Người giao nhận và vai trò của người giao nhận trong hoạt động vận tải và thương mại quốc tế - Pdf 14

TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI

KHO LUN TT NGHIP

ti:
NGI GIAO NHN V VAI TRề CA NGI GIAO NHN
TRONG HOT NG VN TI V THNG MI QUC T
H v tờn sinh viờn
Lp
Khoỏ
Giỏo viờn hng dn
: Trần Thị ánh Tuyết
: Anh 16
: 44 D
: ThS. Phạm Thanh Hà
1.2. Góp phần mở rộng thị trường 12
1.3. Mang lại nhiều lợi ích kinh tế, xã hội 13
2. Chức năng của ngƣời giao nhận 15
2.1. Môi giới hải quan (Customs broker) 15
2.2. Đại lý (Agent) 15
2.3. Người gom hàng (Cargo Consolidator) 16
2.4. Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển 16
2.5. Người kinh doanh vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator) 17
III. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận tại Việt Nam 19
IV. Một số tổ chức liên quan đến hoạt động của ngƣời giao nhận 22 1. Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale
des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA) 22
2. Tổ chức Hải quan thế giới – WCO 23
3. Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nƣớc ASEAN (AFFA) 23
4. Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam – VIFFAS 24
4.1. Khái quát chung 24
4.2. Mục tiêu hoạt động 24
4.3. Hội viên của hiệp hội 25
Chƣơng II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƢỜI GIAO NHẬN 27
I. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận trên thế giới 27
1. Sơ lƣợc về lịch sử hình thành và phát triển của ngƣời giao nhận trên
thế giới 27
2. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận trên thế giới 28
II. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận tại Việt Nam 34
1. Vài nét về các giai đoạn phát triển của ngƣời giao nhận Việt Nam 34
1.1. Giai đoạn trước đổi mới (Trước năm 1986) 34
1.2. Giai đoạn sau đổi mới (Sau năm 1986) 35

2. Nhóm giải pháp vi mô 84
2.1. Tăng cường mở rộng thị trường, thiết lập hệ thống đại lý tại nước
ngoài 84
2.2. Xây dựng chiến lược Marketing cho doanh nghiệp mình 85
2.3. Tăng cường liên kết giữa các công ty giao nhận trong nước, hợp
tác với các công ty giao nhận nước ngoài 87
2.4. Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ 89
2.5. Cải tiến bộ máy quản lý, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại các
công ty giao nhận 91
2.6. Áp dụng các phương thức giao nhận tiên tiến, ứng dụng công nghệ
thông tin 92
Kết luận 94
Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1
Lời nói đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế, thƣơng mại quốc tế và xu hƣớng toàn cầu
hóa, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nƣớc diễn ra ngày càng sôi nổi.
Sau khi ngƣời mua và ngƣời bán tiến hành ký kết hợp đồng sẽ diễn ra quá
trình trao đổi hàng hóa, tức là có sự di chuyển hàng hóa từ tay ngƣời bán đến
tay ngƣời mua. Ngƣời giao nhận sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo cho quá trình
vận chuyển đó diễn ra suôn sẻ, hàng hóa đến tay ngƣời mua một cách an toàn,
đúng thời gian, địa điểm. Từ chỗ chỉ đảm nhận một vài công việc đơn giản
nhƣ xếp dỡ, lƣu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa,
thanh toán tiền hàng… theo sự phát triển của thời gian, do đòi hỏi của thực tế
mà vai trò của ngƣời giao nhận ngày càng đƣợc nâng lên, họ đã đứng ra cung
cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa, trở

