Quản lý tập thể quyển tác giả - Pdf 14

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do nghiên cứu đề tài
Quản lý tập thể quyền tác giả và quyền liên quan là vấn đề đã bắt đầu phát triển trên thế
giới từ 200 năm trước. Đối với Việt Nam, đây là một khái niệm còn khá mới mẻ và phức tạp.
Chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh nào của tác giả trong nước được công bố để làm
tài liệu nghiên cứu và áp dụng trên thực tế. Số lượng tài liệu dịch cũng rất hạn chế và không
được phát hành rộng rãi. Có thể nói, quản lý tập thể còn hoàn toàn lạ lẫm với phần đông người
dân cũng như một phần các luật gia Việt Nam.
Mặc dù, tại Việt Nam, những kiến thức về quản lý tập thể vẫn còn khá xa lạ nhưng quản
lý tập thể đang ngày càng trở nên quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
những cá thể sáng tạo và những người sở hữu quyền có liên quan đến sáng tạo đó. Sự phát triển
của công nghệ mới, Internet và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện đã tác động mạnh mẽ
đến việc bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan. Các tác phẩm được truyền đạt với rất nhiều
cách thức đa dạng, được sử dụng ở bất cứ thời điểm và không gian nào, khiến vi phạm bản quyền
có điều kiện phát triển. Việc quản lý sao cho quyền tác giả, quyền liên quan được tôn trọng, đồng
thời quyền của người sử dụng cũng được đảm bảo, theo cách truyền thống, hầu như là không thể.
Quản lý tập thể là một công cụ mới và hữu dụng có thể giúp giải quyết hiệu quả vấn đề này.
Bên cạnh tầm quan trọng tự thân của quản lý tập thể, bối cảnh hội nhập cũng khiến việc
nghiên cứu tìm hiểu về quản lý tập thể trở nên cấp thiết. Khi tham gia vào WTO, Việt Nam phải
hội đủ các tiêu chuẩn về khung pháp lý cơ bản để kịp thích ứng với sân chơi quốc tế. Luật Sở
hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 đáp ứng tiêu chuẩn đó vì có điều khoản quy định về quản lý tập
thể, nhưng những điều khoản này rất chung chung, mơ hồ và không có hướng dẫn cụ thể nào để
thực hiện. Nay, nhu cầu không chỉ dừng lại ở việc có khung pháp lý mà cần phải có nhiều nghiên
cứu sâu rộng để triển khai quản lý tập thể trên thực tế. Ngoài ra, trong quá trình hội nhập, người
sử dụng của một quốc gia có nhu cầu sử dụng tác phẩm của nhiều quốc gia khác, các tổ chức
quản lý tập thể nước ngoài đã bắt đầu có những bước tiếp xúc với các tổ chức quản lý tập thể
trong nước, do đó, kiến thức vững chắc về vấn đề này là hành trang không thể thiếu cho các tổ
chức quản lý tập thể trong nước nói riêng, và cho tất cả những ai kinh doanh trên thị trường văn
hóa phẩm tại Việt Nam nói chung.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN
LIÊN QUAN TRONG TÁC PHẨM ÂM NHẠC

1.1. Quyền tác giả, quyền liên quan trong tác phẩm âm nhạc
1.1.1. Quyền tác giả
1.1.2. Quyền liên quan
1.2. Quản lý tập thể (collective management)
1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Phân biệt “quản lý tập thể quyền” và “cấp phép quyền kiểu trung
gian”’
1.2.3. Lịch sử hình thành tổ chức quản lý tâp thể
1.3. Tổ chức quản lý tập thể
3
Chương 2.
ĐẶC ĐIỂM VỀ QUẢN LÝ TẬP THỂ QUYỀN LIÊN QUAN TRONG TÁC
PHẨM ÂM NHẠC - THỰC TRẠNG TẠI VIỆT NAM

