¬
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ MẠO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI
VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thạch Hoàn
Lớp : Anh 9
Khoá : 43C – KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Phạm Thị Mai Khanh
Hà Nội – 06/2008
¬
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐTMH: Đầu tƣ mạo hiểm
R&D: Research and development – Nghiên cứu và phát triển
ĐTNN: Đầu tƣ nƣớc ngoài
KHCN: Khoa học công nghệ
KCNC: Khu công nghệ cao
CNC: Công nghệ cao
CNTT: Công nghệ thông tin
ROI: Return on investment – Suất sinh lời của vốn đầu tƣ
LBI: Leverage buy in – Mua lại nhờ vốn vay
IPO: Initial public offering – Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng
TTCK: Thị trƣờng chứng khoán
CTCP: Công ty cổ phần
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế
WB: Ngân hàng thế giới
¬
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG MỘT: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƢ MẠO HIỂM 3
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT, VÀ CÁC YẾU TỐ CẤU
THÀNH ĐTMH 3
1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT CỦA ĐTMH 3
2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH ĐTMH 8
4.1. KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở SINGAPORE 61
4.2 NHẬN XÉT VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ SINGAPORE ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG ĐTMH 64
CHƢƠNG BA: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý CHÍNH
SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 68
I. THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT
NAM 68
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
ĐTMH Ở VIỆT NAM 68
2. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM
69
2.1 GIAI ĐOẠN 1990-2002 70
2.2. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 73
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ CỦA CÁC QUỸ ĐTMH Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 75
3. THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 80
3.1 THỜI CƠ 80
3.2 THÁCH THỨC 81
II. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH
ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 84
1. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT
ĐỘNG ĐTMH Ở VIỆT NAM 84
1.1. CŨNG NHƢ CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ KHÁC, ĐTMH CHỈ
CÓ THỂ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI NỀN
¬
KINH TẾ KHI ĐƢỢC ĐIỀU TIẾT THEO CƠ CHẾ THỊ
TRƢỜNG. 84
1.2. LĨNH VỰC MÀ CÁC QUỸ ĐTMH HƢỚNG ĐẾN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐẦU LÀ CÁC LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ CAO 85
nghiệp và đã tạo ra hàng triệu việc làm, góp phần làm giảm áp lực thất nghiệp cho
nền kinh tế. Đồng thời hoạt động ĐTMH đã tạo ra một loạt các công ty mới, nhất là
các công ty công nghệ cao, những công ty này đã có những kế hoạch phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) rất lớn và thành công. Điều này đã thúc đẩy thị
trƣờng tài chính nói chung, và thị trƣờng chứng khoán (TTCK) nói riêng hoạt động
có hiệu quả và năng động hơn. Đối với các quốc gia ở châu Á, ĐTMH tuy ra đời
chƣa lâu nhƣng đang ngày càng đƣợc quan tâm hơn bởi các nhà đầu tƣ cũng nhƣ
chính phủ các nƣớc. Các quốc gia trong khu vực nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ,
Singapore là những quốc gia đã thu hút một lƣợng lớn vốn ĐTMH của các nhà
đầu tƣ trong và ngoài nƣớc. Đối với Việt Nam, hoạt động ĐTMH đã bƣớc đầu đƣợc
hình thành với một số quỹ ĐTMH đã đi vào hoạt động.
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO) để
đứng vững trong sự cạnh tranh ngày càng gia tăng, bên cạnh việc duy trì sự ổn định
và bền vững về chính trị, cần có một nền kinh tế phát triển với nhiều ngành công
nghiệp mũi nhọn có hàm lƣợng khoa học kỹ thuật cao. Tuy nhiên, để phát triển các
ngành này đòi hỏi một lƣợng vốn lớn do thời gian nghiên cứu và phát triển các sản
phẩm kéo dài cũng nhƣ rủi ro thất bại cao nên việc xây dựng, hình thành và thúc
đẩy hoạt động ĐTMH phát triển là cần thiết. Nhận thức đƣợc vấn đề này, tác giả đã
chọn đề tài: “Hoạt động đầu tƣ mạo hiểm trên thế giới và một số bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp cho mình.
2
Khóa luận nhằm nghiên cứu sự hình thành, phát triển hoạt động ĐTMH trên
thế giới cũng nhƣ đặc điểm, vai trò của nó đối với nền kinh tế một số nƣớc trên thế
giới từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng thành công và phù hợp với tình
hình thực tế Việt Nam hiện nay.
