Chiến lược kinh doanh của công ty bánh kẹo hải hà - Pdf 14


1
LỜI MỞ ĐẦU 2
1. Tổng quan về doanh nghiệp 3
1.1.Quá trình hình thành và phát triển 3
1.2. Vai trò, vị trí của doanh nghiệp: 5
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của công ty: 5
1.4. Môi trường kinh doanh của công ty: 9
1.5. Những nét văn hoá công ty: 10
2. Chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà 11
2.1. Về chiến lược kinh doanh: 11
2.1.1 Các loại chiến lược công ty đang áp dụng: 11
2.1.2. Các căn cứ để xây dựng chiến lược: 14
2.2. Kế hoạch kinh doanh của Công ty: 15
3. Công tác tổ chức và quản lí chung: 19
4. Hoạt động Marketing và các chính sách căn bản: 22
4.1. Nghiên cứu thị trường: 22
4.2. Chính sách sản phẩm: 23
4.3. Chính sách giá cả: 25
4.4. Chính sách phân phối: 25
4.5. Chính sách xúc tiến hỗn hợp: 26
5. Vấn đề quản lí các yếu tố : 26
5.1. Về lao động: 26
5.2. Về vấn đề tiền lương: 30
6. Vấn đề về thiết bị công nghệ: 31
7. Tình hình tổ chức tiếp nhận, cung ứng và hạch toán nguyên vật liệu: 33
8. Vấn đề tài chính kế toán của Công ty: 35
9. Đánh giá chung về hoạt động sản xuất kinh doanh ở Công ty: 37
KẾT LUẬN 40 3
1. Tổng quan về doanh nghiệp
1.1.Quá trình hình thành và phát triển

Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ công
nghiệp chuyên sản xuất và kinh doanh các mặt hàng bánh kẹo phục vụ nhu cầu
trong nước và một phần cho thị trường xuất khẩu.
Địa điểm công ty: số 25 đường Trương Định – Q.Hai Bà Trưng – Hà Nội
Tên giao dịch: Hai Ha Confectionery Company.
Tên viết tắt: HAIHACO.
Được thành lập theo quyết định số 216 /23-3-1993/QĐ-BCNN.
Căn cứ theo nghị định số 388/02-11-1991/NĐ-HĐBT .
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 106286 ngày 07/04/1993 do trọng tài
kinh tế Hà Nội cấp.
Đăng kí nhãn hiệu hàng hoá số 5864 theo quyết định số 2348/21.5.1992/QĐ –
cục Sở hữu công nghiệp.
Đăng kí kiểu dáng công nghiệp số 5256 kẹo cứng nhân theo quyết định số
577/7.9.98/QĐ – cục Sở hữu CN.
Ra đời trong hoàn cảnh cơ chế tập trung bao cấp, vì vậy khi nền kinh tế chuyển
sang cơ chế thị trường công ty đã gặp không ít khó khăn và thách thức. Với sự
lãnh đạo sáng suốt của ban lãnh đạo và sự hăng say lao động của công nhân
viên công ty, đến nay Hải Hà đã và đang có một chỗ đứng vững chắc trong tâm trí
của người tiêu dùng với hàng trăm loại sản phẩm bánh kẹo khác nhau.
Các giai đoạn hình thành và phát triển của công ty:
Được thành lập từ năm 1960, đến nay công ty đã trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1959-1969:
Tháng 11 năm 1959 Tổng công ty nông lâm thuỷ sản miền Bắc đã xây
dựng một cơ sở thực nghiệm nghiên cứu hạt trân châu với 9 cán bộ công

m
2
. Nhà máy từng bước mở rộng qui
mô sản xuất, trang bị thêm nhiều dây chuyền sản xuất mới, đổi mới kĩ
thuật và nâng cao công nghệ từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã
hội.
Giai đoạn 1987- 1991:
Từ 1987, nhà máy một lần nữa được đổi tên thành nhà máy kẹo xuất
khẩu Hải Hà thuộc Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quản lí. Sản
phẩm của nhà máy được tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước, chủ yếu là
thị trường Đông Âu. Tốc độ tăng sản lượng hằng năm của nhà máy đạt từ
1% đến 5%, sản xuất từ chỗ thủ công đã dần được cơ giới hoá. Thời kì
này nhà máy mở rộng và phát triển thêm nhiều dây chuyền sản xuất mới.
Đến năm 1990 nhà máy có 4 phân xưởng kẹo.
Giai đoạn 1992 đến nay:
Tháng 1/1992, nhà máy thuộc Bộ Công Nghiệp Nhẹ quản lí.

