọi là tiếng lóng được thấy thường xuyên trong hầu hết
các dịp và những lời phát biểu trịnh trọng chỉ dành cho các sự kiện có đông công
chúng hay trong những tình huống khá trịnh trọng. Sự thân thiện bề ngoài thường thấy

sắc những giả định Mỹ về tương lai và về sự thay đổi. Một nhãn mác của đồ điện dân
dụng đã chấm dứt thương nghiệp máy tính và radio với khẩu hiệu “Sự tiến bộ là sản
phẩm quan trọng nhất của chúng ta”. Một công ty hoá chất lớn chuyên sản xuất sợi
tổng hợp và nhựa đa dạng có khẩu hiệu “Ngành hoá chất chuyên sản xuất những sản
phẩm tốt hơn để cho cuộc sống tốt hơn”.
Niềm tin mãnh liệt vào sự tiến bộ và một tương lai hoàn toàn ngược lại với thai
độ tin vào số phận của nhiều nền văn minh khác, trong đó tiêu biểu là Latinh, châu Á,
Ả Rập, mà ở đó người ta rất coi trọng quá khứ. Ở những nước này, tương lai được xem
như nằm trong bàn tay của “số phận”, “Chúa” hoặc ít nhất là trong tay của những
người có quyền lực nhất trong xã hội. Cái ý tưởng có thể định đoạt được tương lai của
chính mình đối với họ dường như rất thơ ngây hoặc thậm chí hơi lố bịch.
f. Bản chất thánh thiện của loài người
Tương lai không thể tốt hơn nếu con người về cơ bản không có lòng nhân ái và
tiến thủ. Người Mỹ thường cho rằng bản chất con người vốn dĩ là tốt, chứ không phải
là tội lỗi. Người nước ngoài thường thấy họ làm việc mà dựa trên giả định con người
bản chất tốt và có thể ngày càng làm cho bản thân tốt hơn. Một số ví dụ chứng minh
cho điều này:
Được hưởng nền giáo dục hay đào tạo tốt: Giáo dục chính thức không chỉ giành
cho lớp trẻ mà cho tất cả mọi người. Ngành giáo dục có những khoá học mở rộng,
những lớp học buổi tối, lớp học tại chức và cả những khoá học dạy trên ti vi dành để
cho những người đi làm hay sống xa các trường đại học cũng có thể có điều kiện để có
học vấn cao hơn. Nhiều học sinh trung học đã ra trường là những người đã trưởng
thành thì có thể tìm cách để cải thiện học vấn của mình bằng cách tự đào sâu thêm.
Vậy mà đến gần đây người ta đã nhận thấy nguy cơ về chất lượng giáo dục trung học
kém cỏi của Mỹ so với các nước khác và chính Tổng thống Clinton cũng đã thừa nhận
đó là một vấn đề quốc sách.
Giáo dục không chính thức nằm dưới dạng xưởng học nghề, hội thảo hay các
chương trình đào tạo rộng rãi. Nhờ chúng người ta có thể tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm, từ việc để trở thành ông bố bà mẹ tốt hơn, đến việc biết cách đầu tư tiền một
cách khôn ngoan hơn hoặc xử sự tự tin hơn.

Người Mỹ thường nói rằng “ở đâu có ý chí, ở đó có tương lai”. Người mà đang
có khát vọng là cho cuộc sống tốt hơn thì ước muốn đó của họ sẽ đạt được miễn là họ
có một động cơ đủ mạnh.
g. Thời gian
Đối với người Mỹ, thời gian chính là nguồn của cải quý giá giống như nước hay
than đá, cái mà con người có thể sử dụng tốt và cũng có thể sử dụng không tốt: “Thời
gian là tiền bạc”, “Cuộc đời bạn chỉ có từng ấy thời gian và bạn nên biết cách sử dụng
một cách khôn ngoan” Ngay từ rất bé, người Mỹ đã được dạy rằng tương lai không
thể tốt hơn quá khứ và hiện tại nếu con người ta không sử dụng thời gian của mình cho
những mục đích củng cố xây dựng và có định hướng cho tương lai. Vì thế nên người
Mỹ tỏ ra rất khâm phục người có “đầu óc tổ chức tốt”, những người thường viết ra họ
sẽ làm gì trong ngày. Con người có lý tưởng theo họ phải là người đúng giờ và biết
quý trọng thời gian của người khác.