giao nhận, vai trò của ngƣời giao nhận nhƣ khái niệm, đặc điểm, chức năng…
Trên cơ sở những vấn đề chung đó bài viết đi sâu vào phân tích thực trạng
hoạt động của ngƣời giao nhận, những khó khăn, hạn chế cũng nhƣ thành tựu
đã đạt đƣợc của ngƣời giao nhận Việt Nam. Từ những kết quả thu đƣợc,
ngƣời viết có đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và
vai trò của ngƣời giao nhận.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tƣợng nghiên cứu: Ngƣời giao nhận và vai trò của ngƣời giao nhận
trong hoạt động vận tải và thƣơng mại quốc tế. Nghiên cứu thực trạng hoạt
động, những thành tựu, khó khăn hiện nay đang ảnh hƣởng đến ngƣời giao
nhận trên thị trƣờng Việt Nam; Nghiên cứu những giải pháp hỗ trợ ở tầm vĩ
mô cũng nhƣ những giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động, kinh
doanh trong lĩnh vực giao nhận. 3
 Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ giao nhận là một đề tài có nội dung rất
rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, tuy nhiên
khóa luận không đi vào một lĩnh vực cụ thể nào của hoạt động giao nhận nhƣ
giao nhận bằng đƣờng biển, đƣờng sông, đƣờng hàng không, hoạt động xếp
dỡ, kho bãi, làm thủ tục hải quan… mà ngƣời viết tập trung nghiên cứu hoạt
động của ngƣời giao nhận và vai trò của họ nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Ngƣời viết nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp phân tích, thống kê, tổng
hợp.
- Thực hiện phỏng vấn, trao đổi nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn của
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận.
- Nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu thêm thực tiễn.
6. Nội dung nghiên cứu
Nội dung của khóa luận đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:

thác của chủ hàng, của ngƣời vận tải hoặc của ngƣời giao nhận khác‟‟.
Nói một cách ngắn gọn, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có
liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi
gửi hàng (ngƣời gửi hàng) đến nơi nhận hàng (ngƣời nhận hàng).
1.2. Định nghĩa về người giao nhận
Theo khái niệm của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): “Ngƣời
giao nhận (Forwarder, Freight forwarder hay Forwarding agent) là ngƣời thu
xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi
ích của ngƣời ủy thác mà bản thân họ không phải là ngƣời chuyên chở. Ngƣời 5
giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao
nhận nhƣ đảm bảo lƣu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…”
Theo định nghĩa giao nhận vận tải do Ủy ban kinh tế, xã hội châu Á Thái
Bình Dƣơng ESCAP đƣa ra nhƣ sau: “Ngƣời giao nhận vận tải là đại lý ủy
thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản nhƣ
lƣu cƣớc, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ
quá trình vận tải và phân phối hàng”.
Theo luật thƣơng mại Việt Nam đƣợc Quốc Hội khóa IX thông qua tại kỳ
họp thứ 11 ngày 10/05/1997 thì: “Ngƣời giao nhận là ngƣời làm dịch vụ giao
nhận, là các thƣơng nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao
nhận hàng hóa. Ngƣời giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, các công ty giao
nhận hoặc bất kỳ thƣơng nhân nào khác”.

2. Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
2.1. Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
Dịch vụ giao nhận đƣợc cấu thành bởi ba yếu tố: hàng hóa, cơ sở vật chất
và nguồn nhân lực.
+ Yếu tố hàng hóa: là những hàng hóa có nhu cầu cần chuyên chở.

- Giao nhận thuần túy: là hoạt động giao nhận chỉ bao gồm thuần túy việc
gửi hàng đi, nhận hàng đến.
- Giao nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận không chỉ bao gồm việc gửi
hàng đi, nhận hàng đến mà còn cả các hoạt động khác nhƣ xếp dỡ, bảo quản
hàng hóa, vận tải, hoạt động kho hàng…
* Căn cứ vào tính chất của giao nhận
- Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do ngƣời xuất nhập khẩu tự tổ
chức thực hiện chứ không sử dụng dịch vụ của ngƣời giao nhận.
- Giao nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận do các tổ chức, công ty
chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận tiến hành. 7
Còn theo Nghị định của Chính phủ số 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9
năm 2007, dịch vụ giao nhận (đã đƣợc đổi tên thành dịch vụ logistics theo
luật thƣơng mại năm 2005) đƣợc phân loại nhƣ sau:
* Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lƣu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan
và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lƣu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lƣu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi
lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn
kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho
thuê và thuê mua container;
* Các dịch vụ 1ô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải;
b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;