5
Tháng 7/1992, nhà máy kẹo xuất khẩu Hải Hà được quyết định đổi tên
thành Công ty Bánh kẹo Hải Hà với tên giao dịch HAIHACO thuộc Bộ Công
Nghiệp quản lí. Mặt hàng sản xuất chính là các loại kẹo bao gồm kẹo sữa
dừa, kẹo hoa quả, kẹo cà phê, kẹo cốm và bánh biscuit, bánh kem.
Công ty có 5 xí nghiệp trực thuộc: xí nghiệp kẹo, xí nghiệp bánh, xí
nghiệp phụ trợ, nhà máy thực phẩm Việt Trì, nhà máy bột dinh dưỡng trẻ
em
Tháng 5/1992, Công ty liên doanh với Nhật Bản thành lập Công ty liên
doanh HAIHA-COTOBUKI.
Năm 1995 liên doanh với Công ty Miwon của Hàn Quốc để sản xuất mì
chính tại Việt Trì.
Năm 1996, thành lập công ty liên doanh thứ 3 là công ty Haiha-Kameda

- Bảo toàn và phát triển vốn được giao.
- Thực hiện các nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Thực hiện phân phối theo lao động, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
cho cán bộ nhân viên và nâng cao trình độ chuyên môn…
Nền kinh tế thị trường có sự cạnhtranh gay gắt, các doanh nghiệp phải
sản xuất và bán cái thị trường cần chứ không phải cái họ có. Vậy chỉ có
nghiên cứu thị trường cả chiều rộng và chiều sâu, công ty mới có khả năng
tồn tại và phát triển.
1.4. Môi trường kinh doanh của công ty:

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
- Các yếu tố về kinh tế: Trong những năm gần đây nền kinh tế nước
ta đang phục hồi nhanh chóng, sự phân hoá thu nhập ngày càng cao. Khi
mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu của thị trường về bánh kẹo
sẽ cao hơn về số lượng, chất lượng, hình thức, mẫu mã… Trong những
năm qua, tỉ giá ngoại tệ biến động ổn định với mức tăng trên thị trường
liên ngân hàng trong năm 2001 bình quân 3,2% so với tỉ giá cuối năm
2000. Sự thuận lợi trên thị trường tài chính tiền tệ sẽ tạo điều kiện cho
Công ty đầu tư phát triển.
- Các yếu tố về chính trị, luật pháp: Đối với mặt hàng bánh kẹo Chính
phủ đã có Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm; Luật bản quyền sở
hữu công nghiệp: quy định ghi nhãn mác, bao bì nhằm bảo vệ quyền lợi
của người tiêu dùng và của các công ty sản xuất chân chính. Nhưng việc
quản lí và thi hành của các cơ quan có chức năng không triệt để nên trên
thị trường vẫn còn lưu thông một lượng không nhỏ hàng giả, hàng nhái,
hàng không rõ nhãn mác, hàng kém phẩm chất, quá hạn sử dụng…

7
- Các yếu tố quốc tế: Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế
giới, sự hình thành khối mậu dịch tự do ASEAN (APTA) và việc kí hiệp

bánh kẹo tiêu thụ
- Sản xuất trong
nước
-Nhập ngoại
Nghìn
tấn
-
-

93,0

69,9
23,1
99,5

77,6
21,9
106

83,7
22,3
116

87
29
125

100
25
136


STT
Khu vực
Mức hỗ trợ(đồng/tấn)
1
Trương Định
10.000
2
Nội thành Hà Nội
15.000
3
Ngoại thành Hà Nội, Hà Đông
20.000
4
Vĩnh Phú, Ninh Bình, Hải Phòng
50.000
5
Hải Dương, Hà Tây, Hà Bắc
70.000
6
Quãng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái
90.000
7
Nghệ An, Hà Tĩnh, Lai Châu
110.000
8
Quãng Bình, Quãng Trị, Huế
200.000
9
Quãng Nam, Đà Nẵng, Quãng Ngãi

