TRNG I HC NGOI THNG
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
CHUYấN NGNH KINH T I NGOI
KHO LUN TT NGHIP
ti:
NGI GIAO NHN V VAI TRề CA NGI GIAO NHN
TRONG HOT NG VN TI V THNG MI QUC T
H v tờn sinh viờn
: Trần Thị ánh Tuyết
Lp
: Anh 16
Khoỏ
: 44 D
Giỏo viờn hng dn
: ThS. Phạm Thanh Hà
H Ni, thỏng 5 nm 2009
Mục lục
Lời nói đầu ..................................................................................................... 1
1. Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (Fédération Internationale
des Associations de Transitaires et Assimilés – FIATA)........................ 22
2. Tổ chức Hải quan thế giới – WCO ..................................................... 23
3. Liên đoàn các Hiệp hội giao nhận các nƣớc ASEAN (AFFA)............ 23
4. Hiệp hội giao nhận kho vận Việt nam – VIFFAS ............................... 24
4.1. Khái quát chung .......................................................................... 24
4.2. Mục tiêu hoạt động ...................................................................... 24
4.3. Hội viên của hiệp hội................................................................... 25
Chƣơng II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƢỜI GIAO NHẬN .... 27
I. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận trên thế giới ........................ 27
1. Sơ lƣợc về lịch sử hình thành và phát triển của ngƣời giao nhận trên
thế giới .................................................................................................. 27
2. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận trên thế giới .................... 28
II. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận tại Việt Nam ...................... 34
1. Vài nét về các giai đoạn phát triển của ngƣời giao nhận Việt Nam .... 34
1.1. Giai đoạn trước đổi mới (Trước năm 1986)................................. 34
1.2. Giai đoạn sau đổi mới (Sau năm 1986) ....................................... 35
2. Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận tại Việt Nam ................... 37
2.1 Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao nhận tại
Việt Nam ............................................................................................ 37
2.2. Chất lượng dịch vụ của người giao nhận Việt Nam ..................... 51
2.3. Các thị trường chính của người giao nhận Việt nam ................... 54
2.4. Các mặt hàng xuất nhập khẩu chính .......................................... 55
3. Đánh giá hoạt động của ngƣời giao nhận tại Việt Nam ...................... 56
3.1. Những thuận lợi........................................................................... 56
3.2. Những thành tựu đã đạt được ...................................................... 59
3.3. Những khó khăn, hạn chế ............................................................ 61
Chƣơng III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ, HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGƢỜI GIAO NHẬN VIỆT NAM ................... 73
I. Xu hƣớng phát triển của ngƣời giao nhận .............................................. 73
Phụ lục
Lời nói đầu
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế, thƣơng mại quốc tế và xu hƣớng toàn cầu
hóa, việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nƣớc diễn ra ngày càng sôi nổi.
Sau khi ngƣời mua và ngƣời bán tiến hành ký kết hợp đồng sẽ diễn ra quá
trình trao đổi hàng hóa, tức là có sự di chuyển hàng hóa từ tay ngƣời bán đến
tay ngƣời mua. Ngƣời giao nhận sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo cho quá trình
vận chuyển đó diễn ra suôn sẻ, hàng hóa đến tay ngƣời mua một cách an toàn,
đúng thời gian, địa điểm. Từ chỗ chỉ đảm nhận một vài công việc đơn giản
nhƣ xếp dỡ, lƣu kho hàng hóa, làm thủ tục giấy tờ, lo liệu vận tải nội địa,
thanh toán tiền hàng… theo sự phát triển của thời gian, do đòi hỏi của thực tế
mà vai trò của ngƣời giao nhận ngày càng đƣợc nâng lên, họ đã đứng ra cung
cấp dịch vụ trọn gói toàn bộ quá trình vận tải và phân phối hàng hóa, trở
thành những ngƣời chuyên chở chính. Hơn thế nữa, ngày nay ngƣời giao nhận
đang có xu hƣớng trở thành những nhà cung cấp dịch vụ logistics, một bƣớc
phát triển cao hơn của dịch vụ giao nhận.
