TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG KÝ KẾT VÀ CƠ CHẾ ÁP DỤNG
HIỆP ĐỊNH TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
TẠI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Bùi Phƣơng Lan
Lớp : Anh 7
Khóa : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Đào Ngọc Tiến
lần tại Việt Nam 82
2.3.1. Kết quả đạt được 82
2.3.2. Hạn chế còn tồn tại 83
2.3.3. Nguyên nhân 85
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆC KÝ KẾT VÀ ÁP
DỤNG HIỆP ĐỊNH TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN TẠI VIỆT NAM 88
3.1. Xu hƣớng gia tăng ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần trên thế
giới 883.2. Định hƣớng cải cách hệ thống thuế của Việt Nam 91
3.2.1. Mục tiêu 91
3.2.2. Các quan điểm cải cách hệ thống thuế Việt Nam 92
3.3. Khuyến nghị đối với việc ký kết và áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần tại Việt Nam 94
3.3.1. Khuyến nghị đối với việc ký kết 94
3.3.2. Khuyến nghị đối với việc áp dụng 97
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHU LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1 – Sự khác nhau giữa hai mẫu Hiệp định OECD và UN và mối liên hệ với
mẫu Hiệp định của Việt Nam 28
Biểu đồ 1 - Phân chia các nƣớc ký kết theo khu vực 23
Biểu đồ 2: Số lƣợng các hiệp định đầu tƣ song phƣơng (BITs) và hiệp định tránh
Hiệp định nhằm không thu thuế trùng đối với thu nhập của nhà đầu tƣ ở các
quốc gia khác nhau, do đó góp phần xóa bỏ các rào cản về thƣơng mại, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, đầu tƣ, trao đổi thƣơng mại giữa hai bên
tham gia ký kết. Loại thuế đƣợc áp dụng trong Hiệp định là thuế trực thu, nhƣ: thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế đối với tài sản. Nội dung của
hiệp định thuế còn đề cập việc xác định quyền đánh thuế đƣợc phân chia giữa hai
nƣớc nhƣ thế nào hoặc quyền đánh thuế đƣợc dành hoàn toàn cho một trong hai
nƣớc (nếu áp dụng biên pháp miễn thuế). Khi quyền đánh thuế đƣợc phân định
trong hai nƣớc thì căn cứ vào nội luật của nƣớc có quyền đánh thuế để xác định chế
độ đánh thuế trên thu nhập đó. 2
Với vai trò quan trọng đó, việc ký kết và triển khai áp dụng các Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần một cách có hiệu quả thực sự cần thiết trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nƣớc ta hiện nay.
Để có một cái nhìn rõ nét nhất về các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần tại
Việt Nam cũng nhƣ việc áp dụng các quy định của nó vào thực tế, tác giả đã quyết
định chọn đề tài “Thực trạng ký kết và cơ chế áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế
hai lần tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận này là nhằm đƣa ra cho ngƣời đọc có cái
nhìn chính xác nhất về thực trạng ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa
chính phủ Việt Nam và các nƣớc, đồng thời trên cơ sở phân tích mẫu Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần của Việt Nam cũng nhƣ các Hiệp định mà Việt Nam đã ký
kết, luận văn làm rõ những cơ chế áp dụng của Hiệp định tại Việt Nam, nhƣ việc
phân chia quyền đánh thuế đối với các loại thu nhập, các biện pháp xóa bỏ việc
đánh thuế hai lần và các thủ tục pháp lý trong quá trình áp dụng Hiệp định.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của khóa luận là các hiệp định tránh đánh thuế hai lần
đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả hoàn thành tốt bài luận văn này.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhƣng do thời gian và trình độ có hạn nên khóa luận
không thể tránh khỏi thiếu sót. Tác giả hy vọng nhận đƣợc các ý kiến góp ý để khóa
luận đƣợc hoàn thiện hơn.
Sinh viên thực hiện
BÙI PHƢƠNG LAN 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆP ĐỊNH
TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
1.1. Thuế và thuế thu nhập
1.1.1. Thuế
Nhƣ chúng ta đã biết, thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nƣớc
nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình.