Công ty
Thị trường
chủ yếu
Sản phẩm
cạnh tranh
Thị
phần
Điểm mạnh
Điểm yếu
Hải Hà
Miền Bắc
Kẹo các loại
7,5%
Uy tín, hệ thống phân
phối rộng, quy mô
lớn, giá hạ
Chưa có sản
phẩm cao cấp,
hoạt động quảng
cáo kém
Hải Châu
Miền Bắc
Kẹo hoa
quả, Sôcôla,
bánh kem
xốp
5,5%
Uy tín, hệ thống phân
phối rộng, giá hạ
Chất lượng chưa

Miền Bắc,
Miền Trung
Kẹo hương
cốm
3%
Giá rẻ, chủng loại
kẹo hương cốm
phong phú
Chủng loại bánh,
kẹo còn ít, quảng
cáo kém
Quãng
Ngãi
MiềnTrung,
Miền Nam
Kẹo cứng,
Snack,
Biscuit
5%
Giá rẻ, hệ thống
phân phối rộng,
chủng loại phong
phú
Bao bì kém hấp
dẫn, hoạt động
quảng cáo kém
Lubico
Miền Nam
Kẹo cứng,
Biscuit các

3%
Chất lượng cao,
mẫu mã đẹp, hệ
thống phân phối
rộng
Giá cao, hoạt
động xúc tiến
bán kém
Nhập
ngoại
Cả nước
Snack, kẹo
cao su, bánh
kem xốp,
Cookies
25%
Mẫu mã đẹp, chất
lượng cao
Giá cao, hệ thống
phân phối kém,
nhiều sản phẩm
có nguồn gốc
không rõ ràng
Các công
ty còn lại
Cả nước
Các loại
30%
Giá rẻ, hình thức đa
dạng

Đối thủ lâu năm: công ty bánh kẹo Hải Châu, công ty bánh kẹo Hữu
Nghị, công ty đường Quãng Ngãi, công ty đường Biên Hoà…
Đối thủ tiềm ẩn: công ty bánh kẹo Kinh Đô, công ty liên doanh sản xuất
kẹo Perfetti Việt Nam. Ngoài ra sản phẩm của công ty còn phải cạnh tranh
với nhiều sản phẩm của nước ngoài như lượng bánh kẹo được nhập khẩu
từ Thái Lan và Mĩ.
1.5. Những nét văn hoá công ty:

Văn hoá công ty là một vấn đề quan trọng mà bất cứ một doanh nghiệp
nào muốn tạo ra một môi trường làm việc hăng say hay những mối quan
hệ tốt đẹp và chặt chẽ giữa các phòng ban, các nhân viên trong công ty …
thì sẽ phải có một sự quan tâm đặc biệt để xây dựng thành công nó.
Trong những năm gần đây, ban lãnh đạo, công đoàn cùng các đoàn thể
trong Công ty đã chú trọng rất nhiều đến văn hoá của Công ty. Bằng các
hoạt động thể thao giao hữu giữa các phòng ban hay hưởng ứng nhiệt liệt
các cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về Bác Hồ hay tổ chức thi văn nghệ chào

11
mừng những ngày lễ lớn… Đó chính là một trong những động lực nâng
cao tinh thần làm việc của toàn bộ công nhân viên, nâng cao tinh thần hợp
tác có hiệu quả giữa các phòng ban. Hằng năm công đoàn Công ty đều tổ
chức đi nghỉ mát, đi lễ chùa cho cán bộ công nhân viên.
2. Chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải

2.1. Về chiến lược kinh doanh:
2.1.1 Các loại chiến lược công ty đang áp dụng:

Đối với bất kì Công ty nào thì vấn đề hoạch định chiến lược kinh doanh
luôn là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh
thường được áp dụng trong thời gian dài và thường ít thay đổi. Chính vì