Khóa luận sử dụng phƣơng pháp phân tích và tổng hợp từ các số liệu trong
nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài kết hợp với phƣơng pháp thống kê. Các số liệu sử dụng
trong khóa luận chủ yếu tổng hợp từ các nghiên cứu đã đƣợc thực hiện về các vấn
đề liên quan mà không qua khảo sát và điều tra riêng.
Xét về mặt ngữ nghĩa học: Trong tiếng Anh, vốn ĐTMH là “Venture
capital”. Thuật ngữ venture có nghĩa tổng quát là một hành vi dám chấp nhận rủi ro,
nơi có nguy cơ thất bại cao. Ngoài ra, trên thế giới “venture” còn đƣợc hiểu là một
trong những loại hình đầu tƣ dƣới hình thức đầu tƣ trực tiếp. Tuy nhiên, sở dĩ chúng
ta cần phải gọi tên loại hình đầu tƣ này là “đầu tƣ mạo hiểm” chủ yếu là để phân
biệt với các hoạt động đầu tƣ thông thƣờng, và nhấn mạnh tới tính rủi ro cao hơn
mà các nhà đầu tƣ phải chấp nhận khi tiến hành các dự án đầu tƣ mạo hiểm của
mình.
Xét về mặt kinh tế học: ĐTMH là một loại hình đầu tƣ trực tiếp, đây là một
thuật ngữ chung để miêu tả việc đầu tƣ cho các dự án công nghệ hay khoa học đang
trong tình trạng khát vốn. Trên thế giới, các nhà ĐTMH có khuynh hƣớng đầu tƣ
vào các ngành kinh doanh đặc thù, doanh nghiệp đƣợc nhận nguồn vốn đầu tƣ này
chủ yếu là các công ty vừa và nhỏ, mới thành lập hoặc trong giai đoạn khởi sự còn
thiếu kinh nghiệm quản lý, có ý tƣởng hay kế hoạch kinh doanh tốt. Nhà đầu tƣ sẽ
nhận đƣợc lợi nhuận hay cổ phần (thƣờng là cổ phần) khi công ty hoạt động kinh
doanh tốt. Ngƣợc lại nếu công ty phá sản hay thất bại, nhà đầu tƣ sẽ bị mất phần
vốn đã đầu tƣ vào công ty đó.
Nhƣ đã trình bày ở trên, ĐTMH ở mỗi khu vực lại có cách hiểu khác nhau:
4
Tại Mỹ, theo hiệp hội ĐTMH Mỹ (NVCA - National venture capital
association)
1
ĐTMH là đầu tƣ vốn vào doanh nghiệp mới khởi nghiệp, doanh
nghiệp trẻ, chƣa niêm yết trên TTCK, có khả năng tăng trƣởng nhanh, có tính sáng
tạo và dựa vào công nghệ. Theo quan điểm này, hoạt động ĐTMH chủ yếu đầu tƣ
vào các lĩnh vực có những ý tƣởng sáng tạo mới và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực công nghệ cao
2
. Đây đƣợc coi là cách hiểu nghĩa hẹp và đƣợc nhiều ngƣời chấp
3
MBOs: Management buy out - Mua laị từ đối tác bên ngoài
MBIs: Management buy in - Mua lại trong nội bộ 5
chỉ bao gồm hoạt động đầu tƣ vào các lĩnh vực công nghệ cao mà còn bao gồm cả
mọi hoạt động khác trong nền kinh tế. Dƣới góc độ đầu tƣ, ĐTMH là quá trình đƣa
vốn vào lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ và sản phẩm tiềm ẩn nhiều rủi ro
nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình thƣơng mại hoá để có đƣợc lợi nhuận cao.
Nếu thể hiện cả quá trình thì ĐTMH là một phƣơng thức đầu tƣ trong đó vốn đƣợc
cung cấp vào công ty mới khởi nghiệp, chƣa niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán,
công ty phải đối mặt với nhiều rủi ro, sau đó nuôi dƣỡng doanh nghiệp phát triển
nhanh chóng. Sau vài năm, thông qua niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán, hợp
nhất và chuyển nhƣợng cổ phần để thu đƣợc lợi nhuận lớn nếu công ty phát triển,
hoặc sẽ mất hết nếu công ty thua lỗ.