gửi hàng đến nơi nhận hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc khác
nhau, cụ thể là:
+ Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở
+ Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng…
+ Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
+ Làm tƣ vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
+ Ký kết hợp đồng vận tải với ngƣời chuyên chở, thuê tàu, lƣu cƣớc
+ Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
+ Làm thủ tục Hải quan, Kiểm nghiệm, Kiểm dịch
+ Mua bảo hiểm cho hàng hóa
+ Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng
+ Thanh toán, thu đổi ngoại tệ 9
+ Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho ngƣời chuyên chở và giao cho ngƣời
giao nhận
+ Thu xếp chuyển tải hàng hóa
+ Nhận hàng từ ngƣời chuyên chở và giao cho ngƣời nhận
+ Gom hàng, lựa chọn tuyến đƣờng vận tải, phƣơng thức vận tải và ngƣời
chuyên chở thích hợp
+ Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
+ Lƣu kho, bảo quản hàng hóa
+ Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của
hàng hóa
+ Thanh toán cƣớc phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lƣu kho, lƣu bãi…
+ Thông báo tình hình đi và đến của các phƣơng tiện vận tải
+ Thông báo tổn thất với ngƣời chuyên chở
+ Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thƣờng
Hiện nay, ngƣời giao nhận cũng cung cấp thêm các dịch vụ đặc biệt khác

Các hoạt động cơ bản trong chuỗi hoạt động logistics bao gồm: Mua sắm
vật tƣ, lƣu kho và dự trữ, vận tải và giao nhận, kho bãi và phân phối, hệ thống
thông tin và dịch vụ khách hàng. Trong tất cả các yếu tố cấu thành chuỗi
logistics thì vận tải giao nhận là một trong những khâu quan trọng nhất, có
ảnh hƣởng lớn tới chất lƣợng dịch vụ và chi phí logistics. Vận tải giao nhận
tốt sẽ góp phần đảm bảo cung ứng hàng hóa một cách nhanh chóng, kịp thời,
ổn định, rút ngắn thời gian giao hàng cho khách, nâng cao trình độ dịch vụ.
Không những thế, vận tải giao nhận tốt còn cho phép doanh nghiệp giảm đến
mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lƣu kho, tồn đọng sản phẩm và nhờ đó
giảm chi phí logistics nói chung. Thông thƣờng, chi phí vận tải giao nhận có
thể chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí logistics.
Theo luật thƣơng mại mới đƣợc Quốc Hội nƣớc CHXHCN Việt Nam khóa
XI tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, dịch vụ giao nhận
đƣợc đổi tên thành dịch vụ Logistics và đƣợc định nghĩa là: “Hoạt động 11
thƣơng mại, theo đó, thƣơng nhân, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công
việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan,
và các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa
thuận với khách hàng để hƣởng thù lao. Dịch vụ logistics đƣợc phiên âm theo
tiếng Việt là dịch vụ lô - gi - stíc”. Có thể thấy theo định nghĩa này chỉ cần
thực hiện một trong số các công việc kể trên các công ty cũng đƣợc hiểu là
làm dịch vụ Logistics. Cách hiểu này là không chính xác về dịch vụ logistics,
đã vô hình chung coi logistics là một tên gọi khác của hoạt động giao nhận
vận tải. Các doanh nghiệp trong ngành giao nhận vận tải và logistics của Việt
Nam hầu nhƣ mới chỉ dừng lại ở một trong rất nhiều chuỗi dịch vụ Logistics
mà phổ biến nhất là hình thức giao nhận, cho thuê kho bãi, vận chuyển nội
địa.