2.1 Tính chất công hay tư của tổ chức quản lý tập thể.
2.2 Tính chất lợi nhuận và kinh doanh của tổ chức quản lý tập thể.
2.3 Liên đới quản lý bắt buộc
2.4 Khả năng cấp phép mở
2.4.1 Các kiến thức cơ bản về cấp phép mở và giấy phép mở
2.4.2 Lợi thế của việc cấp phép mở
2.4.3 Những tác động xấu của việc cấp giấy phép mở
2.4.4 Những lĩnh vực cần thiết xác lập giấy phép mở
2.4.5 Các kỹ thuật để ban hành một giấy phép mở
2.5 Vị thế độc quyền trên thực tế của tổ chức quản lý tập thể
2.5.1 Việc hình thành vị thế độc quyền trên thực tế của tổ chức quản lý
tập thể
2.5.2 Các biện pháp ngăn chặn khả năng lạm dụng vị thế độc quyền trên

phải xác định được nội hàm chính xác của khái niệm “tác phẩm âm nhạc”. Tác phẩm âm nhạc
quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm được thể hiện dưới dạng
nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào
việc trình diễn hay không trình diễn. Định nghĩa này giúp mở rộng khái niệm “tác phẩm âm
nhạc” so với cách hiểu thông thường. Một bản nhạc được sáng tác, cho dù không trình diễn trước
công chúng, vẫn được xem là tác phẩm âm nhạc và được bảo hộ theo các nguyên tắc luật định.
1.1.1 Quyền tác giả
Khoản 1 Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ quy định “Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo
hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả”.
Chủ thể của quyền tác giả được phân thành hai nhóm là tác giả _ người trực tiếp sáng tạo
ra tác phẩm, và chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, sự phân chia này không phải lúc nào cũng
cố định và tách bạch. Ví dụ: theo quy định tại Điều 37 Luật sở hữu trí tuệ, trong trường hợp tác
giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm, thì
hai chủ thể này nhập làm một, tác giả cũng chính là chủ sở hữu quyền tác giả.
Nhìn chung, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Nhóm tác giả sẽ
giữ quyền nhân thân và nhóm chủ sở hữu quyền tác giả sẽ giữ quyền tài sản. Sự phân chia này
cũng mang tính tương đối. Ví dụ trường hợp chủ sở hữu quyền tác giả là cá nhân, tổ chức giao
nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả, quy định tai Điều 39 Luật sở hữu trí
tuệ, thì chủ sở hữu này không những giữ quyền tài sản mà còn có thêm một quyền nhân thân là
công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm đó.
1.1.2 Quyền liên quan
Cụm từ “liên quan” thể hiện sự phụ thuộc, sự tồn tại song song của quyền liên quan đối
với quyền tác giả. Phải có một thực thể tồn tại độc lập thì mới xuất hiện thực thể khác liên quan
tới nó. Khoản 3 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định quyền liên quan là “quyền của tổ chức, cá
nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang
chương trình được mã hóa”. Chủ thể của quyền liên quan được liệt kê gồm ba nhóm là người
biểu diễn; nhà sản xuất bản ghi âm ghi hình và tổ chức phát sóng. Có thể dễ dàng nhận thấy các
quyền của ba chủ thể nói trên mang tính chất bổ trợ, tồn tại song song với quyền tác giả. Nếu tác
5
giả sáng tạo ra một tác phẩm mà không có người biểu diễn thì tác phẩm ấy không thể đến được

1
Collective management of copyright and neighbouring rights in Canada: An international
perspective, Daniel J. Gervais

6
1.2 Quản lý tập thể (collective management)
1.2.1 Khái niệm
Trước khi đưa ra định nghĩa chính xác về quản lý tập thể, cần nêu khái quát về lý do hình
thành mô hình này trên thực tế.
Yếu tố đặc trưng và cơ bản của quyền tác giả là sự độc quyền. Chủ sở hữu quyền tác giả
có độc quyền trong việc khai thác và ủy quyền cho người khác khai thác tác phẩm của mình.
Điều này có nghĩa là chỉ duy nhất chủ sở hữu quyền tác giả có vị thế cho phép một người sử
dụng tác phẩm của mình, và ngăn cấm một người khác sử dụng (về thực chất, quyền ngăn cấm
này không mang tính phủ định mà nhằm mục đích đảm bảo cho tác phẩm được khai thác bằng
cách thức phù hợp với ý định và lợi ích của chủ sở hữu quyền). Độc quyền này chỉ có thể được
thực thi một cách hoàn chỉnh nhất khi từng chủ sở hữu quyền trực tiếp thực hiện quyền của
mình. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng người sử dụng tác phẩm là rất lớn, với địa điểm và thời
điểm sử dụng đa dạng, chủ sở hữu quyền không thể gặp từng người để thương lượng, cấp phép
rồi thu tiền thù lao được. Nhạc sỹ Phú Quang không thể mỗi ngày đi các quán cà phê để xem nơi
nào phát nhạc của ông, mỗi đêm đi các phòng trà xem ca sĩ nào hát bài hát của ông. Chưa kể các
bài hát của nhạc sỹ Phú Quang có thể được sử dụng ở mọi tỉnh thành trên khắp đất nước, thậm
chí ở nước ngoài, vào sáng sớm, buổi trưa, xế chiều và buổi tối. Việc bản thân chủ sở hữu quyền
có thể tự thực hiện và bảo vệ quyền của mình, theo đó, hầu như là bất khả thi.
Khó khăn này dẫn đến ba hướng giải quyết.
Thứ nhất, do tôn trọng tuyệt đối quyền tác giả, không ai có thể sử dụng quyền tác giả mà
không được trực tiếp cho phép. Có nghĩa là nếu Phú Quang cho phép 10 quán cà phê sử dụng
nhạc của ông thì chỉ 10 quán này có quyền khai thác. Mọi cá nhân, tổ chức khác nếu vi phạm sẽ