GS.TS Bùi, Xuân Lƣu; TS. Nguyễn, Hữu Khải; Th.S Nguyễn, Xuân Nữ
(2003, tr.13) đã kết luận rằng: “Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân
có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo
chức năng của Nhà nƣớc. Ngƣời đóng thuế đƣợc hƣởng hợp pháp phần thu nhập
còn lại.”
Nhƣ vậy, thuế trƣớc hết phải là một phần thu nhập. Thu nhập của mỗi một tổ
chức, cá nhân sẽ đƣợc chia ra làm hai phần, một phần để nộp thuế và phần còn lại
- Thuế xuất, nhập khẩu
- Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Thuế thu nhập cá nhân
- Thuế nhà, đất
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Thuế tài nguyên
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Thuế môn bài
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ xin trình bày tóm tắt về loại
thuế thu nhập, gồm hai sắc thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá
nhân. Trong đó lƣu ý tới các nguyên tắc đánh thuế thu nhập.
1.1.2. Thuế thu nhập
Thuế thu nhập là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập thực tế
của các tổ chức và cá nhân.
Tại Việt Nam, thuế thu nhập gồm có 2 sắc thuế: thuế thu nhập doanh nghiệp
và thuế thu nhập cá nhân.
1.1.2.1. Thuế thu nhập doanh nghiệp
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của
thuế. Hiện nay ở các nƣớc phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nƣớc và thực
hiện phân phối thu nhập.
Ở Việt Nam, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/05/1997 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/1999 thay cho Luật thuế lợi tức.
Cùng với công cuộc cải cách thuế năm 1990, Luật thuế lợi tức đã đƣợc ban
hành. Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhƣợc
điểm và không còn phù hợp với nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai 6
tiền gửi cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ
khó đòi đã xóa nay đòi đƣợc; thu khoản nợ phải trả không xác định đƣợc chủ, khoản
thu nhập từ kinh doanh từ những năm trƣớc bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác,
kể cả thu nhập nhận đƣợc từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam” 7
Nhƣ vậy có thể kết luận rằng: “Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế
trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất – kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế.”
1.1.2.2. Thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân đã đƣợc áp dụng từ lâu ở các nƣớc phát triển, đối
tƣợng nộp thuế này là mọi dân cƣ trong nƣớc và ngƣời nƣớc ngoài có thu nhập phát
sinh ở nƣớc sở tại, không phân biệt nghề nghiệp và địa vị xã hội. Đồng thời, tùy
theo tính chất của các khoản thu nhập cá nhân, ngƣời ta chia thu nhập làm hai loại:
thu nhập thƣờng xuyên và thu nhập không thƣờng xuyên để tính thuế cho phù hợp.
Lần đầu tiên ở Anh vào năm 1799, thuế thu nhập cá nhân đƣợc đƣa vào thực hiện
nhƣ một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh
chống Pháp và đƣợc chính thức áp dụng vào năm 1942. Sau đó nhiều nƣớc tƣ bản
phát triển khác cũng áp dụng thuế này nhƣ: ở Nhật Bản năm 1887, Đức năm 1899,
Mỹ năm 1903, Pháp năm 1916 và Liên Xô năm 1922.
Ở Việt Nam, ngày 27/12/1990, Chủ tịch nƣớc đã ký lệnh công bố Pháp lệnh
thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao và đã đƣợc ủy ban thƣờng vụ quốc hội
thông qua. Để cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh
tế - xã hội của đất nƣớc, kể từ khi ban hành đến khi chấm dứt hiệu lực đã có 6 lần
sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập cao: lần thứ
nhất vào ngày 10/03/1992, lần thứ 2 vào ngày 01/06/1994, lần thứ ba vào ngày
06/02/1997, lần thứ tƣ vào ngày 30/06/1999, lần thứ năm vào ngày 13/06/2001 và
lần thứ sáu là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành
năm 2004.
chịu thuế của từng cá nhân, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã
hội, động viên một phần thu nhập của mỗi cá nhân vào ngân sách Nhà nƣớc.