Bánh bơ Galitte
3,00
130.000
6.500

12
Caramen 150g
6,30
226.800
5.400
Bánh bông lúa
5,20
96.000
4.800
Quy xốp
5,44
94.000
4.700
Kẹo waldisney cứng
7,50
125.000
2.500
Sôcôla bạc hà
5,00
110.000
2.200
Hoa quả mềm
8,75
95.000
1.900

học chuyên nghiệp trong Công ty còn chiếm một tỉ lệ tương đối nhỏ. Trình
độ tay nghề của công nhân đang còn thấp. Hằng năm Công ty vẫn tiếp tục
tuyển thêm lao động có tay nghề, luôn đào tạo cho công nhân mới vào
nghề và đào tạo lại cho những công nhân cũ để nâng cao tay nghề nhằm
làm cho Công ty có được một đội ngũ công nhân có tay nghề vững vàng,
có thể tiếp cận được với những công nghệ mới để làm hàng chất lượng
cao. Như chúng ta biết máy móc thiết bị có hiện đại đến bao nhiêu đi
chăng nữa mà thiếu bàn tay con người thì chất lượng sản phẩm cũng
không được hoàn hảo. Con người nhân tố quan trọng hàng đầu trong mọi
ngành sản xuất, đặc biệt trong ngành sản xuất bánh kẹo cần sự tỉ mỉ, khéo
léo của người lao động
Cuối năm 2002 Công ty sẽ nhập mới công nghệ sản xuất kẹo mềm có
nhân. Đây là thiết bị đầu tiên có tại Việt Nam.
Tổ chức mạng lưới kênh phân phối và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ:
Đến cuối năm 2001, Công ty đã thiết lập dược mạng lưới kênh phân
phối khá rộng, với hơn 200 đại lí tại 34 tỉnh thành phố trong cả nước, trong
đó :
Các tỉnh phía Bắc: 134 đại lí
Các tỉnh miền Trung: 38 đại lí
Các tỉnh phía Nam: 13 đại lí.
So với miền Bắc và miền Trung, miền Nam - một khu vực thị trường rộng
lớn – mà chỉ có 13 đại lí là còn quá ít. Do tình hình tài chính và khoảng
cách về địa lí mà Công ty chưa có khả năng mở rộng thị trường ở khu vực
phía Nam. Hiện nay Công ty đang áp dụng 3 loại kênh phân phối:
- Kênh trực tiếp, thông qua hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm và
các hội trợ triển lãm.
- Kênh trực tuyến ngắn hạn: Sản phẩm của Công ty tới tay người tiêu
dùng thông qua hệ thống bán lẻ ở các siêu thị và các đại lí bán lẻ có
doanh số lớn.
- Kênh trực tuyến dài: Đây là kênh phân phối chủ yếu của Công ty,

Đặc điểm

Miền Bắc

Miền Trung

Miền Nam
Loại bánh kẹo
tiêu dùng chủ
yếu
Chủ yếu là bánh kẹo
Hải Hà, sau đó là
Tràng An, Hải Châu,
Kinh Đô, Quãng
Ngãi.
Chủ yếu là kẹo Huế và
một phần của Hải Hà,
Qũng Ngãi, Biên Hoà.
Vinabico, Biên Hoà,
Kinh Đô, một phần là
hàng ngoại.
Đặc điểm tiêu
dùng
-Thích mua theo gói.
-Quan tâm nhiều đến
mẫu mã.
- Độ ngọt vừa phải,
- Thích mua theo cân và
xé lẻ theo cái
- Ít quan tâm đến bao

quả.

Sau khi nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu và nắm bắt được những sở thích
của người tiêu dùng trên các đoạn thị trường khác nhau Công ty có các
chiến lược tung sản phẩm, các mặt hàng khác nhau phù hợp với từng
đoạn thị trường. Bất kì chiến lược nào khách hàng cũng luôn là mục tiêu
hàng đầu. Khách hàng dùng gì? khách hàng ưa thích gì? và nhu cầu tiềm
ẩn của khách hàng là gì? Doanh nghiệp phải trả lời được những câu hỏi đó
thì mới có khả năng hoạt động một cách hiệu quả.
- Tình hình tài chính của công ty: Việc đầu tư các loại máy móc thiết bị
hoặc tổ chức một đợt quảng cáo rầm rộ cùng với khuyến mại sản phẩm
phụ thuộc rất lớn vào tình hình tài chính của Công ty. Năm 2001, tổng vốn
ĐTXDCB của Công ty là 6416 (trđ), vốn vay tín dụng nhà nước là 5916
(trđ), vốn tự có của doanh nghiệp là 500 (trđ). Tài chính của Công ty chưa
thực sự lớn để có thể đầu tư liên tục…
- Đối thủ cạnh tranh: Trên thị trường hiện nay công ty bánh kẹo Hải Hà
gặp rất nhiều các đối thủ lớn như: Hải Châu, Kinh Đô… mỗi một Công ty
đều có những chiến lược cụ thể để phát triển doanh nghiệp mình. Vì vậy
để đề ra được một chiến lược cơ bản Công ty phải quan tâm tới đối thủ
của mình sao cho có lợi nhất. Phải tìm hiểu được điểm mạnh, điểm yếu
của từng đối thủ để có thể vượt lên trên họ đấy cũng là điểm quan trọng để
phát triển doanh nghiệp.
2.2. Kế hoạch kinh doanh của Công ty: 16
Các chỉ tiêu chủ yếu năm 2002 của công ty bánh kẹo Hải Hà
(Theo công văn số 4742/ CV-KHĐT ngày 9 tháng11 năm 2001 của Bộ CN)