Từ cách hiểu tổng quát trên có thể thấy ĐTMH có bốn đặc điểm nhƣ sau:
(1) ĐTMH thực chất là một dạng kinh doanh vốn. Các nhà ĐTMH (venture
capitalists) cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp mới khởi sự, thƣờng là
trong lĩnh vực công nghệ cao, có tính đổi mới mạnh mẽ, và có khả năng tăng trƣởng
cao. Tỉ lệ thất bại của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu rất cao, tới 80%-90%, do
đó mức độ thành công khi đầu tƣ vào các doanh nghiệp có tỉ lệ tƣơng ứng là10%-
20%. Tất nhiên, mức độ mạo hiểm càng cao thì khi thành công sẽ mang lại lợi
nhuận càng lớn cho nhà đầu tƣ. Do vậy, ĐTMH là một hoạt động mang tính rủi ro
cao nhƣng hàm chứa tiềm năng siêu lợi nhuận trong đó.
Khác với ngân hàng và các quỹ tƣơng hỗ, các nhà cung cấp vốn mạo hiểm
không thu hồi vốn và lãi của công ty tiếp nhận vốn đầu tƣ mà thoát vốn bằng cách
bán cổ phần họ nắm giữ trong công ty đầu tƣ khi công ty niêm yết trên TTCK, hoặc
bán lại hay sáp nhập công ty.
(2) ĐTMH là một khoản đầu tƣ lâu dài, mang tình chất chu kỳ, hay mang
Các yếu tố
Điểm
Xếp hạng
Điểm
Xếp hạng
Năng lực của đội ngũ quản lý
3.4
1
4.1
1
Tiềm năng tăng trƣởng của công ty
2.2
2
3.3
3
Suất sinh lời của vốn đầu tƣ ROI
2
3
3.5
2
Quy mô thị trƣờng
2
3
3.3
3
Sản phẩm, dịch vụ, công nghệ của công ty
1.2
5
3
5
Thu lãi theo
lãi suất
Thời gian
3-10 năm
ngắn và dài
hạn
Qui định về thế chấp
Không
Có
Quyền sở hữu của chủ đầu tư
Có, và gắn liền với sự thành
công hay thất bại của công ty
Không
Cách thu hồi vốn
Ba cách: Bán cổ phần trên thị
trƣờng chứng khoán, bán cho bên
thứ ba, bán cho chủ doanh nghiệp
Thu hồi vốn
vay
Dịch vụ gia tăng trong quá trình
đầu tư
Cung cấp những dịch vụ nhƣ: lập
kế hoạch tài chính và chiến lƣợc
Không có
8
kinh doanh; tuyển những vị trí
quản lý chủ chốt; vay từ ngân hàng
và các thể chế tài chính khác; tiếp
cận với thị trƣờng mới và công
9
và thƣờng là có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản
phẩm hoặc tăng trƣởng.
Theo Paul Gompers và Josh Lerner
5
: Vốn mạo hiểm là những bể vốn độc
lập, đƣợc quản lý một cách chuyên nghiệp, dành cho một mục tiêu riêng biệt là thực
hiện những khoản đầu tƣ vốn chủ sở hữu trong những công ty tăng trƣởng cao đƣợc
tƣ nhân nắm giữ.
Hiên nay, có hai cách hiểu về vốn mạo hiểm đƣợc sử dụng rộng rãi thể hiện
qua định nghĩa rộng và định nghĩa hẹp về vốn ĐTMH.
