Nghiên cứu xây dựng mô hình vườn ươm bio city cho ngành chế biến công nghiệp thực phẩm tại phân viện công nghệ thực phẩm tp HCM (bình dương) - Pdf 14


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
***********************
BÁO CÁO KHOA HỌC

Đề tài:
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH VƯỜN ƯƠM BIO-CITY CHO
NGÀNH CHẾ BIẾN CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TẠI PHÂN VIỆN
CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH (BÌNH DƯƠNG)
Chủ nhiệm đề tài: KS. Nguyễn Anh Quân 8791

TP. Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2011

1

BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
***********************

Hình 4: Các giai đoạn ươm tạo
Hình 5: Quy trình tuyển chọn ươm tạo
Hình 6: Sơ đồ quy trình tuyển chọn
Hình 7: Sơ đồ mô hình cấu trúc cơ quan quản lý vườn ươm Biocity
3

LỜI MỞ ĐẦU
Khái niệm ươm tạo doanh nghiệp bắt đầu xuất hiện từ năm 1959 tại Hoa
Kỳ, gắn với sự kiện khai trương Trung tâm công nghiệp Batavia, New York.
Từ những năm 1980, số lượng và loại hình các vườn ươm doanh nghiệp đã
phát triển mạnh tại nước này và sau đó lan rộng sang châu Âu và các nước
đang phát triển ở châu Á khác.

nghiệp trong nước, mà còn “ươm tạo” các doanh nghiệp quốc tế. Các công ty
nước ngoài ngày đầu bỡ ngỡ đến Thượng Hải có thể thuê một văn phòng làm
việc ở đây với giá rẻ bấ
t ngờ so với thị trường. Đó cũng là ẩn ý để doanh
nghiệp mới thành lập của Trung Quốc có điều kiện cọ sát với các doanh
nghiệp nước ngoài ngay trong vườn ươm, chuẩn bị tinh thần vươn ra thị
trường quốc tế.
Tại Vương quốc Anh, BioCity Nottingham được ví là ngôi nhà chung
đáp ứng các nhu cầu khác nhau về phòng thí nghiệm và trang thiết bị văn
phòng của rất nhiều doanh nghiệp khoa học mớ
i khởi sự thuộc các lĩnh vực
khác nhau như: Y tế, công nghệ nano, công nghệ sinh học, và dịch vụ chuyên
môn đặc biệt

Hiện nay các nước trên thế giới đang tích cực đẩy mạnh phát triển vườn
ươm doanh nghiệp. Ngay cả các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc,
Ấn Độ, Thái Lan, Philipine cũng có tới hàng trăm vườn ươm khác nhau. Tuy
nhiên, tại Việt Nam, vấn đề ươm tạo doanh nghiệp mới bắt đầ
u nhen nhóm từ
gần mười năm trở lại đây.
Thực tế, Việt Nam đang trở thành trung tâm chế biến thực phẩm khi tốc
độ tăng trưởng hàng năm của ngành đạt tới 20-30%. Việc hỗ trợ, phát triển
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đã
trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hộ
i của nước ta. Do đó, việc xây dựng các cơ sở ươm tạo doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này cũng được coi là một công cụ rất hữu
hiệu để hỗ trợ và gây dựng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiềm năng.
Hiện nay cả nước ta mới chỉ có ”Vườn ươm doanh nghiệp Hà Nội” (HBI)
hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ các doanh nghiệp chế bi

