BÀI TIỂU LUẬN
Cơ sở sinh học của sự hình thành tập tính ở động vật bậc thấp và ứng dụng
của tập tính động vật bậc thấp trong đời sống hằng ngày
Tập tính học là một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về các vấn đề có liên
quan đến tập tính động vật và hành vi ở con người, bộ môn đóng vai trò rất quan
trọng trong đời sống các loài, cũng như trong đời sống và thực tiễn sản xuất của
con người. Tuy nhiên đây cũng là bộ môn còn non trẻ so với các bộ môn khoa học
khác, những nghiên cứu về các dạng tập tính, đặc điểm, cơ chế hay những ứng
dụng của tập tính còn rất hạn chế vì vậy việc thúc đẩy và tích cực nghiên cứu là rất
cần thiết.
A.CƠ SỞ SINH HỌC CỦA SỰ HÌNH THÀNH TẬP TÍNH Ở ĐỘNG VẬT
BẬC THẤP
1. Khái niệm :
-Mọi động vật bậc thấp hay bậc cao đều có khả năng chuyển động thay đổi vị
trí cơ thể sống. Đó là những biểu hiện cơ bản của sự sống ở động vật. Thực chất đó
là sự phản ứng trả lời cơ thể trước tác động của môi trường. Sự phản ứng này khác
nhau giữa các loài động vật, nhưng cùng chung mục đích giúp các loài động vật
thích nghi với môi trường sống.
-Có nhiều quan điểm về tập tính:
+ Quan điểm 1: Là những hoạt động sống hay cách sống của cơ thể.
+ Quan điểm 2: Là sự biểu hiện giữa sự trao đổi với môi trường xung quanh.
2. Phân loại tập tính :
2.1. Căn cứ vào cách sống hằng ngày chia làm 4 loại:
• Tập tính định hướng.
• Tập tính dinh dưỡng.
• Tập tính sinh sản.
• Tập tính đời sống xã hội.
1
2.2. Căn cứ vào nguồn gốc, vào bản chất về mặt sinh học và di truyền chia làm
3 nhóm c ơ bản :
• Tập tính bẩm sinh.
2.2.3. Tập tính hỗn hợp (TTHH):
-Khái niệm: Tập tính hỗn hợp là loại tập tính mang tính chất của hai loại tập
tính bẩm sinh và thứ sinh. Nó biểu hiện rất rõ ở những động vật bậc cao như thú,
người.
- Ở một chừng mực nào đó TTBS và TTTS rất khó phân biệt. TTTS hình
thành trong đời sống cá thể lâu đời bền vững tinh xảo, trở thành gần giống với tập
tính bẩm sinh.
- Đa số tập tính ở ĐVBT là tập tính bẩm sinh.
3.Cơ sở sinh học của sự hình thành tập tính ở động vật bậc thấp.
-Cơ sở tập tính ở động vật đó chính là biến dị, di truyền và chọn lọc. Yếu tố di
truyền quyết định cấu trúc hệ thần kinh, cấu trúc hệ nội tiết.
-Cơ chế hình thành và điều khiển tập tính ở động vật là cơ chế hoạt động của
hệ thần kinh, do vậy tập tính học động vật được hình thành trên cơ chế phản xạ và
vòng phản xạ. Có thể minh họa bằng sơ đồ sau:
.
3
Kích thích
bên ngoài
Cơ quan
thụ cảm.
Kích thích
bên trong.
Hệ thần
kinh.
Cơ quan
thực hiện
tạo thành chuỗi hạch thần kinh nằm dọc theo chiều dài cơ thể. Ở
động vật chân khớp, não (hạch thần kinh đầu) có kích thước lớn
hơn hẳn so với các hạch thần kinh khác. Mỗi hạch thần kinh là
trung tâm điều khiển hoạt động của một vùng cơ thể xác định.
5
• Động vật có hệ thần kinh dạng chuỗi hạch phản ứng lại kích thích
theo nguyên tắc phản xạ. Hầu hết các phản xạ của chúng là phản
xạ không điều kiện.