1.1.2.3. Các nguyên tắc đánh thuế thu nhập
a) Nguyên tắc nguồn
Đánh thuế thu nhập theo nguyên tắc nguồn là cách đánh thuế căn cứ vào mối
liên hệ giữa một nƣớc với các hoạt động tạo ra thu nhập, hay nói cách khác chính là
cách đánh thuế đối với thu nhập phát sinh hoặc có nguồn phát sinh tại nƣớc đó.
b) Nguyên tắc cƣ trú
Đánh thuế thu nhập theo nguyên tắc cƣ trú là cách đánh thuế căn cứ vào mối
liên hệ giữa một nƣớc với bản thân đối tƣợng có thu nhập. Theo nguyên tắc này,
một đối tƣợng đƣợc xác định là đối tƣợng cƣ trú tại một nƣớc sẽ bị đánh thuế thu
nhập tại nƣớc đó.
c) Nguyên tắc quốc tịch
Đánh thuế thu nhập theo nguyên tắc quốc tịch là cách đánh thuế căn cứ vào
mối liên hệ giữa một nƣớc với đối tƣợng có thu nhập là đối tƣợng mang quốc tịch
của nƣớc đó. Theo nguyên tắc này, bất kỳ đối tƣợng nào đƣợc xác định là mang
quốc tịch của một nƣớc sẽ bị đánh thuế thu nhập tại nƣớc đó.
d) Nguyên tắc kết hợp 9
Đánh thuế thu nhập theo nguyên tắc kết hợp là cách đánh thuế căn cứ vào
các mối liên hệ của một nƣớc đối với thu nhập có phát sinh/nguồn phát sinh tại
nƣớc đó và đối tƣợng có thu nhập là đối tƣợng cƣ trú và/hoặc là đối tƣợng mang
quốc tịch của nƣớc đó.
1.1.3. Đánh thuế trùng
Khi mở rộng phạm vi hoạt động ra khỏi biên giới, cá nhân/doanh nghiệp đó
sẽ không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật thuế nƣớc mình (nƣớc cƣ trú/nƣớc mình
mang quốc tịch) mà còn cả luật thuế của nƣớc nơi phát sinh thu nhập (nƣớc nguồn).
Trong thƣơng mại quốc tế, việc cùng tồn tại nhiều hệ thống thuế khác nhau giữa các
1.2.1. Khái niệm
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (sau đây gọi là Hiệp định) là một điều ƣớc
quốc tế giữa các nƣớc và/hoặc vùng lãnh thổ có chủ quyền về thuế nhằm tránh đánh
thuế trùng đối với thu nhập từ các hoạt động đầu tƣ, thƣơng mại qua biên giới trên
cơ sở phân chia quyền đánh thuế giữa các bên tham gia ký kết.
1.2.2. Mục tiêu
Mục tiêu của Hiệp định về cơ bản là nhằm phân định quyền đánh thuế của
mỗi bên tham gia ký kết nhằm tránh đánh thuế trùng và ngăn ngừa việc trốn và/hoặc
tránh các loại thuế đánh trên thu nhập và tài sản. Do việc đánh thuế trùng đƣợc xem
nhƣ là rào cản thƣơng mại, là trở ngại đối với tự do hóa giao lƣu, hợp tác kinh tế,
với mục đích là loại bỏ trở ngại trên, Hiệp định góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tƣ,
trao đổi thƣơng mại, kinh tế giữa các nƣớc ký kết. Ngoài ra, Hiệp định còn có mục
tiêu tạo ra cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, đảm bảo đối xử công
bằng về nghĩa vụ thuế cho các đối tƣợng nộp thuế.
Để thực hiện mục tiêu này, các Hiệp định thƣờng thỏa thuận một số nguyên
tắc, biện pháp để phân chia, xác định thẩm quyền đánh thuế của từng nƣớc ký kết
nhƣ:
- Xác định quyền đánh thuế của nƣớc nơi phát sinh thu nhập đối với một số
khoản thu nhập của đối tƣợng không cƣ trú.
- Giới hạn mức thuế suất đánh trên một số khoản thu nhập của đối tƣợng
không cƣ trú của nƣớc nơi phát sinh thu nhập (chẳng hạn nếu thuế suất theo quy
định của luật trong nƣớc cao hơn mức thuế suất quy định tại Hiệp định, thì áp dụng
mức thuế suất theo Hiệp định);
- Cho khấu trừ số thuế đã nộp ở nƣớc ngoài vào số thuế phải nộp tại nƣớc
cƣ trú;
- Ngăn ngừa việc trốn lậu thuế bằng cách trao đổi thông tin giữa các nƣớc
ký kết.