Định nghĩa rộng: Vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho các công ty tƣ
nhân dƣới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tƣ gần giống nhƣ vốn cổ phần
có thời hạn trung bình (3-5 năm).Mục tiêu đầu tƣ là tìm kiếm đƣợc khoản thu nhập
vốn cao hơn mức trung bình. Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi khoản đầu
tƣ đƣợc bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc, nhƣ hiện tƣợng phổ biến
hơn ở các nƣớc châu Á là bán cho công chúng. Bên cạnh việc cung cấp vốn, các
chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn tƣ vấn, ở cấp chiến lƣợc, hƣớng dẫn các công
ty nhận vốn đầu tƣ bƣớc sang giai đoạn tăng trƣởng tiếp theo và chuẩn bị sẵn sàng
để công ty đƣợc chuyển giao cho các cổ đông khác. Những tƣ vấn này là một đặc
điểm quan trọng và đặc thù của vốn mạo hiểm. Đặc biệt, khi các nhà đầu tƣ có một
vị trí trong hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tƣ, với các kinh nghiệm thu
đƣợc từ các công ty khác, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm có thể tác động tới
sự phát triển của các công ty nhận vốn đầu tƣ. Các công ty quản lý vốn mạo hiểm
khác nhau đặt ra các trọng tâm khác nhau về mức độ tham gia. Mức độ tham gia có
thể là tối thiểu, thƣờng gắn liền với một số cổ phần nhỏ, hoặc tham gia công việc
thƣờng nhật, nhƣ đóng vai trò Chủ tịch hội đồng quản trị, thƣờng gắn liền với việc
nắm giữ đa số cổ phần. Thuật ngữ vốn mạo hiểm trong định nghĩa này có thể đƣợc
sử dụng cùng nghĩa với thuật ngữ vốn cổ phần tƣ nhân (Private equity).
nghiệp) với tƣ cách nhƣ là một cổ đông. Sự can thiệp của chính phủ sẽ có những tác
động tích cực đến sự phát triển của thị trƣờng vốn ĐTMH và đến lƣợt nó thúc đẩy
sự ra đời của các doanh nghiệp khởi sự.
Cách thức huy động vốn tuỳ thuộc vào việc quỹ mạo hiểm đƣợc thành lập
theo hình thức tổ chức pháp lý nào, thông thƣờng là phát hành cổ phiếu, trái phiếu,
góp vốn liên doanh, vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, v.v
Quy mô vốn mạo hiểm tùy thuộc các quỹ. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm tổ
chức của nhiều quỹ ở Mỹ và các nƣớc Tây Âu, một quỹ mạo hiểm trung bình chỉ đủ
khả năng cung cấp vốn và tham gia quản lý danh mục đầu tƣ vào khoảng 15 – 20
11
doanh nghiệp với tổng mức vốn cấp trên một doanh nghiệp khoảng 2 – 3 triệu USD.
Nhƣ vậy, tính trung bình quy mô vốn hoạt động của một quỹ mạo hiểm tại Mỹ và
Tây Âu ƣớc tính khoảng 30 – 50 triệu USD. Quy mô của các quỹ mạo hiểm nhỏ chỉ
khoảng 10 triệu USD hoặc ít hơn, cũng có một số rất ít quỹ có vốn lớn, lên đến
hàng tỷ USD. Các quỹ mạo hiểm do nhà nƣớc thành lập thƣờng có số vốn rất lớn.
Nhƣ vậy các nguồn tài trợ cho quỹ ĐTMH rất đa dạng. Tính đa dạng cũng
nhƣ tỷ trọng của từng loại nguồn vốn của quỹ phụ thuộc vào sự phát triển của thị
trƣờng tài chính, sự phát triển của các định chế tài chính, sự phát triển của các
ngành công nghệ cao và sự quan tâm của nhà đầu tƣ tƣ nhân cũng nhƣ của chính
phủ đối với hoạt động của quỹ ĐTMH ở từng quốc gia.
2.1.2 Khái quát chung về quỹ ĐTMH
Khi nói đến ĐTMH, một khái niệm không thể không đƣợc đề cập đến đó là
quỹ ĐTMH. Vậy quỹ ĐTMH là gì, những đặc điểm, các mô hình hoạt động của quỹ
là nhƣ thế nào, và nó có vai trò gì đối với sự phát triển của ngành công nghiệp
ĐTMH ở Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới.
a. Khái niệm quỹ ĐTMH
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa quỹ ĐTMH khác nhau, nhƣng một trong
những định nghĩa phổ biến nhất coi quỹ ĐTMH là một tập hợp vốn nằm dƣới sự
quản lý chuyên nghiệp, đƣợc huy động vì mục đích duy nhất là thực hiện những
trung vào các công ty ở giai đoan hình thành ý tƣởng, thành lập, khởi sự và mở
rộng.
Một loại hình quỹ đầu tƣ quen thuộc, và hoạt động rất mạnh ở Việt Nam
trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của TTCK đó là quỹ đầu tƣ chứng
khoán. Về mặt kinh tế học quỹ đầu tƣ chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp
của ngƣời đầu tƣ ủy thác cho công ty quản lý quỹ, và đầu tƣ tối thiểu 60% giá trị tài
sản của quỹ vào chứng khoán.