4. Một số tập tính ở động vật bậc thấp
-Ở côn trùng, ếch và chim thì các tín hiệu âm thanh đóng vai trò quan trọng trong
tập tính kết đôi. Con cái chỉ trả lời lại âm thanh do con đực cùng loài phát ra.
-Ở một số loài côn trùng như kiến và ong, hầu hết các cá thể đều không sinh sản
mà dành toàn bộ sức lực để nuôi nấng bảo vệ thế hệ con của những cá thể khác.
-Đối với bọ xít, được mệnh danh là "Hoàng hậu hôi", miệng tuyến hôi của nó
nằm ở bụng, bình thường dùng để
phòng chống kẻ địch. Khi chúng
sinh con thì mùi hôi này có thể hình
thành một "vòng hôi" xung quanh ấu
trùng, như một bức tường bảo vệ
con cái khỏi sự xâm hại của kẻ thù.
-Chỉ biết vào những tháng mùa đông, rươi lại nổi lên mặt nước khoảng 1 - 2 giờ
đồng hồ, rồi lại biến mất.
-Rươi nổi và bơi trên mặt nước như con đỉa. Có khi nổi dày đặc, đỏ cả mặt nước.
-Nhiều loài côn trùng có các cơ quan cảm giác rất tinh tế. Trong một số trường
hợp, các giác quan của chúng nhạy cảm hơn con người rất nhiều. Ví dụ, ong có thể
nhìn được trong phổ bức xạ cực tím để tìm kiếm nơi hút mật là những bông hoa có
bức xạ này để "dẫn đường" cho ong. Bướm đực có cái "mũi chuyên hóa" là đôi ăng
ten (ở bướm ngày ăng ten có chóp tròn ở đầu mút và ở ngài (bướm đêm) lại có
dạng lông vũ hoặc không có đầu mút tròn) có thể ngửi thấy pheromon của bướm
cái từ khoảng cách vài km.
-Trong tập tính ghép đôi việc phát ra các tính hiệu kích thích và kêu gọi bạn
tình rất là quan trọng. Thông thường, con đực sục sạo và quyến rũ con cái .Trò tán
tỉnh bao gồm: nhảy múa, gõ vào cơ thể, phát ra âm thanh, tiết ra mùi , phô trương
ra hiệu…
- Âm thanh đóng vai trò quan trọng giúp con đực dẫn dụ con cái.
Ví dụ: + Mùa xuân đến, châu chấu vùng Địa Trung Hải thường gọi con cái
nhờ âm thanh riêng, được phát ra ở lưng.
+ Rên rỉ là cách thức tìm bạn tình ở muỗi. Muỗi cái thông báo cho
muỗi đực nhận biết, đồng thời cũng là thông tin cho muỗi cái tránh xa.
+ Châu chấu, dế mèn, ve sầu đực phát ra âm thanh quyến rũ con
cái.Ve sầu Bắc Mỹ Magricicada septemdecim có giai đoạn ấu trùng 17 năm trong
đất nhưng giai đoạn trưởng thành sống tự do chẳng kéo dài được bao lâu, chỉ được
vài tuần , chủ yếu để ca hát, giao phối đẻ trứng duy trì nòi giống.
- Mùi vị cũng đóng vai trò quan trọng trong tập tính ghép đôi
Ví dụ:
+Loài rệp vỏ, con đực taọ một căn phòng đặc biệt. Sau đó, tiết ra mùi
đặc biệt khiêu gợi tỏa vào không khí. Con cái sau khi phát hiện được mùi, nó
không sao dừng lại và tìm đến chỗ con đực.
+ Con ngài hoàng đế tiết ra mùi thơm thu hút con đực từ xa 11km.
+ Nhiều loài bướm trong họ bướm cải và bướm phấn, đến mùa sinh sản
con đực thường thò ra túm lông màu vàng hoặc trắng ở cuối bụng để tiết ra một
mùi hắc giúp con đực dẫn dụ con cái và xua đuổi kẻ thù.
- Những kích thích thị giác cũng đóng vai trò quan trọng trong hôn phối của
nhiều loài động vật.
Ví dụ:
+ Đom đóm cái phát ra ánh sáng màu vàng vàng để thu hút con đực.
+ Nhện nhảy cái Habranattus dossenus yêu cầu bạn tình vừa nhảy vừa
múa.