1.2.3. Nguyên tắc áp dụng Hiệp định
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các
loại thuế đánh vào thu nhập và tải sản giữa Việt Nam với các nƣớc đƣợc áp dụng
bắt đầu từ khi Hội đồng của Tổ chức kinh tế Châu Âu (OECC) – nay là OECD –
thông qua bản giới thiệu các vấn đề liên quan đến việc đánh thuế hai lần vào ngày
25 tháng 2 năm 1955. Vào thời điểm đó, 70 hiệp định song phƣơng đã đƣợc ký kết
giữa các nƣớc là thành viên của OECD ngày nay. Năm 1928, mẫu hiệp định song
phƣơng đầu tiên đƣợc soạn thảo, tiếp theo là mẫu hiệp định của Mexico năm 1943
và mẫu Hiệp định của Luân Đôn năm 1946, các quy định tại các điều khoản của
những Hiệp định này đều đƣợc soạn thảo dựa trên sự đúc kết từ các hiệp định 12
thƣơng mại song phƣơng giữa các quốc gia và đƣợc sửa đổi, bổ sung trong suốt
những thập niên tiếp theo.
Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự cộng tác của các thành viên Tổ chức
kinh tế châu Âu (OECC) sau chiến tranh ngày càng tăng cho ta thấy vai trò quan
trọng của các biện pháp tránh đánh thuế hai lần ngày một rõ nét. Một loạt các hiệp
định thuế song phƣơng đã đƣợc ký kết giữa các thành viên của OECC, cùng thời
gian này, sự phù hợp của các hiệp định trong tất cả các nguyên tắc, định nghĩa, các
điều khoản, các phƣơng pháp và sự thống nhất theo cách hiểu thông thƣờng làm cho
hiệp định càng trở nên cần thiết.
Năm 1956, ủy ban tài chính châu Âu đã soạn thảo một bản dự thảo hiệp định
trong đó gồm các quy định có thể giải quyết hiệu quả vấn đề đánh thuế hai lần đang
tồn tại giữa các thành viên của OECD và nó có thể đƣợc chấp nhận áp dụng tại tất
cả các thành viên này. Từ năm 1958 đến năm 1961, Ủy ban Tài chính của OECD đã
soạn thảo 4 bản dự thảo hiệp định tạm thời, trƣớc khi trình bản dự thảo hiệp định
cuối cùng với tên gọi “dự thảo Hiệp định đánh thuế hai lần đối với các loại thuế
đánh vào thu nhập và tài sản”. Ngày 30 tháng 7 năm 1963, Hội đồng OECD đã
thông qua một văn bản liên quan đến vấn đề tránh đánh thuế hai lần và kêu gọi
chính phủ của các quốc gia thành viên, khi ký kết hoặc sửa đổi các hiệp định song
phƣơng giữa họ thì nên tuân theo bản dự thảo hiệp định đó.
Khi trình bản dự thảo Hiệp định vào năm 1963, Ủy ban tài chính của OECD
Các khoản đóng góp từ bên ngoài nhƣ vậy sẽ giúp Vụ tài chính trong nhiệm vụ tiếp
tục cập nhật mẫu Hiệp định cho phù hợp với sự thay đổi của các quy định và các
nguyên tắc thuế khóa quốc tế. Đây là nguyên do của việc xuất bản mẫu Hiệp định
năm 1992. Không giống nhƣ bản dự thảo Hiệp định năm 1963 và mẫu Hiệp định
năm 1977, mẫu sửa đổi không phải là văn bản có giá trị bao hàm cao nhất nhƣng nó
là văn bản đầu tiên của quá trình sửa đổi theo hƣớng cập nhật thông tin định kỳ và
bằng cách này đảm bảo rằng mẫu Hiệp định sẽ tiếp tục phản ánh đúng cái nhìn của
các quốc gia thành viên tại bất cứ thời điểm nào.
Qua một trong các lần cập nhật, vào năm 1997, quan điểm của một số các
quốc gia không thành viên lần đầu tiên đƣợc đề cập tới trong mẫu Hiệp định. Từ đó
tới nay, Mẫu Hiệp định đã đƣợc sửa đổi và cập nhật qua các năm 1999, 2003 và gần
đây nhất là năm 2005.