Bảng 3: So sánh quỹ đầu tƣ mạo hiểm và quỹ đầu tƣ chứng khoán
Loại quỹ
Quỹ đầu tƣ mạo hiểm
Quỹ đầu tƣ chứng khoán
Cơ cấu huy động vốn
Kết thúc đóng
Kết thúc đóng hoặc mở
Hình thức đầu tƣ
Đầu tƣ trực tiếp (vốn cổ
phần – vốn góp).
Theo danh mục đầu tƣ (cổ
phiếu, trái phiếu đã niêm
13
yết)
Đối tƣợng đầu tƣ
Các dự án, doanh nghiệp
nhỏ, chƣa niêm yết, chủ
yếu trong lĩnh vực có
tiềm năng tăng trƣởng
nhanh nhƣ công nghệ cao
Các doanh nghiệp đã phát
hành chứng khoán ra công
ty đó phải đạt đƣợc sự phát triển ở mức độ nhất định sao cho cổ phiếu của chúng trở
nên có sức hấp dẫn. Điều này đòi hỏi một khoảng thời gian cần thiết cho sự tích luỹ
mở rộng, có thể kéo dài một vài năm, hoặc đến bảy hay mƣời năm.
Người đầu tư: Do các khoản đầu tƣ mà quỹ ĐTMH thực hiện vừa có tính
rủi ro cao vừa là những khoản đầu tƣ dài hạn nên không phải bất kỳ ai có một khoản
tiền tiết kiệm trong tay cũng có thể tham gia vào các quỹ này nhƣ trong trƣờng hợp
của quỹ tƣơng hỗ. Ngƣời đầu tƣ vào quỹ thƣờng là các định chế (nhà đầu tƣ có tổ
chức) nhƣ các quỹ hƣu trí, quỹ bảo trợ của các trƣờng đại học, công ty bảo hiểm,
công ty kinh doanh thông thƣờng hoặc một số ít những cá nhân giàu có. Đặc biệt,
các nhà đầu tƣ có tổ chức là đối tƣợng có vai trò quan trọng do họ có số vốn lớn, có
khả năng thực hiện sự đa dạng hoá và có thể chấp nhận đầu tƣ dài hạn.
c. Các cách hình thành, mô hình và chức năng của các quỹ ĐTMH
Các cách hình thành: Có hai cách hình thành quỹ ĐTMH.
- Thứ nhất, các công ty tự thành lập quỹ ĐTMH. Các công ty hay tập đoàn
có tiềm lực tài chính lớn sẽ tự lập ra một quỹ ĐTMH hoặc cùng hợp tác góp vốn
vào một quỹ, họ sẽ thuê hay tiến cử một ban quản lý quỹ chuyên nghiệp chịu trách
nhiệm quản lý quỹ đó. Quỹ này có thể là quỹ chuyên biệt hóa hoặc quỹ mang tính
chất mở rộng. Hiện nay, dạng quỹ này khá phổ biến trên thế giới đặc biệt là ở Mỹ
có thể kể ra một số tập đoàn đã thành lập hình thức quỹ này nhƣa tập đoàn Intel,
Microsoft, …
- Thứ hai, các tổ chức đầu tƣ có thể tiến hành góp vốn vào các công ty quản
lý vốn ĐTMH chuyên nghiệp (hình thức Limited partnership). Các công ty dạng
này gọi vốn từ các nhà đầu tƣ nhỏ lẻ hay các tổ chức đầu tƣ để tiến hành đầu tƣ vào
nhiều dự án có thời gian đầu tƣ vào mỗi dự án từ 3 – 7 năm. Và các công ty quản lý
quỹ thƣờng lập các quỹ riêng biệt chuyên vào các ngành khác nhau với những mục
tiêu đầu tƣ khác nhau, mỗi quỹ này thƣờng tồn tai từ 10 – 15 năm.