6
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN

1.1. Khái niệm, quá trình hình thành, phát triển vườn ươm doanh
nghiệp trên thế giới
Theo định nghĩa của Hiệp hội ươm tạo doanh nghiệp quốc gia Mỹ
(NBIA), “Vườn ươm doanh nghiệp là nơi nuôi dưỡng của các doanh nghiệp,
giúp chúng sống sót và lớn lên trong giai đoạn khởi sự bằng cách cung cấp
các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và các nguồn lực cần thiết cho các doanh
nghiệp non trẻ này”.
Theo nhiề
u nghiên cứu, khái niệm “ươm tạo doanh nghiệp” bắt đầu
xuất hiện từ năm 1959 tại Hoa Kỳ, gắn với sự kiện khai trương Trung tâm
công nghiệp Batavia, New York. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, số lượng
và loại hình vườn ươm doanh nghiệp đã phát triển mạnh tại nước này, sau đó
lan rộng sang châu Âu và châu Á. Tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận về vai trò,
chức năng của việc ươm tạ
o doanh nghiệp trong chính sách phát triển doanh
nghiệp và điều kiện kinh tế, khoa học và công nghệ (KH&CN) từng thời kỳ,
mà mỗi quốc gia có những quan điểm, cách hiểu khác nhau, nhưng khái quát
chung lại, vườn ươm doanh nghiệp hoạt động có mục tiêu cơ bản là: 1) Cung
cấp có thời hạn một hệ thống các dịch vụ phát triển kinh doanh chất lượng cao
cho các doanh nghiệp với giá ưu đãi hoặc miễn phí; 2) Giúp các doanh nghiệp
kết n
ối tới các nguồn vốn ưu đãi và các trường đại học, viện nghiên cứu, khu
công nghệ cao; 3) Giúp các doanh nghiệp mở rộng mạng lưới liên kết kinh
doanh rộng lớn trong và ngoài cơ sơ ươm tạo.
Hiện nay, các nước trên thế giới đang tích cực đẩy mạnh phát triển
vườn ươm doanh nghiệp. Số lượng vườn ươm trên thế giới phát triển gần như
theo cấp số nhân. Trên thế gi

nghiên cứu khoa học tăng từ 25-30% lên trên 70%, số lượng bản quyền sở
hữu trí tuệ gia tăng đáng kể, chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao với s

đóng góp của nhiều sinh viên du học và học giả Hoa kiều trở về.
Các vườn ươm Trung Quốc đã có những đóng góp to lớn như:
- Giúp tỷ lệ thương mại hóa nghiên cứu khoa học tăng thêm, giúp tiết
kiệm đầu tư cho nghiên cưu khoa học công nghệ hàng năm.
- Số lượng bản quyền sở hữu trí tuệ gia tăng đáng kể;
- Chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao v
ới sự đóng góp của nhiều
sinh viên du học và học giả Hoa kiều trở về.
Ngay cả các nước khác như, Ấn Độ, Thái Lan, PhiliPine cũng có tới
hàng trăm vườn ươm khác nhau. Tuy nhiên, tại Việt Nam, vấn đề ươm tạo

8
doanh nghiệp mới bắt đầu nhen nhóm từ vài năm trở lại đây. “Trung tâm sáng
tạo Thượng Hải” là một vườn ươm, không những ươm tạo doanh nghiệp trong
nước, mà còn “ươm tạo” các doanh nghiệp quốc tế. Các công ty nước ngoài
ngày đầu bỡ ngỡ đến Thượng Hải có thể thuê một văn phòng làm việc ở đây
với giá rẻ bất ngờ so với thị trường. Đó cũng là ẩn ý
để doanh nghiệp mới
thành lập của Trung Quốc có điều kiện cọ sát với các doanh nghiệp nước
ngoài ngay trong vườn ươm, chuẩn bị tinh thần vươn ra thị trường quốc tế.
Gợi ý từ khu của Thượng Hải có thể được xem xét để học hỏi trong việc xây
dựng vườn ươm tại Việt Nam.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển vườn ươm doanh nghiệp ở
Việt Nam
Từ “incubator” du nhậ
p vào Việt Nam từ những năm 1996 - 1997 khi
nói về các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi đó, danh từ này

ậm chí của cả các doanh nghiệp lớn đã có kinh nghiệm. Cây lớn
không thể ở mãi trong vườn ươm. Những khu công nghiệp, cụm công nghiệp
sẽ là nơi doanh nghiệp vươn tới sau khi đã cứng cỏi, “ tốt nghiệp” vườn ươm.
Các “vườn ươm doanh nghiệp” xuất hiện tại Việt Nam cũng vì mục tiêu này.