1.2.4.2. Mẫu Hiệp định của Liên Hợp Quốc UN
Ảnh hƣởng của mẫu Hiệp định OECD đã vƣợt ra khỏi phạm vi các nƣớc
thành viên. Nó đƣợc sử dụng nhƣ một tài liệu cơ bản để tham khảo trong quá trình
đàm phán giữa các quốc gia thành viên và không thành viên, thậm chí giữa các quốc
gia không thành viên với nhau cũng nhƣ đối với các tổ chức quốc tế khác trong
phạm vi về đánh thuế hai lần và các vấn đề liên quan. Đặc biệt, nó còn đƣợc dùng
làm cơ sở cho việc soạn thảo bản dự thảo gốc và bản sửa đổi của “Mẫu Hiệp định
đánh thuế hai lần giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển của Liên Hợp Quốc” 14
bằng cách sao chép một phần quan trọng của tất cả các điều khoản và bình luận của
mẫu Hiệp định OECD.
Sự gia tăng của các dòng vốn đầu tƣ từ các nƣớc phát triển sang các nƣớc
đang phát triển phụ thuộc rất nhiều vào môi trƣờng đầu tƣ quốc tế. Vấn đề đánh
thuế hai lần có ảnh hƣởng tiêu cực tới việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ; việc di
chuyển vốn và nhân lực trong quá trình hợp tác, đầu tƣ kinh tế với nƣớc ngoài, do
đó việc tránh hay loại bỏ vấn đề đánh thuế hai lần trở thành một thành phần quan
ngày 21 tháng 12 năm 1979, Nhóm chuyên gia đã trình bản dự thảo mẫu Hiệp định
của Liên Hợp Quốc và đƣợc thông qua . Năm 1980, Liên Hợp Quốc xuất bản “Mẫu
hiệp định của Liên Hợp Quốc về đánh thuế hai lần giữa các nƣớc phát triển và đang
phát triển”.
Ngày 28 tháng 4 năm 1980, Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên Hợp Quốc đã
đổi tên nhóm chuyên gia thành “Ad Hoc Group of Experts on International
Cooperation in Tax Matters” – tạm dịch là – Nhóm chuyên gia về các vấn đề thuế
trong hợp tác quốc tế. Trong những năm 90, nhận thấy nhiều thay đổi quan trọng
trong môi trƣờng kinh tế và tài chính quốc tế, thêm vào đó là các bản cập nhật và
sửa đổi của mẫu Hiệp định OECD vào các năm 1992, 1994, 1995 và 1997, Nhóm
chuyên gia về các vấn đề thuế trong hợp tác quốc tế quyết định sửa đổi và cập nhật
“Mẫu hiệp định của Liên Hợp Quốc về đánh thuế hai lần giữa các nƣớc phát triển
và đang phát triển” vào năm 1997, tiếp đó là các lần sửa đổi và cập nhật vào năm
1999 và gần đây nhất là bản mẫu Hiệp định năm 2001.
1.2.5. Các nội dung cơ bản của Hiệp định
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, cho dù dựa trên các mẫu khác nhau nhƣng
thƣờng gồm các nội dung cơ bản sau đây và có thể đƣợc chia thành 7 phần:
1.2.5.1. Phần 1: Phạm vi áp dụng của Hiệp định (Điều 1-2)
Trong phần này, Hiệp định có nêu rõ những đối tƣợng nào là đối tƣợng áp
dụng của Hiệp định (đối tƣợng cƣ trú của một hoặc của cả hai nƣớc ký kết). Thêm
vào đó, Hiệp định còn quy định chi tiết những loại thuế áp dụng trong Hiệp định:
“Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một nƣớc ký kết hoặc chính quyền
địa phƣơng của nƣớc đó, đánh vào thu nhập và tài sản, bất kể hình thức áp dụng của
các loại thuế đó nhƣ thế nào.” – khoản 1, Điều 2, mẫu Hiệp định năm 2007 của Việt
Nam.