Tại Việt Nam mặc dù dịch vụ giao nhận mới chỉ thực sự phát triển từ hơn
10 năm trở lại đây, tuy nhiên đã đạt đƣợc những bƣớc tiến vƣợt bậc. Việc mở
cửa nền kinh tế kéo theo sự phát triển của các hoạt động thƣơng mại, giao lƣu
buôn bán với các nƣớc là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của ngành giao
nhận nƣớc ta. Ngƣời giao nhận Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ cả về số
lƣợng lẫn chất lƣợng, phạm vi cung cấp sản phẩm dịch vụ cũng không ngừng
đƣợc gia tăng, kinh doanh dịch vụ giao nhận đã trở thành một lĩnh vực giữ vị
trí quan trọng trong nền kinh tế nƣớc ta.
Tuy nhiên, do những đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam nói chung và
ngành giao nhận nói riêng mà ngƣời giao nhận nƣớc ta đang gặp phải những
khó khăn thử thách rất lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp trƣớc mắt cũng
2
Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ giao nhận là một đề tài có nội dung rất
rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế, tuy nhiên
khóa luận không đi vào một lĩnh vực cụ thể nào của hoạt động giao nhận nhƣ
giao nhận bằng đƣờng biển, đƣờng sông, đƣờng hàng không, hoạt động xếp
dỡ, kho bãi, làm thủ tục hải quan… mà ngƣời viết tập trung nghiên cứu hoạt
động của ngƣời giao nhận và vai trò của họ nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
-
Ngƣời viết nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp phân tích, thống kê, tổng
hợp.
-
Thực hiện phỏng vấn, trao đổi nhằm tìm ra những bất cập, khó khăn của
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận.
-
Nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát, tìm hiểu thêm thực tiễn.
6. Nội dung nghiên cứu
Nội dung của khóa luận đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng I: Lý luận chung về ngƣời giao nhận và vai trò của ngƣời giao
nhận trong hoạt động vận tải và thƣơng mại quốc tế
Chƣơng II: Thực trạng hoạt động của ngƣời giao nhận
gửi hàng (ngƣời gửi hàng) đến nơi nhận hàng (ngƣời nhận hàng).
1.2. Định nghĩa về người giao nhận
Theo khái niệm của Liên đoàn các hiệp hội giao nhận (FIATA): “Ngƣời
giao nhận (Forwarder, Freight forwarder hay Forwarding agent) là ngƣời thu
xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi
ích của ngƣời ủy thác mà bản thân họ không phải là ngƣời chuyên chở. Ngƣời
4
giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao
nhận nhƣ đảm bảo lƣu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa…”
Theo định nghĩa giao nhận vận tải do Ủy ban kinh tế, xã hội châu Á Thái
Bình Dƣơng ESCAP đƣa ra nhƣ sau: “Ngƣời giao nhận vận tải là đại lý ủy
thác thay mặt nhà xuất nhập khẩu thực hiện những nhiệm vụ từ đơn giản nhƣ
lƣu cƣớc, làm thủ tục thuế quan cho đến làm trọn gói các dịch vụ của toàn bộ
quá trình vận tải và phân phối hàng”.
Theo luật thƣơng mại Việt Nam đƣợc Quốc Hội khóa IX thông qua tại kỳ
họp thứ 11 ngày 10/05/1997 thì: “Ngƣời giao nhận là ngƣời làm dịch vụ giao
nhận, là các thƣơng nhân có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh dịch vụ giao
nhận hàng hóa. Ngƣời giao nhận có thể là chủ hàng, chủ tàu, các công ty giao
nhận hoặc bất kỳ thƣơng nhân nào khác”.
2. Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
2.1. Các yếu tố cấu thành dịch vụ giao nhận
Dịch vụ giao nhận đƣợc cấu thành bởi ba yếu tố: hàng hóa, cơ sở vật chất
và nguồn nhân lực.
+ Yếu tố hàng hóa: là những hàng hóa có nhu cầu cần chuyên chở.