hóa trên thị trƣờng. Việc phát triển dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp
không còn phải tự lo các loại giấy tờ, thủ tục, thay vào đó các công việc này
đƣợc giao cho các nhà giao nhận chuyên nghiệp với những kỹ năng đƣợc đào
tạo bài bản, cùng hệ thống các mối quan hệ rộng rãi, giúp cho việc thực hiện
đƣợc diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
1.2. Góp phần mở rộng thị trường
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp
các quá trình sản xuất, lƣu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải một
cách hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn đồng thời phức tạp hơn. Nó cũng cho
phép ngƣời vận tải nâng cao chất lƣợng dịch vụ đối với ngƣời gửi hàng. Phát
triển các dịch vụ truyền thống ở mức độ càng cao, ngƣời vận tải càng có khả
năng mở rộng thị trƣờng. Trƣớc đây, hàng hoá thƣờng đi từ nƣớc ngƣời bán
đến nƣớc ngƣời mua thƣờng dƣới hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều ngƣời
vận tải và nhiều phƣơng thức vận tải khác nhau. Do vậy xác suất xảy ra rủi ro,
mất mát đối với hàng hoá thƣờng rất lớn, ngƣời gửi hàng phải ký nhiều hợp
đồng vận tải riêng biệt với từng ngƣời vận tải thực sự, trách nhiệm của mỗi 13
ngƣời vận tải cũng chỉ giới hạn trong chặng đƣờng, hay dịch vụ do ngƣời đó
đảm nhiệm mà thôi. Cách mạng container hoá trong hoạt động vận tải vào
những năm 60, 70 của thế kỷ này đã đảm bảo an toàn và tăng độ tin cậy trong
vận chuyển hàng hoá, là tiền đề cho sự ra đời của vận tải đa phƣơng thức. Vì
vậy, khách hàng rất cần một ngƣời có thể tổ chức mọi công việc ở tất cả các
công đoạn để tiết kiệm chi phí, giảm thời gian hao phí, từ đó làm tăng lợi
nhuận. Chính các nhà giao nhận là những ngƣời đứng ra đảm nhận những
công việc này.
Nhờ có ngƣời giao nhận mà công việc lƣu thông, vận chuyển hàng hóa diễn
ra suôn sẻ, nhanh chóng hơn, đồng thời giúp các nhà sản xuất có điều kiện mở
rộng thị trƣờng. Trƣớc đây khi hoạt động giao nhận chƣa phát triển, mỗi nhà

báo hải quan… mà còn tạo ra hàng loạt các công việc khác nhƣ chở hàng, bốc
xếp, dán nhãn, kẻ ký mã hiệu… Đặc biệt sự phát triển của vận tải đa phƣơng
thức đòi hỏi phải ứng dụng các công nghệ mới, phƣơng thức vận tải mới, đi
kèm với đó là yêu cầu phải ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cũng
nhƣ sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới. Điều này đòi hỏi phải có một đội
ngũ công nhân viên, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc vận
hành, sửa chữa, bảo quản, gia cố các máy móc, thiết bị, những ngƣời hiểu biết
về các nghiệp vụ giao nhận, lƣu kho, vận chuyển container. Hiện nay ở nƣớc
ta cũng đã xuất hiện rất nhiều trung tâm gom hàng, giao nhận, phát hàng,
hoàn trả vỏ container, cùng các hệ thống kho bãi, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ
chuyên lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Tóm lại, nhờ có sự ra đời, phát triển của ngƣời giao nhận và các dịch vụ
mà họ cung cấp mà các thủ tục chứng từ có liên quan đến quá trình giao nhận
vận tải đƣợc đơn giản hóa, thời gian vận chuyển đƣợc rút ngắn lại, khối lƣợng
hàng hóa đƣợc trao đổi trong thƣơng mại và vận tải quốc tế ngày một tăng
lên. Sự phát triển của hoạt động giao nhận đã tạo điều kiện ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất, lƣu thông và phân
phối, phát huy đƣợc những lợi ích to lớn của hoạt động gom hàng, vận tải 15
container, vận tải đa phƣơng thức nhƣ tiết kiệm chi phí vận tải, chi phí bảo
hiểm, giúp hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, góp
phần hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở, tăng năng suất lao
động xã hội, tạo ra nhiều ngành nghề dịch vụ mới, giải quyết một khối lƣợng
lớn việc làm cho xã hội, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
2. Chức năng của ngƣời giao nhận
Ngày nay do sự phát triển của vận tải Container, vận tải đa phƣơng thức,
ngƣời giao nhận không chỉ làm đại lý, ngƣời ủy thác mà còn cung cấp dịch vụ
vận tải và đóng vai trò nhƣ một bên chính (Principal) – ngƣời chuyên chở