Thái độ về thời gian không được số đông trên thế giới chia sẻ, nhất là không phải
là châu Âu. Họ có thể coi thời gian như một cái gì đó đơn giản nhưng vô hình ở xung
quanh họ chứ không phải là một cái gì đó mà họ có thể sử dụng được. Một trong
những điều khó đối với người nước ngoài sống ở Mỹ là phải điều chỉnh để mình quen
với khái niệm thời gian cần phải tiết kiệm bất cứ khi nào có thê và hàng ngày phải biết
cách sử dụng cho khôn ngoan.
Trong cố gắng để sử dụng thời gian cho tốt, người Mỹ bị người nước ngoài nhìn
nhận rằng, họ giống như những cỗ máy, những sinh vật không có cảm xúc. Do luôn
quá coi trọng thời gian nên họ không thể tham gia hay hoà đồng vào cộng đồng chung
của loài người, điều mà thực sự rất quan trọng trong cuộc sống.
Hiệu quả mà người Mỹ đặt lên hàng đầu có mối quan hệ chặt chẽ đến quan niệm
của họ về tương lai, sự thay đổi và thời gian. Làm điều gì đó có hiệu quả tức là làm
theo một cách nhanh nhất và ít tốn kém nhất.
h. Thẳng thắn và tự tin
Người Mỹ luôn cho rằng họ rất trung thực, thẳng thắn, cởi mở khi họ giao tiếp
với người khác. Họ có thể không ngần ngại nói rằng: “Hãy lật ngửa ván bài lên” hay
“Thôi khỏi cần đánh đố nhau nữa, hãy đi thẳng cào vấn đề đi” Những câu này và

con người ta trở nên vị kỷ, điều mà ít nhiều một số người nước ngoài đã thấy ở người
Mỹ. Nhưng xét cho cùng, từ tư tưởng để đi đến hành vi là cả một vấn đề và điều đó
phụ thuộc vào mỗi cá nhân và nhiều điều kiện khác nữa.
Nếu so sánh với các nước Tây Âu như Pháp, Anh, Italia thì có thể nói cuộc
sống ở Mỹ gấp gáp hơn, văn hoá Mỹ mang tính thương mại cao hơn và có nhiều biểu
hiện của chủ nghĩa cực đoan. Về phương diện nào đó, văn hoá Mỹ đồng cảm với chủ
trương của các nhà vạch chính sách Mỹ là khuếch trương một số khía cạnh văn hoá
Mỹ, lối sống Mỹ ra các khu vực khác trên thế giới, làm cho văn hoá Mỹ chiếm vị trí
thượng phong, được hoan nghênh và hỗ trợ cho kỳ vọng nước Mỹ luôn mạnh nhất thế
giới, chỉ huy được các quốc gia khác, mọi quyền lợi (kể cả văn hoá) của họ phải ít
nhiều phục vụ cho chủ nghĩa thực dụng của Mỹ.
4. Quan niệm về kinh tế – xã hội của con người Mỹ
a. Ngày nay Mỹ và hầu hết mọi khu vực khác đều phải thích ứng với các giá trị
phổ biến của tiến bộ xã hội như:
Cuộc cách mạng công nghệ - thông tin làm cho mọi hoạt động con người (chính
trị, kinh tế, văn hoá - xã hội) được trí tuệ hoá ngày càng cao. Đến lượt nó, sự trí tuệ
hoá hoạt động của con người là cái thay đổi tận gốc bản chất của mọi mối quan hệ
giữa người và người, trong đó có đời sống văn hoá tinh thần nói riêng.
Dân trí ở những quốc gia trên cũng được nâng theo: chính trị, kinh tế, văn hoá sẽ
phục vụ tới đa số cộng đồng hơn. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử chứ không thuần
tuý chỉ là vấn đề đạo đức học hay tư tưởng chính trị.
Cũng chính cuộc cách mạng công nghệ - thông tin đã đưa đến sự quốc tế hoá đời
sống nhân loại. Không những nền kinh tế thị trường mang tính quốc tế, tính toàn cầu
mà lĩnh vực văn hoá cũng có những cởi mở, trao đổi, hợp tác giữa các dân tộc với
nhau để các dân tộc hiểu nhau hơn, tăng cường giao lưu, hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau
để cùng tồn tại và phát triển.
Các nước tư bản nói chung và Mỹ nói riêng có những đặc điểm chung của hệ
thống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội. Cơ chế thị trường, nhất là thị trường cạnh
tranh xuất hiện có ý nghĩa như một cơ chế bảo đảm tình hiệu quả trong việc phát hiện
những nhu cầu xã hội và việc hình thành những cân đối của sản xuất xã hội (tất nhiên

thống nhất hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ngôn ngữ đã giúp đông đảo công chúng
tham gia vào quyền lực nói trên.