Khoản 3, Điều 2 của Hiệp định cũng nêu rõ các loại thuế hiện hành của cả
hai nƣớc ký kết đƣợc áp dụng trong Hiệp định, tại Việt Nam gồm có thuế thu nhập
cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế tài sản (nếu có) – đƣợc gọi chung là
“thuế Việt Nam”
Tại Trung Quốc bao gồm thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập đối với các xí
Phần này gồm các điều liên quan đến việc giải thích các thuật ngữ đƣợc sử
dụng trong Hiệp định. Trong đó Điều 3 có nhiệm vụ giải thích 9 thuật ngữ:
- “Tên nƣớc ký kết Hiệp định với Việt Nam” – Ví dụ: “Áo”, “Trung
Quốc”, “Hà Lan”, “Singapore”,v.v…
- “Việt Nam”
- “Nƣớc ký kết” và “ Nƣớc ký kết kia”
- “Đối tƣợng”
- “Công ty”
- “Doanh nghiệp của nƣớc ký kết” và “Doanh nghiệp của nƣớc ký kết kia”
- “Đối tƣợng mang quốc tịch” 17
- “Vận tải quốc tế”
- “Nhà chức trách có thẩm quyền”
Riêng điều 4 và điều 5 có nhiệm vụ giải thích chi tiết 2 thuật ngữ quan trọng:
“Đối tƣợng cƣ trú” và “ Cơ sở thƣờng trú” – phần này sẽ đƣợc tác giả đi sâu phân
tích trong Chƣơng 2 của bài khóa luận này.
1.2.5.3. Phần 3: Phân định quyền đánh thuế đối với các loại thu nhập (Điều 6-
22)
Có thể nói, đây là phần thể hiện rõ nhất mục tiêu của Hiệp định là phân chia
quyền đánh thuế đối với các loại thu nhập cho các bên tham gia ký kết. Phần này
gồm có 17 điều (từ điều 6 đến điều 22), tƣơng ứng với mỗi điều là quy định của
Hiệp định đối với một loại thu nhập:
Điều 6: Thu nhập từ bất động sản
Điều 7: Lợi tức kinh doanh
Điều 8: Vận tải biển và vận tải hàng không
Điều 9: Các doanh nghiệp liên kết
Điều 10: Tiền lãi cổ phẩn
Điều 11: Lãi từ tiền cho vay
1.2.5.5. Phần 5: Biện pháp xóa bỏ việc đánh thuế hai lần (Điều 24)
Điều 24 của Hiệp định quy định về các biện pháp xóa bỏ việc đánh thuế hai
lần. Có hai phƣơng pháp nhƣ sau:
- Phƣơng pháp miễn thuế: thu nhập hoặc tài sản bị đánh thuế tại nƣớc
nguồn hoặc nƣớc nơi có tài sản sẽ đƣợc miễn thuế tại Nƣớc cƣ trú, nhƣng Nƣớc cƣ
trú khi xác định thuế suất áp dụng đối với thu nhập hay tài sản còn lại của đối tƣợng
nộp thuế vẫn có thể tính đến các khoản thu nhập và tài sản đã đƣợc miễn thuế (tức
là tính tổng thu nhập để xác định mức thuế suất lũy tiến phù hợp)
- Phƣơng pháp khấu trừ thuế: thu nhập hoặc tài sản bị đánh thuế tại
Nƣớc nguồn hoặc Nƣớc nơi có tài sản sẽ phải chịu thuế tại Nƣớc cƣ trú, nhƣng thuế
đã tính tại Nƣớc nguồn hoặc Nƣớc nơi có tài sản sẽ đƣợc khấu trừ vào số thuế đƣợc
tính tại Nƣớc cƣ trú tính trên thu nhập hoặc tài sản đó.
Phần này sẽ đƣợc tác giả đi sâu phân tích trong Chƣơng 2 của bài khóa luận
này.
1.2.5.6. Phần 6: Các quy định đặc biệt (Điều 25-28)
Phần này gồm có 4 điều quy định về các vấn đề sau:
Điều 25: Không phân biệt đối xử
Quy định tại điều này có mục tiêu đảm bảo rằng những ngƣời mang quốc
tịch của các Nƣớc ký kết, đối tƣợng cƣ trú của quốc gia thứ ba, những đối tƣợng ở
trong tình trạng không có quốc tịch và các cơ sở thƣờng trú của các đối tƣợng
không có quốc tịch đƣợc đối xử bình đẳng về thuế nhƣ các đối tƣợng cƣ trú của các
quốc gia cƣ trú. 19
Thứ nhất là các quy định để chống lại việc những ngƣời mang quốc tịch của
các Nƣớc ký kết, đối tƣợng cƣ trú của quốc gia thứ ba, những đối tƣợng trong tình
trạng không có quốc tịch và các cơ sở thƣờng trú của các đối tƣợng không có quốc
tịch phải chịu bất cứ một sự đánh thuế nào khác hoặc nặng hơn so với sự đánh thuế
đƣợc áp dụng đối với ngƣời mang quốc tịch của Nƣớc ký kết kia trong cùng một
20
nƣớc hoặc đại diện đƣợc ủy quyền của Tổng cục quản lý thuế Nhà nƣớc” (Trung
Quốc), hoặc “Cơ quan thuế thu nhập Trung ƣơng hoặc ngƣời đại diện đƣợc ủy
quyền của Cơ quan thuế thu nhập Trung ƣơng” (Pakistan), hay “Cục trƣởng cục
thuế liên bang hoặc ngƣời đại diện đƣợc ủy quyền của Cục trƣởng” (Thụy Sĩ).