10
Mặc dù vậy, có lẽ đối với đa số các doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNNVV) Việt Nam, “vườn ươm doanh nghiệp” vẫn còn là một khái niệm rất
xa vời. Hiện chỉ có 8 “vườm ươm doanh nghiệp” mới được hình thành ở Việt
Nam. DNNVV hầu hết khởi nghiệp ở bước đang thử nghiệm công nghệ mới
mà chưa biết có vượt qua được được giai đoạn khởi đầu khó kh
ăn hay không.
Vì vậy, DNNVV rất cần đến khu vườn ươm, nơi có bàn tay nâng đỡ của các
cơ quan chức năng, các nhà cung cấp dịch vụ, các tổ chức hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp, thậm chí của cả các doanh nghiệp lớn đã có kinh nghiệm. Cây
lớn không thể ở mãi trong vườn ươm. Những khu công nghiệp, cụm công
nghiệp là nơi doanh nghiệp vươn tới sau khi đã cứng cỏi, “tốt nghiệp” vườn
ươm. Các “vườn ươm doanh nghiệp” xuất hiện tại Việt Nam cũng vì mục tiêu
này.
Khác với các hình thức hỗ trợ DNNVV khác, vườn ươm doanh nghiệp
phải là nơi hội tụ các dịch vụ phát triển kinh doanh, trong đó khó khăn về mặt
bằng sản xuất cũng như địa điểm làm việc của doanh nghiệp được hỗ trợ giải
quyết một cách hiệu quả. Bởi
đây là một trong những khó khăn lớn nhất của
đối tượng doanh nghiệp này. Hiện nay có nhiều tỉnh, thành đề ra các khu quy
hoạch cho phát triển khu, cụm công nghiệp. Nhưng lại hiếm có nơi nào xác
định đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp cho DNNVV, đầu tư vào các vườn
ươm doanh nghiệp. Có nhiều nơi, DNNVV không thể vào được các khu công
nghiệp vì không gánh được chi phí cho cả ngàn mét vuông trên những lô đất
đã và đang được quy hoạch trong các khu công nghiệp hiện nay. Vì thế,

đều có những dự án, chiến dịch
lớn để đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Tất cả những tín hiệu tích
cực đó sẽ giúp cho các vườn ươm doanh nghiệp khởi động và lạc quan hơn
trong thời gian tới.
Chương trình đào tạo E - Learning của TOPICA đã ươm tạo 9 doanh
nghiệp hạt giống, trong đó 2 doanh nghiệp đã “tốt nghiệp”, 4 doanh nghiệp
nhận đượ
c đầu tư hàng tỷ đồng và các doanh nghiệp còn lại đang trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện. TOPICA cũng đã xúc tiến hoạt động trên khắp
64 tỉnh thành qua các trung tâm TOPICA64 và hợp tác với các doanh nghiệp
địa phương. Có tới 80% trung tâm đang hoạt động rất tốt. Trong thời gian
qua, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nên mô hình vườn ươm của
TOPICA không được nhân rộng lên. Tuy nhiên, trong thời gian tới, ban lãnh
đạo của TOPICA đang lên kế hoạch áp dụng l
ại mô hình vườn ươm nhân tạo
trước đó. Đồng thời TOPICA cũng sẽ huy động sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế

12
giới và các tổ chức khác để triển khai khóa đào tạo học vấn cho các đơn vị
vườn ươm trong nước và hỗ trợ các đơn vị xây dựng vườn ươm nhân tạo của
họ. TOPICA cũng đã hợp tác với Hội Doanh nghiệp trẻ huy động được 109
doanh nghiệp tham gia đào tạo, dự kiến đến năm 2010 con số này sẽ là 1.000
doanh nghiệp. Học viên theo học các khóa học trực tuyến s
ẽ chỉ phải lên lớp 1
lần trong 1 tháng và thực hành trong môi trường 3D với kiến thức, kỹ năng
thực tế cao.
Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh trực
thuộc Ban Quản lý Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, do Ủy ban
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập vào tháng 8 năm 2006. Vườn
ươm doanh nghiệp công nghệ cao được thành lập với mục tiêu cơ bản và cốt

ấn địa phương, các giảng viên, các đối tác chiến lược, thành
viên của Công viên phần mềm Quang Trung và các khách hàng khác của SBI,
các quan hệ kinh doanh và quan hệ trong khu vực cơ quan nhà nước.
- Hỗ trợ trong xác định, tuyển chọn, tuyển dụng, đào tạo và giữ nhân
viên cho khách hàng ươm tạo và các khách hàng bên ngoài.
- Đào tạo theo mục tiêu trong các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật khác nhau
dựa trên nguyên tắc học kết hợp với thực hành.
- Tổ chức các sự kiệ
n và các cuộc gặp gỡ nhằm giúp các khách hàng
ươm tạo liên kết và trưng bày các sản phẩm và dịch vụ.
- Tổ chức các hoạt động xúc tiến/quảng cáo cho các khách hàng ươm
tạo và khách hàng bên ngoài; thiết kế các tài liệu quảng bá, chuẩn bị cho triển
lãm.
- Cung cấp các dịch vụ thư ký, hành chính cho các khách hàng ươm
tạo.
- Các dịch vụ khác.
Hiện “thị trường” vườn ươm của Việt Nam đang có dấu hiệu ấm dầ
n
lên. Các quỹ đầu tư mạo hiểm như IDG, DFJ, Vinacapital đang tăng vốn
đầu tư và đẩy mạnh việc tìm kiếm các công ty để đầu tư. Các tập đoàn lớn
như FPT cũng đang bắt đầu tìm đến các nguồn ươm tạo, giống như thời kỳ
2008. Một tín hiệu đáng mừng nữa là Luật Công nghệ cao đã được Quốc hội
thông qua, các bộ, ban, ngành hay VCCI đều có những d
ự án, chiến dịch
lớn để đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ Tất cả những tín hiệu tích