Các tầng lớp văn hoá Mỹ hỗn dung, tương hợp, nhưng có đỉnh cao: Khi văn hoá
lũng đoạn không chiếm địa vị chủ yếu thì văn hoá đại chúng sẽ nổi dần lên, có một vị
tri hẳn hoi. Đại chúng ở đây không có nghĩa là không văn hoá, mà là văn hoá mang
tính phổ cập, cùng sự phát triển dân trí sẽ là khoảng cách giữa các nhà văn hoá và phi
văn hoá, giữa chuyên gia và người thường càng thu hẹp. Tuy nhiên, ở đất nước mà chủ
nghĩa cá nhân phát triển ở mức cao, pháp luật rõ ràng, tổ chức xã hội khá chặt thì việc
thẩm định giá trị cũng khắt khe. Nếu muốn cả xã hội công nhận tác phẩm của mình,
coi là đỉnh cao thì phải chấp nhận cạnh tranh, thi dấu, sàng lọc thật nghiêm khắc.
Có thể thấy sự khác biệt giữa người Mỹ và người Á Đông qua bảng sau:
NĂM GIÁ TRỊ CON NGƯỜI QUAN TRỌNG NHẤT
Người Đông Á Người Mỹ
1. Cần cù 1. Tự lực cánh sinh
2. Hiếu học 2. Thành đạt cá nhân
3. Trung thực 3. Cần cù
4. Tự lực cánh sinh 4. Thành công trong cuộc sống
5. Kỷ luật 5. Giúp đỡ mọi người
SÁU GIÁ TRỊ XÃ HỘI QUAN TRỌNG NHẤT
Người Đông Á Người Mỹ
1. Một xã hội trật tự 1. Tự do ngôn luận
2. Sự hoà nhập xã hội 2. Sự hoà nhập xã hội
3. Các quan chức có trách nhiệm 3. Quyền cá nhân
4. Cởi mở đón nhận tư tưởng
mới
4. Tự do tranh luận
5. Tự do ngôn luận 5. Suy nghĩ về bản thân
6. Tôn trọng chính quyền 6. Các quan chức có trách nhiệm
QUAN NIỆM KHÁC VỀ MỘT SỐ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI
Giá trị Người Đông Á Người Mỹ

như hàng hoá mọi quốc gia đều có mặt trên thị trường siêu khổng lồ này. Một ví dụ
điển hình là Trung Quốc, sau hơn 20 năm tích cực và liên tục thâm nhập thị trường
Mỹ, năm 1999, Trung Quốc đã đạt mức xuất siêu với Mỹ lên đến hơn 50 tỷ USD, đem
lại nguồn ngoại tệ to lớn cho đất nước này, thúc đẩy nhiều ngành sản xuất và dịch vụ
phát triển mạnh tạo ra rất nhiều công ăn việc làm.
Một điểm khác đặc trưng của nền kinh tế này khác so với các nước khác là dai
phân loại thị trườngrộng, vì thế nó có thể thu hút và tiêu thụ vô số chủng loại hàng hoá
khác nhau với số lượng rất lớn thuộc đủ mọi chất lượng từ trung bình đến cao. Hơn
nữa, với mục tiêu “sản xuất những gì ngưòi khác không sản xuất nổi”, Mỹ chủ trương
tập trung vào các ngành dịch vụ và công nghệ cao trong khi khuyến khích nhập khẩu
hàng hoá về cần nhiều lao động như quần áo, giày dép, đồ gia dụng từ các nước khác
khiến cho sức mua của nền kinh tế ngày càng lớn và mức sống của người dân ngày
càng cao.
Một đặc điểm khác nữa của nền kinh tế Mỹ, luôn thu hút mọ nhà xuất khẩu trên
khắp thế giới là họ có thể bán hàng với quy mô lớn. Một khi đã qua được giai đoạn
giới thiệu sản phẩm và thâm nhập được vào hệ thống phân phối, các nhà xuất khẩu
ngoại quốc sẽ nhận được những đơn đặt hàng rất lớn, ổn định và lâu dài, đem lại
những nguồn doanh thu ổn định và ngày càng tăng, giúp nhà sản xuất tăng cường đầu
tư tái sản xuất mở rộng, liên tục phát triển. Chính sách thương mại của Mỹ nói chung
là sự tự do và mở rộng. Trừ một số ít mặt hàng có hạn ngạch và một số mặt hàng phải
đạt được những yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường, còn lại
đều tự do về nguồn hàng lẫn thương nhân, mọi công ty của Mỹ đều có quyền xuất
nhập khẩu trực tiếp.