- Quà tặng tình yêu:
Ví dụ
việc tìm kiếm thức ăn, phòng tránh kẻ thù và những tác nhân bất lợi từ môi
trường. Nói đến động vật xã hội là nhắc đến những động vật có đời sống bầy đàn
lớn, trong đó có sự liên kết chặt chẽ và sự phân chia nhiệm vụ chức năng riêng
biệt. Đó là tổ mối, kiến, ong.
9
3.4.1 Tập tính đẳng cấp:
-Một nhóm xã hội động vật bao gồm nhiều nhóm phân hóa chức năng với
nhiều cá thể, tạo thành một tập hợp các chức năng.
Ví dụ
+ Ở ong mật Apis mellifera có sự phân chia đẳng cấp xã hội điển hình: một con
ong chúa, vài trăm ong đực và phần lớn là ong thợ, ong lính.
+ Ở kiến có 5 đẳng cấp xã hội chính : kiến chúa, kiến đực, kiến thợ, kiến lính và
dạng kiến trung gian. Dạng kiến trung gian , khi cần có thể biến thành con ong
đực hay ong thợ
3.4.2 Tập tính vị tha:
-Tập tính vị tha là tập tính làm giảm khả năng sống sót của cá thể này, nhưng
đồng thời làm tăng khả năng sống sót của người khác và vì sự sinh tồn của bầy
đàn.
-Nhiều loài động vật trong sinh sản bị chết chóc.
Ví dụ:
+ Đom đóm cái cắt đứt đầu đom đóm đực, nhai nát rồi giao phối với cái thân
không đầu run rẩy
+Bọ ngựa đực sẽ phải rất cẩn thận khi lại gần để ghép đôi với con cái , nó có
thể trở thành bữa ăn của bạn tình, nếu cô nàng đang bị đói.
+ Trong một tổ mối, mối chúa và mối vua làm nhiệm vụ sinh sản .Còn các
nhiệm vụ khác như nuôi dưỡng ấu trùng tìm kiếm thức ăn, bảo vệ đàn, dọn dẹp
tổ… đều do mối thợ và mối lính làm.Tất cả mạng sống của chúng đều để củng
cố những nỗ lực sinh sản của mối chúa và mối vua. Mối chúa đẻ khoảng 3000
10
cái nĩa màu trắng trên lưng.
-Nhện nước làm tổ trong những đám cỏ, rơm rạ mục trong ruộng lúa ngập
nước hay ruộng cạn. Con cái thường đẻ khoảng 200 - 600 trứng trong 3 - 4 tháng
vòng đời của chúng, mỗi lần đẻ 80 trứng trong một ổ và vác ổ trứng trên lưng.
-Khi ruộng lúa xuất hiện bướm sâu đục thân, sâu cuốn lá hoặc rầy nâu, chúng
tìm đến dùng vòi hút chất dinh dưỡng bên trong con mồi. Gặp trứng của rầy nâu,
chúng ăn từ 5-15 trứng/ngày. Mật độ nhện càng tăng khi số sâu hại tăng, khống chế
được sâu hại không tăng quá lớn để phá hại cây trồng.
*Kiến ba khoang.
-Tên khoa học là Coleoptera.
-Có màu nâu đỏ, giữa lưng có một vạch lớn màu đen chạy ngang qua tạo thành
một khoang đen. Chúng thường trú ẩn trong bờ cỏ, các đống rơm rạ mục ngoài
ruộng. Chúng làm tổ dưới đất và đẻ trứng. Khi ruộng lúa xuất hiện sâu cuốn lá hay
rầy nâu, chúng tìm đến, chui vào những tổ sâu, ăn thịt từng con. Trung bình mỗi
con kiến ba khoang có thể ăn từ 3 - 5 con sâu non/ngày. Sự xuất hiện của kiến ba
12
khoang đã làm cho số của sâu hại giảm đáng kể và bảo vệ lúa không bị phá hại,
giảm bớt việc dùng thuốc hoá học, giảm chi phí, bảo vệ môi trường.
*.Ruồi xám.
-Tên khoa học là Diptera.