Gom hàng (Condolidation, Groupage) là việc tập hợp những lô hàng lẻ từ
nhiều ngƣời gửi ở cùng một nơi đi thành một lô hàng nguyên container để gửi
và giao cho một hoặc nhiều ngƣời nhận ở cùng một nơi đến. Hàng lẻ (LCL) là
những lô hàng nhỏ không đủ một container hoặc những lô hàng lớn nhƣng có
nhiều ngƣời gửi, nhiều ngƣời nhận. Ở Châu Âu, từ rất xa xƣa ngƣời giao nhận
đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đƣờng sắt. Ngày nay,
với sự phát triển mạnh mẽ của vận tải hàng hóa bằng container, dịch vụ gom
hàng lại càng không thể thiếu nhằm biến những lô hàng lẻ (LCL) thành hàng
nguyên container (FCL) nhằm tận dụng sức chứa của container và giảm cƣớc
phí vận tải.
Khi thực hiện việc gom hàng, ngƣời giao nhận đóng vai trò là ngƣời chuyên
chở đối với những ngƣời gửi hàng, và đóng vai trò là ngƣời gửi hàng với
những ngƣời “chuyên chở thực sự‟‟. Những ngƣời gửi hàng lẻ, nhận hàng lẻ
không trực tiếp tiếp xúc với “ngƣời chuyên chở thực sự‟‟.
2.4. Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển
Ngày nay việc ngƣời giao nhận đứng ra đảm nhận vai trò của ngƣời chuyên
chở ngày càng phổ biến, họ trực tiếp ký kết hợp đồng vận tải với chủ hàng và
chịu trách nhiệm chuyên chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác. Nếu
ngƣời giao nhận chỉ ký hợp đồng mà không trực tiếp chuyên chở thì họ đƣợc
coi là những ngƣời thầu chuyên chở (Contracting Carrier). Còn nếu họ trực 17
tiếp chuyên chở thì ngƣời giao nhận lại trở thành ngƣời chuyên chở thực tế
(Performing/ Actual Carrier).
Đối với hoạt động kinh doanh cƣớc vận chuyển: do ngƣời giao nhận nắm
bắt đƣợc tốt hơn tình hình thị trƣờng vận tải so với những ngƣời xuất nhập
khẩu nên họ có thể kí kết đƣợc các hợp đồng vận chuyển với giá cả và chi phí
thấp hơn hẳn. Từ đó xuất hiện hiện tƣợng ngƣời giao nhận dùng giá cƣớc vận
chuyển để kinh doanh, bán lại cho ngƣời xuất nhập khẩu. Ngƣời giao nhận sẽ