14
cực đó sẽ giúp cho các vườn ươm doanh nghiệp khởi động và lạc quan hơn
trong thời gian tới.
1.3. Tính chất hoạt động của các vườn ươm

nghiệp công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm ươm tạo doanh
nghiệp công nghệ cao Hoà Lạc). Nhưng cũng có mô hình ươm tạo thuộc sở

15
hữu tư nhân (Vườn ươm công nghệ FPT, Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ
Tinh Vân).
Qua thực tế hoạt động và trong điều kiện đang phát triển của Việt Nam
hiện nay, mô hình lý tưởng để điều hành vườn ươm doanh nghiệp trong tương
lai nên là mô hình thực thể công - tư theo hình thức doanh nghiệp. Điều này là
hợp lý và cần thiết để nhận được sự hỗ trợ của Chính phủ về
mặt chính sách,
đảm bảo sự phát triển bền vững của vườn ươm và cung cấp những ưu đãi cho
vườn ươm như: Miễn/giảm thuế cho các doanh nghiệp ươm tạo, kéo dài thời
gian khấu hao cho các tài sản cố định của vườn ươm, khuyến khích các nhà
tài trợ cho vườn ươm, tạo điều kiện thuận lợi cho vườn ươm kết nối kinh
doanh, tiếp cận tài chính (vốn ngân hàng) cho các doanh nghi
ệp được ươm
tạo.
1.3.3. Tính bền vững
Tuy có vai trò quan trọng như trên, việc hình thành và duy trì hoạt động
vườn ươm doanh nghiệp trong một số trường hợp cần có sự cân nhắc “thấu
đáo” về các chi phí - lợi ích. Trước hết, chi phí thành lập và vận hành các
vườn ươm là rất đáng kể. Tại Mỹ, để tạo ra một việc làm tại các vườn ươm
được nhà nước hỗ trợ hoạt
động cần chi phí là 1.100 USD; chi phí vận hành
trung bình hàng năm cho một vườn ươm doanh nghiệp công nghệ khoảng
350.000 USD. Mức chi phí tại Đức thậm chí còn lớn hơn nhiều, trong khi
hiệu quả thấp hơn, tỷ lệ ươm tạo thành công chỉ đạt từ 20-30%, tùy theo
ngành nghề.
Với chi phí tương đối lớn như vậy, nên hầu hết trong giai đoạn đầu hoạt

nhẹ từ 15,5% (năm 2009) xuống 14,8% (năm 2014). Điều này cho thấy thu
nhập của người dân tăng nhưng ở mức tương đối chậm. Nền kinh tế phát triển
cộng với dòng vốn đầu tư vào các ngành thực phẩm, đồ uống và công nghiệp

17
bán lẻ tăng sẽ là tiền đề thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng thực phẩm. Trong
ngắn hạn, giá cả các mặt hàng thực phẩm dự báo vẫn ở mức thấp. Tuy nhiên
mức giá thấp mà các nhà bán lẻ áp dụng hiện này vẫn cao hơn rất nhiều so với
khả năng tài chính của người tiêu dùng trung bình ở nông thôn.
Với đà tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 7,5%/năm trong suốt 10 năm
qua, lực lượng tầ
ng lớp trung lưu ngày càng tăng tại Việt Nam kéo theo nhu
cầu tiêu dùng về ẩm thực tăng lên nhanh chóng. Tất nhiên, nền kinh tế Việt
Nam cũng bị ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu nhưng chính phủ Việt Nam đã
tìm ra các giải pháp phù hợp giúp nền kinh tế duy trì ổn định. Gần đây BMI
đã có đánh giá lạc quan hơn về mức tăng trưởng của Việt Nam đạt 4,4% so
với dự báo ban đầu là 2,9%. Việt Nam sẽ tr
ở về quỹ đạo tăng trưởng vào năm
2011 do đặc điểm hiện nay của Việt nam là dân số trẻ và mật độ tăng cao nên
Việt Nam trở thành một thị trường tiêu thụ tiềm năng về các sản phẩm đồ
uống và thực phẩm có thương hiệu trong trung hạn.
Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong cơ cấu giá tr
ị sản xuất công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong
những năm qua. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam ngày
càng thể hiện vai trò quan trọng đối với nền kinh tế đất nước. Hiện các
DNVVN chiếm khoảng 96,5% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, đóng góp
trên 40% GDP và là khu vực phát triển nhanh nhất, góp phần quan trọng trong
tạo việc làm mới, giảm đói nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
Việc hỗ trợ, phát triển DNVVN đã trở