Như vậy, Phú Quang sẽ kí hợp đồng với một tổ chức quản lý tập thể, sau đó yên tâm là
các quyền lợi của mình đã được tổ chức này bảo vệ. Các khán giả ở khắp nơi cũng không phải
chờ gặp Phú Quang xin phép mà chỉ cần liên hệ trực tiếp với một tổ chức chuyên nghiệp có thể
đáp ứng nhu cầu của mình bất cứ lúc nào.
Dễ dàng nhận thấy, phương án thứ ba này vẫn có nhược điểm, như là sự kiểm soát của
các chủ sở hữu quyền đối với một số yếu tố nhất định trong quyền của họ trở thành gián tiếp.
Tuy nhiên, nếu hệ thống quản lý tập thể vận hành trơn tru, thì các quyền vẫn duy trì được đặc
điểm bản chất của chúng. Và so với lợi ích mà mô hình quản lý tập thể đem lại, nhược điểm này
hoàn toàn chấp nhận được.
Không những bảo vệ quyền lợi chủ sở hữu, hệ thống quản lý tập thể cũng đem lại nhiều
lợi ích cho người sử dụng. Do một tổ chức quản lý tập thể sẽ quản lý quyền của rất nhiều tác giả,
người sử dụng không cần phải đến nhà Phú Quang, Phó Đức Phương, Thuận Yến để xin cấp
phép mà chỉ cần đến một tổ chức duy nhất. Đồng thời, do quản lý tập thể đơn giản hóa các cuộc

2
Quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan – TS Mihály Fiscor
8
thương lượng, giám sát sử dụng và thu phí, người sử dụng sẽ được khai thác tác phẩm với chi phí
giao dịch thấp hơn, được nhiều lợi ích hơn.
1.2.2 Phân biệt “quản lý tập thể quyền” và “cấp phép quyền kiểu trung gian”
Nếu chỉ dừng lại như mức phân tích ở trên thì “quản lý tập thể quyền” hầu như không
khác gì “cấp phép quyền kiểu trung gian”.
“Cấp phép quyền kiểu trung gian là một hệ thống liên đới trong đó nghĩa vụ duy nhất là
thu và chuyển giao tiền bản quyền nhanh nhất và chính xác nhất với mức chi phí thấp nhất có
thể, càng cân xứng với giá trị và công dụng thực tế của sản phẩm càng tốt.”
3

Như vậy, có thể hình dung hoạt động của “cấp phép quyền kiểu trung gian” giống hệt như
mô hình quản lý tập thể được sơ đồ hóa như hình (1). Tuy nhiên, trong “cấp phép quyền kiểu
trung gian”, đây là nghĩa vụ duy nhất, còn trong “quản lý tập thể”, việc thu tiền bản quyền, phân