Điều 27: Trao đổi thông tin
Theo quy định tại điều này, khi cơ quan thuế của một Nƣớc ký kết có đƣợc
các thông tin từ hoạt động trao đổi thông tin theo quy định của Hiệp định thì cơ
quan thuế đó có trách nhiệm đảm bảo sự bí mật của thông tin này dù rằng việc cung
cấp các thông tin này cho các cơ quan tòa án là hành động đƣợc phép theo quy định
của Hiệp định.
Trong quá trình trao đổi thông tin, một quốc gia ký kết hoàn toàn không có
nghĩa vụ buộc phải thực hiện các biện pháp hành chính khi các biện pháp này trái
với các quy định của nội luật cũng nhƣ thủ tục quản lý hành chính của quốc gia
mình, hoặc khi xét thấy việc trao đổi thông tin nhƣ vậy có thể dẫn đến việc làm lộ
các bí mật thƣơng mại hoặc các bí mật tƣơng tự.
Cơ quan duy nhất có thẩm quyền trong việc trao đổi thông tin theo quy định
tại Hiệp định là Nhà chức trách có thẩm quyền đã đƣợc xác định tại Hiệp định.
Điều 28: Thành viên cơ quan đại diện ngoại giao và cơ quan lãnh sự
Theo quy định tại điều này, các quy định tại Hiệp định sẽ không ảnh hƣởng
đến quyền miễn trừ của các thành viên cơ quan ngoại giao, lãnh sự đƣợc quy định
trong các điều ƣớc quốc tế mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết
hoặc gia nhập.
1.2.5.7. Phần 7: Các quy định về hiệu lực và chấm dứt hiệu lực của Hiệp
định (Điều 29-30)
Điều 29: Hiệu lực
Điều này quy định về thời gian mà Hiệp định có hiệu lực và hiệu lực thi
hành. Theo đó, mỗi nƣớc ký kết, thông qua đƣờng ngoại giao, sẽ thông báo cho
nhau biết bằng văn bản việc hoàn tất các thủ tục theo yêu cầu của luật pháp nƣớc
- Đối với các loại thuế khác của Việt Nam, liên quan đến thu nhập, lợi
tức hoặc lợi nhuận từ chuyển nhƣợng tài sản hoặc tài sản phát sinh vào ngày hoặc
sau ngày 1 tháng 1 năm dƣơng lịch tiếp sau năm gửi thông báo.
Vẫn ví dụ trên, Hiệp định giữa Việt Nam và Áo có hiệu lực vào ngày
22/12/2005, ngày 22/12/2010 là ngày kết thúc thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định
có hiệu lực. Nhƣ vậy, theo quy định tại Hiệp định, nếu Nƣớc Cộng hòa Áo muốn
gửi thông báo chấm dứt hiệu lực Hiệp định cho Việt Nam, thì sẽ phải gửi ít nhất 6
tháng trƣớc khi kết thúc bất kỳ năm dƣơng lịch nào bắt đầu từ năm 2011, tức là vào
khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 hàng năm bắt đầu từ năm 2011. Giả sử,
thông báo đƣợc gửi vào tháng 2 năm 2012, thì Hiệp định sẽ hết hiệu lực thi hành đối
với các loại thuế khấu trừ tại nguồn, thu trên các khoản thu nhập chịu thuế phát sinh
vào ngày 1 tháng 1 năm 2013, và trong các năm tiếp theo; đối với các loại thuế còn