+ Yếu tố cơ sở vật chất: đội tàu biển quốc tế, đội tàu thủy nội địa, các hãng
hàng không trong nƣớc và quốc tế, hệ thống cảng biển, hệ thống sân bay, hệ
thống đƣờng bộ, đƣờng sắt, hệ thống kho bãi…
- Giao nhận tổng hợp: là hoạt động giao nhận không chỉ bao gồm việc gửi
hàng đi, nhận hàng đến mà còn cả các hoạt động khác nhƣ xếp dỡ, bảo quản
hàng hóa, vận tải, hoạt động kho hàng…
* Căn cứ vào tính chất của giao nhận
- Giao nhận riêng: là hoạt động giao nhận do ngƣời xuất nhập khẩu tự tổ
chức thực hiện chứ không sử dụng dịch vụ của ngƣời giao nhận.
- Giao nhận chuyên nghiệp: là hoạt động giao nhận do các tổ chức, công ty
chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận tiến hành.
6
Còn theo Nghị định của Chính phủ số 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9
năm 2007, dịch vụ giao nhận (đã đƣợc đổi tên thành dịch vụ logistics theo
luật thƣơng mại năm 2005) đƣợc phân loại nhƣ sau:
* Các dịch vụ lô-gi-stíc chủ yếu, bao gồm:
a) Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
b) Dịch vụ kho bãi và lƣu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh
kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị;
c) Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan
và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa;
d) Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lƣu kho và quản lý
thông tin liên quan đến vận chuyển và lƣu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi
lô-gi-stíc; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn
kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho
thuê và thuê mua container;
* Các dịch vụ 1ô-gi-stíc liên quan đến vận tải, bao gồm:
a) Dịch vụ vận tải hàng hải;
b) Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
c) Dịch vụ vận tải hàng không;
gửi hàng đến nơi nhận hàng nên nghiệp vụ này bao gồm nhiều công việc khác
nhau, cụ thể là:
+ Chuẩn bị hàng hóa để chuyên chở
+ Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga, cảng…
+ Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
+ Làm tƣ vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
+ Ký kết hợp đồng vận tải với ngƣời chuyên chở, thuê tàu, lƣu cƣớc
+ Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
+ Làm thủ tục Hải quan, Kiểm nghiệm, Kiểm dịch
+ Mua bảo hiểm cho hàng hóa
+ Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng
+ Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
8
+ Nhận hàng từ chủ hàng, giao cho ngƣời chuyên chở và giao cho ngƣời
giao nhận
+ Thu xếp chuyển tải hàng hóa
+ Nhận hàng từ ngƣời chuyên chở và giao cho ngƣời nhận
+ Gom hàng, lựa chọn tuyến đƣờng vận tải, phƣơng thức vận tải và ngƣời
chuyên chở thích hợp
+ Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
+ Lƣu kho, bảo quản hàng hóa
+ Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của
hàng hóa
+ Thanh toán cƣớc phí, chi phí xếp dỡ, chi phí lƣu kho, lƣu bãi…
+ Thông báo tình hình đi và đến của các phƣơng tiện vận tải
+ Thông báo tổn thất với ngƣời chuyên chở
+ Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thƣờng
hoạt động liên quan đến các giai đoạn của quá trình sản xuất trong một chuỗi
cung ứng.
-
Tuyến phân phối sản phẩm vật chất (Physical Distribution) bao gồm
hàng loạt các hoạt động liên quan đến dòng vận động của hàng hóa từ điểm
sản xuất đến điểm bán hàng và tiêu dùng.
Các hoạt động cơ bản trong chuỗi hoạt động logistics bao gồm: Mua sắm
vật tƣ, lƣu kho và dự trữ, vận tải và giao nhận, kho bãi và phân phối, hệ thống
thông tin và dịch vụ khách hàng. Trong tất cả các yếu tố cấu thành chuỗi
logistics thì vận tải giao nhận là một trong những khâu quan trọng nhất, có
ảnh hƣởng lớn tới chất lƣợng dịch vụ và chi phí logistics. Vận tải giao nhận
tốt sẽ góp phần đảm bảo cung ứng hàng hóa một cách nhanh chóng, kịp thời,
ổn định, rút ngắn thời gian giao hàng cho khách, nâng cao trình độ dịch vụ.
Không những thế, vận tải giao nhận tốt còn cho phép doanh nghiệp giảm đến
mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lƣu kho, tồn đọng sản phẩm và nhờ đó
giảm chi phí logistics nói chung. Thông thƣờng, chi phí vận tải giao nhận có
thể chiếm tới hơn 1/3 tổng chi phí logistics.