năng của các tổ chức này không phải là quản lý tập thể mà chính là việc đấu tranh để được công
nhận và tôn trọng một cách đầy đủ các quyền của tác giả.
Ban đầu Beaumarchais – nhà biên kịch là người đầu tiên dẫn dắt các trận chiến pháp lý
chống lại những nhà hát tại Pháp để yêu cầu họ thừa nhận và tôn trọng các quyền nhân thân và
quyền kinh tế của tác giả. Kết quả thắng lợi của những hoạt động này là việc thành lập Bureau de
législation dramatique (văn phòng pháp luật kịch nghệ) vào năm 1777. Sau này văn phòng được
đổi thành société des auteurs et compositeurs dramatique (SACD) – hiệp hội của các tác giả và
các nhà biên kịch (SACD).
Nửa thế kỷ sau, ba nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ là Honoré de Balzac, Alexandre
Dumas, Victor Hugo đã dẫn đầu các nhà văn Pháp thời bất giờ để tiến hành các hoạt động tương
tự trên lĩnh vực văn học và thành lập Hiệp hội các nhà sáng tác văn học với phiên họp đầu tiên
vào cuối năm 1837.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, những hiệp hội này chưa mang đầy đủ các tính chất
của một tổ chức quản lý tập thể hoàn thiện. Trong lịch sử quản lý tập thể đã ghi nhận sự phát
triển một cách toàn diện của quản lý tập thể chính thức là sau năm 1847 khi hai nhà soạn nhạc là
Paul Henrison và Victor Parizot và một nhà văn Ernet Bourget, được sự trợ giúp của nhà xuất
bản của họ đã nhìn thấy một sự bất công. Họ phải trả tiền cho chỗ ngồi và đồ ăn của họ tại
“Ambassadeurs” – một cửa hàng cà phê trên đại lộ Champs- Elysée nổi tiếng của Pháp, trong khi
không ai trả tiền cho việc tác phẩm của họ đang được dàn nhạc biểu diễn. Cả 03 người quyết
định không thanh toán tiền cho bữa ăn nếu như họ chưa được thanh toán cho việc tác phẩm của
họ đang được sử dụng.
Vụ kiện đã được giải quyết và theo đó, các tác giả đã giành chiến thắng to lớn, ông chủ
của cửa hàng cà phê này đã phải trả một khoản tiền thù lao lớn, đồng thời mở ra cho các tác giả
(các nhà soạn nhạc và soạn lời) của các tác phẩm phi nhạc kịch một khả năng thu được tiền từ
các cửa hàng, quán cà phê tương tự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng, các cá nhân hoàn toàn
không thể nào tự thực hiện được quyền này. Vì vậy vào năm 1850, một tổ chức quản lý tập thể
toàn diện đã thay thế cho SACD và vẫn hoạt động tốt đem đến nhiều lợi ích to lớn cho các thành
viên đó là SACEM Tổ chức của các tác giả, nhà soạn nhạc, soạn lời âm nhạc (société des
auteurs, compositeurs et éditeurs de musique).
Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những tổ chức tương tự của các tác giả đã được

chức năng thu hộ tiền thù lao và phân phối cho các thành viên của các tổ chức quản lý tập thể.
Có thể dễ dàng đưa ra sự so sánh thông qua bảng sau: 4
Khoản 2 điều 4 Nghị định 88/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 07 năm 2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý
hội
11

Tổ chức quản lý tập thể Hiệp Hội
Giống
- Đều là sự tập hợp nhiều cá nhân, hoặc tổ chức
- Đều có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên
- Đều có chức năng thúc đẩy sự phát triển của các thành viên
- Đều có chức năng đề xuất và tham mưu với các cơ quan nhà nước về các quy
phạm pháp luật có liên quan
Khác
- Được thành lập trong lĩnh vực
quyền tác giả, quyền liên quan
- Được thành lập với mục đích
bảo đảm quyền và lợi ích của
chủ sở hữu quyền
- Có bộ máy hiệu quả để thu và
phân phối tiền bản quyền

- Được thành lập trên nhiều lĩnh vực


Xem điều lệ Hiệp Hội công nghiệp ghi âm Việt Nam
12
Tuy nhiên, giữa một tổ chức quản lý tập thể và một hiệp hội (được thành lập theo đúng
nghĩa của từ “hiệp hội”) luôn luôn có một mối quan hệ vững chắc. Thậm chí việc xác định tương
quan của mối quan hệ này là một trong những điều quan trọng nhất khi xác lập một mô hình tổ
chức quản lý tập thể. Vì về bản chất, một tổ chức quản lý tập thể phải thực sự có một tập thể
đứng ngay phía sau để hỗ trợ tổ chức đó hoạt động. Nếu một tổ chức quản lý tập thể (CMO)
được thành lập từ một Hiệp hội (association) thì hiển nhiên tổ chức quản lý tập thể đó đang được
một tập thể thực sự vững mạnh hỗ trợ. Theo đó, tổ chức quản lý tập thể sẽ dễ dàng được nhận ủy
thác từ các chủ sở hữu quyền để quản lý các quyền và thực hiện các biện pháp chống xâm phạm.