19
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Nghiên cứu khảo sát, thu thập thông tin về các mô hình vườn ươm
biocity ứng dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm trên thế giới và
trong nước
3.1.1. Mô hình vườn ươm biocity ứng dụng cho ngành công nghiệp thực
phẩm trên thế giới.
Từ nửa cuối thế kỷ 19, các vườn ươm doanh nghiệp thực phẩm đầu tiên
trên thế giới được thành lập tại Mỹ để hướng tớ
i phục vụ đối tượng khách
hàng là các doanh nghiệp khởi sự chế biến thực phẩm quy mô siêu nhỏ và hộ
gia đình. Các dịch vụ cung cấp tại vườn ươm thường là các thiết bị chế biến
thực phẩm cho thuê bán thời gian, đi kèm các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và hỗ
trợ kỹ thuật. Các dịch vụ này đã giúp giảm đáng kể các chi phí đầu tư ban
đầu, các rủi ro của kinh doanh th
ực phẩm. Các vườn ươm đã tạo cơ hội cho
các doanh nghiệp khởi sự trở nên linh hoạt hơn trong hợp tác kinh doanh,
phân phối sản phẩm.
Nhờ việc bố trí gần các trường, viện nghiên cứu chuyên ngành, các
vườn ươm chế biến thực phẩm đã tạo điều kiện cho các doanh nhân khởi sự
tiếp cận với các chuyên gia chế biến, các máy móc chuyên dụng và các trang
thiết bị cần thiế
t, và các khóa đào tạo. Người tham gia vườn ươm là các doanh
nhân tiềm năng xuất xứ từ cả khu vực nông thôn và thành thị.
Theo thời gian, số lượng vườn ươm doanh nghiệp chế biến thực phẩm
đã tăng lên nhanh chóng.
Tại các quốc gia châu Mỹ, việc khởi sự một doanh nghiệp thực sự là
thách thức vô cùng lớn cho các doanh nghiệp quy mô nhỏ vì sự đầu tư trang
thiết bị chế biến đắt tiề
n, phải đảm bảo các quy định của pháp luật về an toàn

của vườn ươm này nằm ở vùng công nghệ cao giữa Leeds, Sheffield và
Nottingham.Vườn ươm doanh nghiệp này cung cấp các hỗ trợ về kinh doanh,
tài chính, phòng thí nghi
ệm, văn phòng cho các công ty dược phẩm, sinh
phẩm và thực phẩm có ứng dụng công nghệ sinh học. Với 70 doanh nghiệp
được ươm tạo và số lượng đáng kể các hợp tác liên kết quốc tế, vườn ươm
Biocity Nottingham được công nhận là đơn vị đứng đầu trong số các vườn

21
ươm trẻ và phát triển nhanh nhất nước Anh, luôn được Chính phủ coi là trung
tâm đổi mới công nghệ quốc gia.
3.1.2.2. Vườn ươm Jeddah Biocity
Jeddah Biocity là vườn ươm doanh nghiệp của Arập Saudi để thành lập
một cơ sở có thể biến các ý tưởng nghiên cứu khoa học ngành công nghệ sinh
học thành hiện thực trong lĩnh vực công nghiệp. Tham vọng của Arap Saudi
là muốn thông qua dự án này để biến nước này trở thành trung tâm phát triển
công nghiệp sinh học mạnh nh
ất Trung Đông. Vườn ươm này nằm trong
Công viên khoa học thuộc Trường Đại học Abdul-Aziz tại Jeddah.
3.1.2.3. Vườn ươm doanh nghiệp Toronto –Canada
Đây là vườn ươm thuộc Hiệp hội vườn ươm doanh nghiệp Canada
(CABI) là một mô hình thành công giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp xây
dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp vững mạnh và khả thi cho đến khi đã
tự lập vững chắc trong cộng đồng doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp mới khởi sự được xem xét để vào Vườn ươm này thụ
hưởng các hoạt động hỗ trợ quản lý, giáo dục, thông tin, kỹ thuật, dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh, tài nguyên mạng, tư vấn tài chính và tìm kiếm sự trợ giúp tài
chính.