Chính vì những yếu tố hết sức cuốn hút như trên mà các nhà sản xuất và xuất
khẩu Việt Nam luôn quan tâm đến thị trường Mỹ và việc đưa hàng hoá vào thị trường
này là mơ ước của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Hàng hoá nước ngoài vào thị
trường Mỹ phải chịu các mức thuế khác nhau và phải chịu sự điều chỉnh của các luật lệ
và quy định của nước này. Biểu thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu của Mỹ mà các
doanh nghiệp Việt Nam cần biết về cơ bản gồm 2 mức thuế: có MFN và không có
MFN. Hàng hoá phải chịu mức thuế không MFN thường cao hơn từ 3 đến 10 lần so

kinh doanh đều tự coi mình là những người theo chủ nghĩa thực dụng, mà chủ nghĩa
thực dụng lại bắt nguồn từ những giá trị truyền thống của Mỹ, trong đó bao gồm quan
điểm thực tế, chủ nghĩa cá nhân, tính vị kỷ, tính cần cù và sự thành đạt và rất coi
trọng hiệu quả kinh tế.
Nhưng ở Mỹ, không phải nhà kinh doanh nào cũng làm như vậy. Vẫn còn nhiều
người cho rằng, những tiêu chuẩn đạo đức thường ngày như sự công bằng và tính
trung thực rất cần có trong kinh doanh, bởi bản thân nó đã tạo ra sự ổn định cho việc tổ
chức kinh doanh đạt những kết quả tốt. Hay nói cách khác, kinh doanh có vị trí nhất
định giành cho đạo đức và đạo đức là công cụ giúp cho việc kinh doanh giữ được lợi
nhuận và khả năng cạnh tranh của công ty. Thực chất ở đây, nhà kinh doanh coi đạo
đức như một công cụ hay một điều kiện cần thiết để đạt được lợi nhuận mà thôi.
Nhưng số khác lại cho rằng, kinh doanh có nghĩa là làm kinh tế, là trách nhiệm xã hội
của các nhà kinh doanh và không cần yếu tố đạo đức.
2. Văn hoá doanh nghiệp Mỹ qua suy nghĩ của doanh nhân Mỹ
Văn hoá trong doanh nghiệp Mỹ có vẻ không ổn định và dễ nhầm lẫn. Một mặt,
các doanh nhân muốn xúc tiến kinh doanh ở mọi nơi, trong các bữa tiệc, trên máy bay,
ngoài phố, với những người xa lạ. Bởi vậy, họ dễ dàng kết hợp mối quan hệ giữa kinh
doanh với quan hệ xã hội. Họ có thể thu thập thông tin, lập kế hoạch buôn bán với
doanh nhân nước ngoài, đôi khi cả với nhà sản xuất một cách không chính thức. Mặt
khác, khi chuẩn bị đi đến quyết định, trên cơ sở tạo lập được quan hệ với bạn hàng, họ
lại muốn thực hiện ngay và công việc đó phải nhằm mục tiêu hiệu quả. Phong cách
doanh nhân Mỹ là đi thẳng vào vấn đề (phong cách trực tiếp). Tuy nhiên, các doanh
nhân Mỹ đánh giá caokiến thức kinh doanh. Họ luôn có mặt tại các cuộc hội thảo, các
khoá học do công ty tài trợ hoặc cá nhân tự túc để nâng cao nghiệp vụ và nâng cao
mức sống trực tiếp cho chính họ. Họ có thể cùng một lúc thực hiện nhiều phương án
khác nhau, cho dù phải đối mặt với hàng loạt các thất bại. Chính sự linh hoạt và kiên
định đó đã đưa nước Mỹ đứng đầu thế giới về các phát minh và sáng chế.