Các mô hình quỹ ĐTMH
- Mô hình quỹ hợp danh hữu hạn (Limited partnership): Mô hình quỹ mạo
hiểm phổ biến nhất hiện nay ở Mỹ và đƣợc nhiều nƣớc học tập là dạng tín thác đầu
tƣ (Investment trust) dƣới hình thức hợp danh hữu hạn (Limited partnership) theo
- Chức năng tài chính của quỹ ĐTMH:
16
Huy động vốn: Tùy thuộc vào hình thức tổ chức pháp lý, quỹ ĐTMH đƣợc
lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn mà pháp luật cho phép nhƣ phát hành
cổ phiếu, trái phiếu (nếu đƣợc tổ chức theo hình thức doanh nghiệp), chứng chỉ quỹ
đầu tƣ (nếu theo hình thức tín thác đầu tƣ), vay vốn các tổ chức tín dụng theo quy định.
Cấp vốn mạo hiểm dƣới các hình thức: Hợp đồng khoa học và công nghệ,
hình thức này cho phép giải phóng tối đa nguồn lực KHCN. Hay cấp vốn cổ phần –
vốn góp, hình thức này phổ biến nhất trong tổng số vốn hoạt động của quỹ ĐTMH.
Cho doanh nhân đối tác vay để mua lại doanh nghiệp: Các doanh nghiệp sau
quá trình dài đƣợc các quỹ ĐTMH tài trợ vốn đã hoạt động tốt, và đang trong giai
đoạn mở rộng, và phát triển. Họ đang nắm giữ vai trò kinh doanh nhƣng muốn dành
quyền kiểm soát doanh nghiệp để tự mình quản lý điều hành một các độc lập. Khi
đó, bản thân các quỹ có thể cho doanh nghiệp đối tác vay để mua lại phần sở hữu
của quỹ trong doanh nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, mức giá mà các quỹ đƣa ra
là không hề thấp, và các doanh nghiệp phải hết sức cân nhắc về vấn đề này.
- Nhóm chức năng phi tài chính:
Hỗ trợ công tác quản trị doanh nghiệp: Các quỹ ĐTMH giúp các doanh
nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh: tiếp thị, lập kế hoạch, bán hàng, sản
xuất … Ngoài ra còn giúp các doanh nghiệp tuyển mộ một đội ngũ quản lý chuyên
nghiệp, từ cấp độ tổng giám đốc cho đến trƣởng các bộ phận.
Tƣ vấn về pháp lý : Vì nhiều nhà quản lý chƣa thật sự am hiểu về pháp lý
nhƣ vấn đề sở hữu trí tuệ, bằng phát minh - sáng chế, các thỏa thuận li-xăng
(lisence), nhãn hiệu hàng hóa nên rất cần sự tƣ vấn của các chuyên gia từ quỹ, mà
không phải tốn thêm một khoản chi phí cho các công ty tƣ vấn pháp luật. Ngoài ra,
quỹ ĐTMH còn hỗ trợ cho việc phát hành cổ phiếu, tháo gỡ khó khăn trong việc xin
các thủ tục pháp lý với các doanh nghiệp mới thành lập, cũng nhƣ những tranh chấp
các doanh nghiệp gặp phải trong hợp đồng.
Tổ chức, thúc đẩy quan hệ cộng tác: khi phân tích vai trò của ĐTMH cho
phƣơng pháp này có rất nhiều nhƣợc điểm. Trên thực tế, một cá nhân khó có thể có
một lƣợng vốn lớn cũng nhƣ đƣợc trang bị những kỹ năng, kiến thức chuyên môn
và kinh nghiệm thực tiễn đủ để thu đƣợc thành công. Hơn nữa, đầu tƣ một mình có
nghĩ là phải gánh chịu toàn bộ rủi ro có khả năng sẽ xảy ra trong tƣơng lai.
Thứ hai, tổ chức đầu tƣ: Trong trƣờng hợp này, nhiều nhà đầu tƣ cùng góp
vốn với nhau để thực hiện đầu tƣ nhằm hƣớng tới mục tiêu chung. Ƣu điểm của
18
hình thức này thể hiện rõ nhất ở khả năng phân tán và chia sẻ rủi ro. Sự kết hợp này
có thể diễn ra dƣới nhiều dạng: hợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập công ty liên
doanh, thành lập quỹ ĐTMH, v.v đặc biệt là quỹ ĐTMH tuy xuất hiện sau song
càng ngày càng chứng minh đƣợc nhiều điểm nổi trội so với những phƣơng thức
đầu tƣ vốn mạo hiểm có tổ chức khác.