Mục tiêu của vườn ươm không chỉ để đảm bảo các doanh nghiệp nhỏ

thực hiện bởi Phòng Avignon Thương mại và Công nghiệp.
Kể từ tháng Bảy nă
m 1993, CREATIVA đã hoạt động theo Hiệp hội
AGROPARC.
Tổng đầu tư bất động sản của CRÉATIVA là 3.380.000 €, trong đó:
• 35% được các thị trấn và cộng đồng Greater Avignon tài trợ
• 23% bằng các tài trợ châu Âu
• 9% của khu vực Vaucluse
• 6% của Vùng
Ngoài ra, 73% đồng tài trợ thông qua các cơ quan chính phủ trong khu vực
và địa phương, 27% còn lại CRÉATIVA tài chính được trong các hình thức
thanh toán hàng quý cho thuê cho các dịch vụ cung cấp.
Ngân sách hoạt động hàng năm của CRÉATIVA (kỹ thuật và chi phí nhân
sự) là 360.000 € bao gồm thuế VAT, và. Là mô hình hoàn toàn tự hạch toán
tài chính thông qua thu nhập hoạt động.
Lợi nhuận kinh doanh tổng đã đạt được mức khả quan từ năm 1995.

23
CREATIVA là trung tâm của mạng lưới trong đó đặc biệt hữu ích cho
những công ty sáng lập và khởi sự
Mạng này bao gồm các tổ chức như: Phòng Thương mại, các chuyên
gia chuyên ngành của IRCE, các RLA (Réseau d'Accueil địa phương), hoặc
HẠT (Grand Avignon Initiative), và các tổ chức tài chính như các ngân hàng ,
quỹ đầu tư rủi ro (SAMENAR, PROENCIA ), đơn vị hỗ trợ kinh doanh
hoặc dịch vụ mạng Angels ALISEE.
CREATIVA cung cấp một trang web lý tưởng với tất cả các phương tiện cầ
n
thiết cho những người thiết lập một công ty, những người có dự án và cho tất
cả bắt đầu khởi sự kinh doanh sản xuấ. Vườn ươm được thừa hưởng các hoạt
động của AGROPARC - một mạng lưới của một loạt các dịch vụ như nghiên

Tại vườn ươm, các doanh nghiệp nhỏ do phụ nữ trong các làng làm chủ
đã được hỗ trợ để khởi sự sản xuất, kinh doanh các ngành chế biến thực phẩm
như: chế biến sữa, phomat. Thời gian ươm tạo thường khoảng 3 năm trước
khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ ra bên ngoài
làng cư trú, Các doanh nhân đ
ã được đào tạo, tập huấn để sản xuất các sản
phẩm với công nghệ thủ công truyền thống của Syria cho đến các công nghệ
sản xuất công nghiệp nhập ngoại (chế biến phomat Mozzarella, Provolla and
Ricotta theo công nghệ Italia).
Các doanh nhân đã được các chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật và kiến thức
kinh doanh của Vườn ươm giúp định hướng các sản phẩm mang tính độc đáo,
chất lượng tốt và có kh
ả năng cạnh tranh cao. Ví dụ: định hướng sản xuất thực
phẩm hữu cơ, thực phẩm không có chất bảo quản, không phụ gia và hóa chất,
dễ dàng được người tiêu dùng ưa chuộng.
Thông qua các mối liên kết với các tổ chức quốc gia và quốc tế, Vườn
ươm VBI đã hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia mạng lưới phân phối sản phẩm
rộng lớn hơn, trên phạm vi toàn quốc và cả
quốc tế (tham gia chuỗi thực
phẩm Italia: “Shamra”, “Express Cafe”, các cửa hàng thực phẩm chất lượng
cao, khách sạn cao cấp như Riviera Hotel )
Người tham gia vườn ươm còn được học các khóa tập huấn về kế toán,
tài chính, cách thiết lập kiên kết với khách hàng và các nhà cung cấp, thương
gia,…đồng thời được tạo cơ hội tham gia các hội chợ, triển lãm, các sự kiện
xúc tiến thương mại.
3.1.2.6. Vườn ươm doanh nghiệp ch
ế biến thực phẩm tại Mỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status