-Có màu xám, xen những sọc trắng, to hơn ruồi nhà, thân có nhiều lông
(gai), đầu to, màu hồng hơi xám. Khi ruộng lúa xuất hiện sâu cuốn lá lớn tấn công
là chúng thường xuất hiện, tìm đậu lên lưng và đẻ trứng lên lưng ký chủ là sâu
cuốn lá lớn. Trứng nở thành giòi và ăn thịt bên trong thân ký chủ. Sau khi ăn xong,
chúng chui ra làm kén trên lá lúa và biến thành nhộng. Khoảng 4 ngày sau nhộng
nở thành ruồi, cắn kén chui ra, được ba ngày chúng lại giao phối và tìm đến ký chủ
mới để lập vòng đời thứ tiếp theo. Cứ như vậy ruồi xám hạn chế được mật số các
loài sâu cuốn lá lớn.
*.Bọ đuôi kìm.
-Tên khoa học là Eborellia.
cây trong vườn cam quýt. Các vườn cam quýt có mặt kiến vàng không còn kiến hôi
(kiến đen làm cam quýt sượng và mất nước). Một loài bệnh trên cây cam quýt là
Greening, đặc biệt thường gặp trên các vườn cam, nhất là các vườn cam mật.
Greening do rầy chổng cánh gây ra. Cây cam khi nhiễm bệnh có lá gân xanh. Khi
kiến vàng xuất hiện sẽ tiêu diệt rầy chổng cánh, vườn cam quýt có kiến vàng sẽ
không bị bệnh Greening, đây là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở Viện
cây ăn quả Miền Nam.
2.2 Dựa vào tập tính hướng sáng và hướng vị để tạo ra các bẫy đèn và bẫy hóa
chất tiêu diệt hay xua đuổi côn trùng gây hại.
Ví dụ:
14
+ Dùng bã chua ngọt gồm 4 phần mật, 4 phần giấm, 1 phần nước, 1 phần
thuốc trừ sâu: Padan hay Sherpa để bẫy pha trưởng thành của sâu cắn gié lúa, sâu
cắn lá ngô, sâu xám đục thân ngô…
+ Dùng bẫy feramol, vizubon để thu hút.
+ Dùng long não trộn tro bếp để vào túi vải, chú ý không bị ướt, treo ở độ
cao khoảng 1,5 mét có tác dụng xua đuổi.
+ Bẫy đèn
Lợi dụng tập tính hướng sáng và giả
chết khi đụng phải vật lạ của bọ cánh
cứng, có thể làm bẫy đèn để bắt chúng
(không cần dùng tới hóa chất). Bọ cánh
cứng bắt được có thể cho cá, gà, vịt ăn.
Cách làm bẫy đèn rất đơn giản:
- Dùng một tấm tôn kẽm có chiều dài
và chiều rộng 1-1,5 m làm bia chắn
cắm ngoài vườn (cao 1,8-2 m).
- Phía dưới bia đào hố, rộng khoảng 60
cm, sâu 30 cm; lót bạt nylon chứa nước.
thể, khí carbonic (CO2) và nhiệt tỏa ra từ
người hay động vật.
+Đặc điểm các loài muỗi truyền bệnh
Trong các loài muỗi, có hai nhóm thường đốt máu người và có thể truyền bệnh.
Nhóm Anopheles có giống Anopheles được biết đến nhiều nhất do vai trò truyền
bệnh sốt rét. Ở một số nơi, nó cũng có khả năng truyền bệnh giun chỉ bạch huyết.
16
Nhóm Culicinae gồm các giống Culex truyền bệnh giun chỉ bạch huyết và một số
bệnh virut; giống Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết, sốt vàng, các bệnh virut khác
và cũng có khả năng truyền bệnh giun chỉ bạch huyết; giống Mansonia truyền bệnh
giun chỉ bạch huyết; giống Haemagogus và Sabethes truyền bệnh sốt vàng vùng
rừng rậm ở Trung, Nam Mỹ.