Theo luật thƣơng mại mới đƣợc Quốc Hội nƣớc CHXHCN Việt Nam khóa
XI tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, dịch vụ giao nhận
đƣợc đổi tên thành dịch vụ Logistics và đƣợc định nghĩa là: “Hoạt động
10
thƣơng mại, theo đó, thƣơng nhân, tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công
việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan,
và các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã
hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa
trong thƣơng mại, tạo nên quá trình vận chuyển hàng mang tính chuyên môn
hóa cao. Nhƣ vậy, việc giảm giá bán đƣợc một phần là nhờ giảm chi phí lƣu
thông qua hoạt động giao nhận. Ngƣời giao nhận chuyên cung cấp dịch vụ
vận tải, do họ đã có sẵn phƣơng tiện vận tải chuyên nghiệp, kinh doanh trên
những tuyến đƣờng cố định, nên khách hàng sử dụng dịch vụ này không phải
đầu tƣ phƣơng tiện vận tải đồng thời đƣợc hƣởng mức cƣớc thấp.
Bên cạnh việc giá bán hàng hóa giảm nhờ giảm chi phí lƣu thông, ngƣời
giao nhận với trình độ nghiệp vụ cũng nhƣ cơ sở hạ tầng của mình còn giúp
cho hàng hóa đƣợc luân chuyển nhanh, an toàn, đảm bảo chất lƣợng, đáp ứng
tốt nhu cầu của khách hàng, nhờ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng
hóa trên thị trƣờng. Việc phát triển dịch vụ giao nhận giúp các doanh nghiệp
không còn phải tự lo các loại giấy tờ, thủ tục, thay vào đó các công việc này
đƣợc giao cho các nhà giao nhận chuyên nghiệp với những kỹ năng đƣợc đào
tạo bài bản, cùng hệ thống các mối quan hệ rộng rãi, giúp cho việc thực hiện
đƣợc diễn ra suôn sẻ, nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
1.2. Góp phần mở rộng thị trường
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin cho phép kết hợp
các quá trình sản xuất, lƣu kho hàng hoá, tiêu thụ với hoạt động vận tải một
cách hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn đồng thời phức tạp hơn. Nó cũng cho
phép ngƣời vận tải nâng cao chất lƣợng dịch vụ đối với ngƣời gửi hàng. Phát
triển các dịch vụ truyền thống ở mức độ càng cao, ngƣời vận tải càng có khả
năng mở rộng thị trƣờng. Trƣớc đây, hàng hoá thƣờng đi từ nƣớc ngƣời bán
đến nƣớc ngƣời mua thƣờng dƣới hình thức hàng lẻ, phải qua tay nhiều ngƣời
vận tải và nhiều phƣơng thức vận tải khác nhau. Do vậy xác suất xảy ra rủi ro,
mất mát đối với hàng hoá thƣờng rất lớn, ngƣời gửi hàng phải ký nhiều hợp
đồng vận tải riêng biệt với từng ngƣời vận tải thực sự, trách nhiệm của mỗi
12
hiện nay đã có nhiều công trình bến cảng, kho bãi chuyên dụng và các tuyến
đƣờng vận tải mới đƣợc ra đời.
Cùng với sự phát triển của hoạt động giao nhận vận tải, ngày nay có nhiều
loại hình bảo hiểm phục vụ cho hoạt động của ngƣời giao nhận đã ra đời nhƣ
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của ngƣời giao nhận, bảo hiểm phƣơng tiện vận
chuyển…Sự ra đời của các loại hình bảo hiểm này đã góp phần đa dạng hóa
các loại hình dịch vụ, phục vụ tốt hơn cho hoạt động giao nhận vận tải.