Các nhà quản lý vốn mạo hiểm: Họ là những ngƣời hành nghề đầu tƣ
mạo hiểm chuyên nghiệp, vừa có tri thức về công nghệ, vừa có tài năng quản trị, họ
đảm nhiệm chức năng huy động vốn từ các nhà đầu tƣ, tìm kiếm và đánh giá cơ hội
đầu tƣ, tiến hành đầu tƣ theo những chiến lƣợc nhất định để làm tăng giá trị cho
công ty nhận đầu tƣ, và cuối cùng là thực hiện thoát vốn để thu hồi vốn và lợi
nhuận, hoàn trả cho các nhà đầu tƣ.
Các doanh nhân khởi nghiệp: Họ là những kỹ sƣ, những nhà khoa học,
nhà nghiên cứu,v.v…đang muốn biến những ý tƣởng, phát minh khoa học của mình
thành sản phẩm thành công trên thƣơng trƣờng. Để nhận đƣợc những khoản vốn
ĐTMH, họ không chỉ cần có ý tƣởng có tính khả thi, mang lại tiềm năng lợi nhuận
lớn, mà còn phải tuân theo những quy định của các quỹ đầu tƣ cũng nhƣ phải thực
hiện những cam kết về phân chia lợi nhuận và chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp
với quản lý vốn mạo hiểm.
Tại các nƣớc có kênh lƣu thông vốn mạo hiểm, mối quan hệ giữa ba đối
tƣợng này đƣợc xử lý theo những mô hình tổ chức và hoạt động khác nhau. Một mô
hình thành công là mô hình đảm bảo đƣợc những lợi ích hài hoà của cả ba đối tƣợng
trên, nhờ đó đạt đƣợc ba mục tiêu là: (1) khuyến khích và duy trì nguồn ý tƣởng
đủ thành 5 giai đoạn
6
: tài trợ vốn mồi/ƣơm tạo, tài trợ khởi động, tài trợ giai đoạn
đầu, tài trợ mở rộng và tài trợ tăng tốc. Trong đó:
Tài trợ vốn mồi, ươm tạo (seed financing): Quỹ cấp vốn cho những
doanh nghiệp để phát triển ý tƣởng sáng tạo/phát minh sáng chế của mình, hoặc cấp
vốn để hỗ trợ phát triển sản phẩm. Vốn cấp ở giai đoạn này thƣờng không lớn.
Tài trợ khởi động (start-up financing): cấp vốn để phát triển sản phẩm
và hoạt động tiếp thị khởi đầu. Vốn này cấp cho những công ty mới đƣợc thành lập,
chƣa lần nào giới thiệu sản phẩm ra thị trƣờng. Những doanh nghiệp nhƣ vậy 6
Lawrence Rausch, 2002, tr8. Việc phân chia chỉ mang tính tƣơng đối và tuỳ thuộc vào quyết định của từng
quỹ. Phân chia càng nhỏ sẽ càng giảm mức độ rủi ro cho quỹ nhƣng trong nhiều trƣờng hợp có thể không
cần thiết. Có tài liệu chỉ chia thành 3 giai đoạn tài trợ trong đó gộp thành giai đoạn khởi động và giai đoạn
đầu làm một, giai đoạn mở rộng và giai đoạn tăng tốc làm một
20
thƣờng đã có bộ máy quản lý, có kế hoạch kinh doanh và đã có nghiên cứu thị
trƣờng.
Tài trợ giai đoạn đầu (First-stage financing): tài trợ cho công ty thiếu
vốn để sản xuất hàng hoá và tung ra thị trƣờng.
Tài trợ giai đoạn mở rộng sản xuất (expansion financing): Quỹ ĐTMH
tài trợ cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, mở rộng phạm vi thị trƣờng; hoặc phát
triển nâng cấp một sản phẩm và tài trợ cho công ty chuẩn bị niêm yết lần đầu trong
vòng 6 tháng đến 1 năm tới. Đồng thời Quỹ cũng giúp doanh nghiệp xây dựng cơ
cấu sở hữu hợp lý của doanh nghiệp. Giai đoạn này đã bắt đầu mang lại lợi nhuận tài
chính cho các bên, kể cả lợi ích về xây dựng năng lực công nghệ cao, cho nền kinh tế.
Giai đoạn tài trợ tăng tốc (later stage): là giai đoạn đƣa doanh nghiệp
ROI: Return on investment – Suất sinh lời của vốn đầu tƣ