Mô hình này có thể thấy rõ thông qua việc phân tích cơ sở thành lập của tổ chức
NORWACO (tổ chức quản lý tập thể quyền đối với các tác phẩm nghe nhìn ở Na Uy)
Tổ chức này được thành lập trên cơ sở sự liên minh của các hiệp hội như: Hiệp hội các
nhà báo chuyên nghiệp, liên hiệp các tác giả, hiệp hội các nhà xuất bản, hiệp hội các nghệ sĩ thu
âm Na Uy…v…v
7

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tổ chức quản lý tập thể ra đời theo ý chí chủ quan
của cơ quan nhà nước. Đặc biệt là trong những lĩnh vực mà việc giám sát của chủ sở hữu quyền
là bất khả thi: ví dụ: việc sao chép cá nhân. Lúc này, cơ quan nhà nước thường hình thành trước
một tổ chức quản lý tập thể, tổ chức này độc lập và thực hiện chức năng cấp phép thu hộ và phân
phối hộ tiền bản quyền.

7
www.norcode.no
13
Trong thời gian ban đầu, RIAV được thành lập với chức năng của một tổ chức quản lý
tập thể. Tuy nhiên, vì nhận thức ban đầu của các chủ sở hữu quyền liên quan trên lĩnh vực này
chưa cao, họ chưa thể hình dung một tổ chức quản lý tập thể là gì, nên RIAV được ra đời với tư

yếu ở châu Phi mới phổ biến các tổ chức công. (1)
Sự phân hóa này một phần bắt nguồn từ lý do kinh tế. Có thể thấy các tổ chức công phổ
biến tại những nước có nền kinh tế đang phát triển. Do sự yếu kém về hạ tầng kinh tế, pháp lý, số
lượng quyền cũng như việc bảo đảm quyền cho chủ sở hữu mới ở mức độ sơ khai, thu nhập của
chủ sở hữu và nhận thức của chính họ về quyền của mình vẫn chưa mạnh mẽ. Với xuất phát
điểm như vậy, các chủ sở hữu khó có thể tập hợp đủ nguồn lực kinh tế, tầm nhìn chiến lược để
khởi đầu thành lập một tổ chức liên đới quản lý quyền của mình. Lúc này, sự hỗ trợ của Nhà
nước là cần thiết và hợp lý. Thêm vào đó, ở những quốc gia có thiết chế công phát triển như vậy,
việc người sử dụng tác phẩm cũng là tổ chức công là khó tránh khỏi (ví dụ, người sử dụng là Đài
truyền hình quốc gia); do đó một tổ chức quản lý tập thể công tại nước đang phát triển sẽ có
nhiều lợi thế hơn tổ chức quản lý tập thể tư trong việc đàm phán, giao kết, thực hiện quản lý
quyền.
Tuy nhiên, sự phân chia công – tư này cũng mang tính tương đối. Trên thực tế có tồn tại
những tổ chức bán công. Đây là những tổ chức... Đồng thời tính tương đối thể hiện ở chỗ: một tổ
chức quản lý tập thể tư có khi phải chịu sự giám sát, quản lý nhất định của các cơ quan công
quyền; hoặc một tổ chức quản lý tập thể công không chịu sự quản lý hoàn toàn của Nhà nước mà
15
các thành viên của nó, tức các chủ sở hữu quyền, được liên đới quản lý một số quyền của mình ở
mức độ cao.
Tại Việt Nam, có thể xác định các tổ chức quản lý tập thể hiện đang tồn tại là tổ chức bán
công. Hiệp hội công nghiệp ghi âm Việt Nam (RIAV) do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định
thành lập (1)
8
, chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhưng các chủ sở hữu quyền
lại có quyền quyết định cách thức hoạt động, tức là vừa mang tính công, vừa mang tính tư.
Việc xác định một tổ chức là công hay tư chi phối mạnh mẽ hoạt động và cơ cấu của tổ
chức. Thông thường, một tổ chức công sẽ do một người đại diện cơ quan công quyền đứng đầu.
Các quyền và nghĩa vụ của tổ chức công đó được thể chế hóa. Đồng thời, tổ chức công này sẽ có
một vị trí độc quyền nhất định trong lĩnh vực quản lý, thuận lợi trong việc đàm phán, cấp phép
với người sử dụng tác phẩm. Ngược lại, một tổ chức tư thường có người đứng đầu được thiết lập