Bên cạnh đó, quan hệ giữa những vấn đề riêng tư và công việc kinh doanh không
thường biểu hiện rõ ràng trong giới kinh doanh Mỹ. Người Mỹ có thể bàn bạc công
việc với sự có mặt của các thành viên trong gia đình, thậm chí bạn bè, đôi khi họ cần

Sau những lời chào hỏi là hành vi tự giới thiệu về nghề nghiệp, trách nhiệm và vị
trí của mình hoặc các thành viên cũng như công việc họ đang làm. Người Mỹ thường
quan tâm dến thẩm quyền của đối tượng mà họ đang tiếp xúc, nếu người có chức danh
bình thường thì ít có ý nghĩa với họ. Họ luôn có thói quen đứng trong khi trò chuyện,
hoặc ngồi cách nhau khoảng một sải tay. Nếu có người ngẫu nhiên chạm vào tay, vào
vai họ trong khi nói chuyện, thì hành vi đó được xem là sự phiền toái, thậm chí xúc
phạm. Mặt khác, khi nói chuyện mà không có cử chỉ nhìn nhau thường xuyên, cũng
được hiểu một cách đơn giản là “người có con mắt gian giảo”, khiến cho cảm giác của
họ về người đó là không đáng tin cậy. Đây là một trong những khó khăn đối với các
nền văn hoá khác mà khi nhìn nhau trực tiếp lại bị coi là hành vi thô bạo, hoặc thiếu sự
tôn trọng. Còn ở Mỹ thì hành vi đó lại được giải thích là biểu hiện của sự thẳng thắn,
chân thành, luôn quan tâm đến nhau khi trò chuyện.
Người Mỹ thường có thói quen tranh thủ trao đổi trong các lần nghỉ giải lao sau
đàm phán, các buổi học tập, trong những bữa tiệc và các sự khiện thể thao (cả người
xem và người tham dự, thậm chí chơi golf còn được xem như một sự kiện kinh doanh
hơn thể thao). Vấn đề tôn giáo, chính trị, tình hình tài chính cá nhân và giới tính nói
chung được coi là chủ đề đối lập, không nên đưa ra bàn luận giữa các thương nhân
theo cách gọi là ngoại giao.
Nếu bạn làm ăn với một doanh nhân Mỹ, cử chỉ mời nhau đi ăn hay mời đến nhà
hoàn toàn được chấp nhận ngay cả khi bạn và họ mới chỉ biết nhau một tiếng đồng hồ.
Khi được mời ăn tối, thông thường, hoa sẽ được gửi đến sau bữa ăn để bày tỏ lòng
cảm ơn của bạn. Người Mỹ thường đến bữa tối với đủ loại quà lạ thường nhất: từ bánh
xà bông đến nước hoa và tất cả những gì có thể. Để bày tỏ tính lịch sự của mình, hãy
mở quà một cách phô trương và bày tỏ thích thú đối với món quà đó. Tại Mỹ, người ta
ăn trưa lúc 12.30 và ăn tối lúc 7.00 giờ. Nếu bạn được mời đến uống cà phê, hãy đến
vào lúc 10.30 hay 11.00 giờ, đó là giờ uống cà phê của người Mỹ.
Người Mỹ rất chính xác về giờ giấc. Kênh truyền hình CNN nổi tiếng của Mỹ, để
quảng cáo cho mình, cũng ghi: We know, in business, time is money (có nghĩa là:
Chúng tôi biết thời gian là tiền trong lĩnh vực kinh doanh). Do đó, bạn phải hết sức
đúng giờ. Thà đến sớm một tiếng còn hơn là đến chậm chỉ 3 phút - chậm trễ là chậm

Không giống với văn hoá các nước mang nặng thủ tục, nghi thức và tuân thủ các
hệ thống cấp bậc, quyền lực, địa vị cá nhân. Ở Mỹ người ta quan tâm chủ yếu đến
người có trình độ chuyên môn và khả năng ra quyết định. Họ có thể cử một kỹ thuật
viên cấp thấp đến dự cuộc họp với nhiều lãnh đạo cao cấp nước ngoài. Hành vi đó
không phải là coi nhẹ đối tác mà bởi nhân viên kỹ thuật đó có chuyên môn tốt. Ngược
lại, họ rất lúng túng khi thành viên cấp cao của họ gặp phải đối tác cấp thấp mà thiếu
hẳn thẩm quyền cam kết hoặc ra quyết định.
Nói chung, người Mỹ thích sự chân thành, cởi mở trong các cuộc giao dịch, họ
luôn hy vọng sẽ tạo cho bạn hàng của mình không khí dễ chịu, thoải mái và hợp tác,
loại bỏ những thủ tục rườm rà để đi đến mục tiêu cuối cùng là hiệu quả cho cả hai
phía.
3. Thoả thuận, mặc cả, đàm phán
Người Mỹ đã quen với việc trả theo giá đã được định sẵn và không mặc cả. Do
vậy, họ có ít kinh nghiệm ứng xử trong mặc cả. Nhưng cũng đừng hy vọng người Mỹ
tham gia mua bán sẽ chấp nhận những gì mà bạn đưa ra. Điều quan trọng là dù tỏ ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status