+Về tập tính, muỗi đực thường "ăn chay" nên không đốt máu, nó tự nuôi
dưỡng bằng cách chích hút nhựa cây; muỗi cái thường "ăn mặn" nên nó chích đốt
máu cả người và động vật. Với đặc điểm ái tính riêng, một số loài muỗi thường chỉ
ưa thích chích đốt máu của một số loại động vật nào đó phù hợp. Muỗi thường bị
thu hút bởi mùi của cơ thể, mùi của mồ hôi, khí CO2 và nhiệt tỏa ra từ người hay
động vật. Các loài muỗi thường thích chích đốt máu vào một số giờ nhất định, có
thể vào lúc rạng đông, lúc hoàng hôn chập tối hoặc khi nửa đêm. Đa số các loài
muỗi thường chích đốt mồi vào ban đêm nhưng cũng có một số loài thường chích
đốt mồi vào ban ngày. Một đặc điểm sinh lý cũng được ghi nhận là có loài muỗi
thích chích đốt máu ở trong rừng, một số loài lại thích chích đốt máu ở ngoài nhà
hoặc trong nhà.
+Do khả năng cần tiêu máu và phát triển trứng thụ tinh mất nhiều ngày nên
muỗi cái sau khi hút no máu đã tìm nơi an toàn, tối tăm, ẩm thấp để trú ẩn và đậu
nghỉ. Một số loài thích trú đậu trong nhà hoặc ở chuồng gia súc, một số loài khác
lại thích trú đậu ngoài nhà, trong các bụi cây hoặc nơi trú ẩn tự nhiên. Thường
muỗi cái không chích đốt máu trong thời gian trứng thụ tinh đang phát triển.
+Chính đặc điểm tập tính của muỗi đã giúp các nhà khoa học xác định loài
muỗi chỉ gây mối phiền hà cho con người do việc chích đốt máu bình thường hay
bằng cách ứng dụng mồi dẫn dụ khói và lửa để bắt muỗi. Về cơ bản, các loài muỗi
18
đều có thể bị dẫn dụ và thu hút bởi khí CO2 và nhiệt. Tuy nhiên, nếu ở nhiệt độ
quá cao và nồng độ khí CO2 quá lớn thì nguồn dẫn dụ sẽ mất tác dụng và có thể có
tác dụng xua đuổi.
* Một loài chuồn kim có cách sinh đẻ lạ thường
- Chuồn kim xanh sở hữu một màu xanh lam đặc trưng màu của trời và biển.
Ưa sống gần gũi với môi trường nước lại có một kiểu sinh đẻ không giống bất cứ
một loài chuồn chuồn nào.
- Loài chuồn kim xanh có mặt khá nhiều nơi có tập tính là thường sống bên
mặt nước có thể gọi là “chuồn kim nước”. Nó ưa sống ven bờ các ao hồ hay con
lạch thoáng rộng nước trong. Thường bay là là trên mặt nước đậu trên rong rêu
hay lá cây ở sát với mặt nước đây là nơi săn mồi, kết bạn tình, sinh đẻ của nó.
- Chuồn kim xanh sở hữu một màu xanh lam đặc trưng khi đậu trên mặt nước
dưới ánh mặt trời ta có cảm giác màu xanh này như được phát sáng thật đẹp mắt.
Tuy nhiên để chụp được những bức ảnh đẹp như thực tế đó lại rất khó, ảnh con vật
thường bị lóa sáng. Một đặc điểm chung cho các loài chuồn chuồn là con đực
thường có màu sắc đẹp nổi bật ngược lại con cái lại nhạt nhòa rất đỗi bình thường.
19
20
Chuồn kim xanh
21
Thường đậu đỗ trên rong rêu lá cây sát mặt nước
Ảnh chụp chuồn kim xanh thường bị lóa sáng
- Cũng giống như các loài chuồn kim khác vào mùa sinh đẻ các đôi “uyên
ương” tìm đến nhau và rồi kết thành hình trái tim nó trùng hợp ngẫu nhiên với biểu
tượng tình yêu của con người. Trên đời này có lẽ chỉ có loài chuồn kim (nói chung)
22
quấn quít tình tự với nhau là lâu nhất. Có thể kéo dài suốt cả một buổi cho đến khi
con cái đẻ xong. Chuồn kim xanh có thể có nhiều loài, riêng có một loài thể hiện