Vậy, nói tổ chức quản lý tập thể là tổ chức “không vì mục đích kinh doanh” mới là chính
xác.
Liên hệ với tính chất công hay tư của quản lý tập thể, cần lưu ý tính công- tư và tính kinh
doanh là không chi phối nhau. Dù tổ chức quản lý tập thể đó là tổ chức công hay tư, nó vẫn hoạt
động không vì mục đích kinh doanh. Tránh một số thói quen cho rằng các tổ chức tư nhân thì
thường hướng đến mục tiêu lợi nhuận.
2.3 Liên đới quản lý bắt buộc (Complusory collective management)
Khái niệm liên đới quản lý bắt buộc thường được đề cập nhiều khi nhắc đến quản lý tập
thể. Khái niệm này có thể được hiểu đơn giản là: trong một số lĩnh vực thì việc liên đới quản lý
trở nên bắt buộc. Các tác giả không thể và thậm chí là không có khả năng tự mình thực hiện các
quyền. Lúc này, liên đới quản lý (dưới hình thức quản lý tập thể hoặc cấp phép quyền trung gian)
sẽ là giải pháp duy nhất bắt buộc phải lựa chọn nếu một quốc gia mong muốn các quy định về
quyền tác giả, quyền liên quan được bảo đảm. Hầu như các nước đều sử dụng mô hình quản lý
tập thể để có thể liên đới quản lý các quyền trong một số lĩnh vực mà việc liên đới quản lý là bắt
buộc.
Theo khuyến cáo của tác giả Milahy Fiscor trong tác phẩm “Quản lý tập thể quyền tác giả
và quyền liên quan” thì “cần phải tránh quy định coi liên đới quản lý bắt buộc là một điều kiện
thực hiện quyền tác giả và quyền liên quan bất cứ khi nào mà có thể và có khả năng thực thi
riêng lẻ quyền”
Như vậy, trong các trường hợp mà chủ sở hữu quyền có thể tự mình thực thi riêng lẻ
quyền, thì cần loại bỏ quan điểm về việc bắt buộc phải thiết lập một mô hình quản lý tập thể
Như vậy, trong lĩnh vực âm nhạc, đối với quyền liên quan, cần phải xác định có nên quy
định về quản lý bắt buộc và nếu có sẽ là quy định để quản lý các quyền nào, trên lĩnh vực nào?
Đứng trước những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc liên đới quản lý bắt buộc quyền
liên quan của các tác phẩm âm nhạc, nhiều quốc gia đã quy định việc quản lý bắt buộc ở một
số lĩnh vực. Thông thường các quốc gia thường áp dụng việc quản lý bắt buộc đối với một số
lĩnh vực như: sao chụp, sao chép để dùng riêng bản ghi âm, ghi hình…
Nhiều quốc gia (Đức, Pháp, Nhật Bản, Mỹ, Na Uy …) có nền bản quyền phát triển đều
quy định việc liên đới quản lý bắt buộc trong lĩnh vực “sao chép để dùng riêng” bản ghi âm ghi
hình. Điển hình là tại Pháp, vào năm 1995, Bộ trưởng văn hóa Pháp đã chấp nhận tổ chức SEAM

Tuy nhiên, hiệp ước WPPT đã thay đổi bằng các điều 7, 11, 16 đã so sánh quyền sao chép của
người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm với quyền của tác giả. Những điều khoản tương tự
cũng được ghi nhận tại hiệp định TRIPS
Như vậy, việc sao chép cá nhân, đặc biệt là với sự phát triển của hệ thống khoa học kỹ
thuật ngày nay, không thể nào thuộc các trường hợp ngoại lệ của việc sao chép. Đặc biệt, đối với
ngành công nghiệp ghi âm, việc sao chép các bản ghi tại các gia đình đã trở thành một trở ngại
cho các nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Khi một người tiêu dùng đến tiệm đĩa để mua một