Một vai trò khác không thể không nhắc tới đó là việc ngành giao nhận vận
tải đã mang lại vô số việc làm cho ngƣời lao động. Đó không chỉ là các công
việc chuyên môn liên quan đến hoạt động giao nhận nhƣ làm chứng từ, khai
báo hải quan… mà còn tạo ra hàng loạt các công việc khác nhƣ chở hàng, bốc
xếp, dán nhãn, kẻ ký mã hiệu… Đặc biệt sự phát triển của vận tải đa phƣơng
thức đòi hỏi phải ứng dụng các công nghệ mới, phƣơng thức vận tải mới, đi
kèm với đó là yêu cầu phải ứng dụng những kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cũng
nhƣ sự xuất hiện của nhiều ngành nghề mới. Điều này đòi hỏi phải có một đội
ngũ công nhân viên, chuyên gia, cán bộ nghiệp vụ thành thạo trong việc vận
hành, sửa chữa, bảo quản, gia cố các máy móc, thiết bị, những ngƣời hiểu biết
về các nghiệp vụ giao nhận, lƣu kho, vận chuyển container. Hiện nay ở nƣớc
ta cũng đã xuất hiện rất nhiều trung tâm gom hàng, giao nhận, phát hàng,
hoàn trả vỏ container, cùng các hệ thống kho bãi, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ
chuyên lo giải quyết các thủ tục, giấy tờ, chứng từ theo tiêu chuẩn quốc tế.
Tóm lại, nhờ có sự ra đời, phát triển của ngƣời giao nhận và các dịch vụ
mà họ cung cấp mà các thủ tục chứng từ có liên quan đến quá trình giao nhận
vận tải đƣợc đơn giản hóa, thời gian vận chuyển đƣợc rút ngắn lại, khối lƣợng
hàng hóa đƣợc trao đổi trong thƣơng mại và vận tải quốc tế ngày một tăng
lên. Sự phát triển của hoạt động giao nhận đã tạo điều kiện ứng dụng những
thành tựu khoa học kỹ thuật mới vào hoạt động sản xuất, lƣu thông và phân
phối, phát huy đƣợc những lợi ích to lớn của hoạt động gom hàng, vận tải
giao nhận nhận ủy thác từ chủ hàng hoặc từ ngƣời chuyên chở để thực hiện
các công việc khác nhau nhƣ: nhận hàng, giao hàng, lập chứng từ, làm thủ tục
15
hải quan, lƣu kho…trên cơ sở hợp đồng ủy thác. Hoạt động của ngƣời giao
nhận giúp cho việc kinh doanh của ngƣời chuyên chở tốt hơn, giúp họ am
hiểu, gần gũi khách hàng hơn. Nếu ngƣời chuyên chở tổ chức đƣợc nhiều đại
lý ở các khu vực thị trƣờng khác nhau thì sẽ dễ dàng tìm đƣợc các khách hàng
mới hơn. Ngƣời giao nhận còn có thể làm các dịch vụ mà hãng chuyên chở ủy
thác. Đối với ngƣời gửi hàng thì các đại lý này giúp họ có thể nhanh chóng
tiếp cận đƣợc với ngƣời chuyên chở.
2.3. Người gom hàng (Cargo Consolidator)
Gom hàng (Condolidation, Groupage) là việc tập hợp những lô hàng lẻ từ
nhiều ngƣời gửi ở cùng một nơi đi thành một lô hàng nguyên container để gửi
và giao cho một hoặc nhiều ngƣời nhận ở cùng một nơi đến. Hàng lẻ (LCL) là
những lô hàng nhỏ không đủ một container hoặc những lô hàng lớn nhƣng có
nhiều ngƣời gửi, nhiều ngƣời nhận. Ở Châu Âu, từ rất xa xƣa ngƣời giao nhận
đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho vận tải đƣờng sắt. Ngày nay,
với sự phát triển mạnh mẽ của vận tải hàng hóa bằng container, dịch vụ gom
hàng lại càng không thể thiếu nhằm biến những lô hàng lẻ (LCL) thành hàng
nguyên container (FCL) nhằm tận dụng sức chứa của container và giảm cƣớc
phí vận tải.
Khi thực hiện việc gom hàng, ngƣời giao nhận đóng vai trò là ngƣời chuyên
chở đối với những ngƣời gửi hàng, và đóng vai trò là ngƣời gửi hàng với
những ngƣời “chuyên chở thực sự‟‟. Những ngƣời gửi hàng lẻ, nhận hàng lẻ
không trực tiếp tiếp xúc với “ngƣời chuyên chở thực sự‟‟.
2.4. Người chuyên chở (Carrier), người kinh doanh cước vận chuyển
Ngày nay việc ngƣời giao nhận đứng ra đảm nhận vai trò của ngƣời chuyên