trailer và đƣợc kéo đến ga đƣờng sắt bằng các đầu máy kéo (Tractor). Tại đây,
các trailer đƣợc kéo lên toa xe mặt phẳng và chở đến ga đến. Sau đó, các máy
kéo lại kéo các trailer xuống và chở đến nơi đến để giao cho ngƣời nhận hàng.
Hình thức vận tải trên đƣợc áp dụng phổ biến ở Châu Âu và Châu Mỹ.
- Vận tải đƣờng sắt/ đƣờng ô tô/ vận tải đƣờng thủy nội địa/ đƣờng biển
(Rail/Road/Inland Waterway/Sea)
Đây là mô hình vận tải khá phổ biến để chuyên chở hàng hóa xuất nhập
khẩu. Đầu tiên, hàng hóa sẽ đƣợc vận chuyển bằng đƣờng sắt, đƣờng ô tô
hoặc đƣờng thủy nội địa đến các bến cảng của nƣớc xuất khẩu, rồi sau đó
đƣợc vận chuyển bằng đƣờng biển tới cảng biển của nƣớc nhập khẩu. Từ đây,
hàng hóa lại đƣợc vận chuyển đến ngƣời nhận nằm sâu trong nội địa bằng
đƣờng ô tô, đƣờng sắt hoặc đƣờng thủy nội địa.
- Cầu lục địa
Hàng hóa trong các container đƣợc chuyên chở giữa hai vùng biển thông
qua một lục địa, lục địa này nhƣ một cầu đất liền nối hai vùng biển đó, tức là
theo hình thức đƣờng biển - đƣờng bộ - đƣờng biển. Hiện nay trên thế giới có
một số tuyến cầu lục địa quan trọng là:
+ Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu hoặc Trung Đông và Viễn Đông qua
lãnh thổ của các nƣớc thuộc Liên Xô cũ, cách này giúp cho khoảng cách giữa
Châu Âu và Châu Á đƣợc rút ngắn lại, chỉ còn 13.000 km thay vì phải qua
kênh đào Suez mất đến 21.000 km. 19
+ Chuyên chở hàng hóa giữa Châu Âu và Viễn Đông qua lãnh thổ của Hoa
Kỳ, hàng đƣợc chở từ Châu Âu bằng đƣờng biển đến các cảng phía đông
nƣớc Mỹ, sau đó lại tiếp tục đƣợc vận chuyển bằng đƣờng biển đến các vùng
Đông Nam Á và Nhật Bản…
Vận tải đa phƣơng thức mang lại rất nhiều lợi ích cho các bên liên quan đến
giao nhận vận tải gồm cả ngƣời vận tải, chủ hàng, ngƣời giao nhận nhƣ giúp

b) Trƣờng hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi thì đƣợc thành lập công ty liên
doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không quá 51%; hạn
chế này chấm dứt vào năm 2014;
c) Trƣờng hợp kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải thì đƣợc thành lập công ty
liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không quá 51%,
đƣợc thành lập công ty liên doanh không hạn chế tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài kể từ năm 2014;
d) Trƣờng hợp kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác thì đƣợc thành lập công ty liên
doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không quá 49%; hạn
chế này là 51% kể từ năm 2010 và chấm dứt hạn chế vào năm 2014.
* Điều kiện kinh doanh đối với thƣơng nhân kinh doanh các dịch vụ lô-
gi-stíc liên quan đến vận tải
Thƣơng nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc liên quan đến vận tải theo quy
định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1. Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam.
2. Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật
Việt Nam.
3. Thƣơng nhân nƣớc ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc ngoài việc đáp ứng
các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2 Điều này chỉ đƣợc kinh doanh các
dịch vụ lô-gi-stíc khi tuân theo những điều kiện cụ thể sau đây:
a) Trƣờng hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải thì chỉ đƣợc thành lập
công ty liên doanh vận hành đội tàu từ năm 2009, trong đó tỷ lệ góp vốn của 21
nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không quá 49%; đƣợc thành lập liên doanh cung cấp
dịch vụ vận tải biển quốc tế trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài
không quá 51%, hạn chế này chấm dứt vào năm 2012;
b) Trƣờng hợp kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ nội địa thì chỉ đƣợc thành lập
công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status