9
“How Reproduction Rights Organisations Function” – IFFRO ( International Federation of Reproduction Rights
Organisation) Manual
10
Điều 9.2 Công ước Bern
18
album, họ sẽ có quyền sao chép bản ghi đó để lưu trữ tại máy tính cá nhân vì điều này đảm bảo
việc khai thác bình thường của chủ sở hữu quyền, tuy nhiên, chủ sở hữu quyền không thể nào
kiểm tra hay đảm bảo việc sao chép này chỉ dừng lại ở việc sao chép để giữ lại một bản cho cá
nhân. Việc sao chép cá nhân này hoàn toàn dẫn đến một trong các khả năng chia sẻ cho một
người khác, upload lên mạng cộng đồng, sao chép qua các phương tiện, thiết bị khác; sử dụng tại
các quán ăn, quán cà phê, nhà hàng, khách sạn…. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, các nhà
sản xuất bản ghi âm sẽ không thể bán được các đĩa nhạc gốc, hay kinh doanh trên chính sản
phẩm do mình tạo ra và đương nhiên là thị trường kinh doanh của họ sẽ bị xâm phạm một cách
nghiêm trọng. Như vậy, việc sao chép cá nhân đã trở nên mâu thuẫn với việc khai thác bình
thường quyền liên quan của chủ sở hữu quyền. Đặc biệt với sự phát triển của kỹ thuật hiện nay,
việc này đã tạo ra một sự thiệt hại lớn cho chủ sở hữu quyền.
Tuy nhiên, không thể yêu cầu từng hãng ghi âm, ghi hình yêu cầu các cá nhân xâm phạm
trả tiền cho việc sao chép cá nhân này, vì không có khả năng kiểm soát được việc sao chép cá
nhân và lúc này, chỉ có quản lý tập thể là giải pháp khả dĩ nhất và duy nhấtcho việc đảm bảo
quyền lợi của chủ sở hữu quyền.
Như vậy, câu hỏi đầu tiên đã được trả lời.

quyền liên quan. Tổ chức quản lý tập thể được giao thu tiền sẽ phân phối và trả về các chủ sở
hữu quyền theo một tỉ lệ do nhà nước quy định.
- Vấn đề thứ ba: Phương thức thực hiện quản lý bắt buộc quyền sao chép để dùng
riêng ở Việt Nam.
Học tập điều này, tiến sĩ Vũ Mạnh Chu, Cục trưởng Cục bản quyền tác giả Việt Nam, tại
hội thảo “Các hiệp ước quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số”
tháng 8 năm 2009 do WIPO, cơ quan bản quyền của Nhật Bản và Cục Bản quyền Tác giả Việt
nam tổ chức đã đề xuất mô hình thu tiền đối với đĩa trắng, đĩa quang như sau:
+ Nhà nước quy định tiền đánh thuế lên các thiết bị ghi âm, các vật liệu ghi âm. Có thể
RIAV có trách nhiệm thu khoản tiền đánh thuế này. Sau đó,RIAV sẽ phân phối đến các chủ sở
hữu quyền.
Đề xuất này tương ứng với quy định của một số nước. Tại Đức, Luật bản quyền năm
1965 quy định tiền bồi thường đối với các thiết bị ghi âm, đến năm 1985 mở rộng ra việc thu tiền
bồi thường đối với các phương tiện ghi âm. Việc thu tiền bồi thường này sẽ được giao cho các tổ
chức quản lý tập thể hiện có hoặc thành lập hẳn một tổ chức riêng biệt như ZPU ở Đức, COPIE
FRANCE ở Pháp chuyên thu tiền đối với việc sao chép cá nhân các bản ghi âm, ghi hình.
Tuy nhiên, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, các đề xuất này gặp không ít phản ứng từ dư
luận. Mặt bằng nhận thức của người dân tại Việt Nam còn khá thấp, để có thể giải thích về tiền
bồi thường, về ý nghĩa của việc đánh thuế là rất khó khăn. Mặt khác, để thiết lập được một chế
định cho việc đánh thuế, mức thu, cơ chế thu, cơ chế phân phối cần rất nhiều thời gian. Có lẽ
chính vì điều này, mà các quy định này đã được ban dự thảo Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung
ghi nhận bằng việc bổ sung điều 25 Luật sở hữu trí tuệ như sau: “Chính phủ quy định cụ thể về
20
các hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu và lưu hành đĩa quang; sử dụng đĩa quang trắng
để định hình, sao chép.”
Mặt khác, việc thiết lập tiền thuế bồi thường đánh vào việc sao chép cá nhân bản ghi âm
cần phải được tiến hành song song với các hoạt động mở rộng thị trường cấp phép cho việc sử
dụng hợp pháp, nghĩa là thúc đẩy hoạt động của các tổ chức quản lý tập thể.
2.4 Giấy phép mở (Extended Collective Licence)
2.4.1 Các khái niệm cơ bản về cấp phép mở và giấy phép mở


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status