Nhìn vào bảng kế hoạch năm 2002 của công ty bánh kẹo Hải Hà ta thấy:

155.200
163.000
105%
105%
II
Tổng doanh thu
Trđ
217.894
230.700
242.000
106%
105%

Trong đó doanh thu sxcn
Trđ
164.072
173.200
182.00
106%
105%
III
Sản phẩm chủ yếu
Tấn
11.730
11.837
12.400
101%
105%

Kẹo bánh các loại


Trong đó vật tư cho SX

1.169
1.100
1.100
94%
100%
VII
Tổng vốn ĐTXDCB
Trđ
6.704
6.416
32.869
96%
512%

Trong đó xây lắp
Trđ
1.419
1.800
5.500
127%
306%

Thiết bị
Trđ
5.285
4.616
27.369

17
Về tỉ lệ tăng sản lượng công nghiệp năm 2002 so với năm 2001 và năm
2001 so với năm 2000 là như nhau (105%). Hằng năm tổng sản lượng
công nghiệp vẫn tăng nhưng tăng với một tỉ lệ không đổi.
Về tổng doanh thu: năm 2002 vẫn tăng(105%) nhưng tốc độ tăng thì
giảm đi so với tốc độ tăng của năm 2001(106%).
Mặt hàng sản xuất chủ yếu của Công ty vẫn là bánh kẹo.
Kế hoạch năm 2002 về xuất khẩu:
Về giá trị:
Về sản lượng:

Giá trị năm 2002 so với năm 2001 là 140% tăng 40% nhưng sản lượng
năm 2002 so với 2001 là 97% giảm 3% nghĩa là Công ty sẽ giảm sản
lượng xuất khẩu nhưng những mặt hàng xuất khẩu sẽ có chất lượng cao
hơn đồng nghĩa với việc tăng giá bán làm cho doanh thu xuất khẩu tăng
lên.

0
50
100
150
200
KH2000
KH2001
TH2002
0
20

- Căn cứ vào tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất và sản phẩm cùng kì
năm ngoái. Phòng kinh doanh có trách nhiệm theo dõi thống kê tình
hình cung ứng, sản xuất và tiêu thụ từng loại sản phẩm.
- Căn cứ vào nguồn lực có thể khai thác được của Công ty như: Vốn,
nhân lực, MMTB…
- Căn cứ vào hệ thống định mức kinh tế kĩ thuật của Công ty. Hệ thống
này được xây dựng, kiểm tra ở phòng thí nghiệm và thực tế sản xuất
của các phân xưởng, đồng thời có sự tham khảo so sánh với hệ thống
tiêu chuẩn của ngành.
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
35000
TH2000
TH2001
KH2002

19
- Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã được kí kết.
Từ các căn cứ trên ban kế hoạch lập bản kế hoạch rồi trình lênTổng
giám đốc xem xét, sửa đổi và phê duỵêt. Ban kế hoạch kiểm tra, giám sát
tình hình thực hiện kế hoạch và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc. Tất
cả các căn cứ để lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty đều là
những con số gần như cụ thể, Công ty phải chắc chắn rằng sản phẩm làm
ra tiêu thụ được hết và có lãi. Không thể đưa ra 1 kế hoạch mà tình hình
thị trường còn đang mơ hồ như vậy thua lỗ là điều không tránh khỏi.

Cùng với sự chuyển đổi nhà máy sang hình thức Công ty, Công ty đã mạnh
dạn đổi mới mô hình cơ cấu tổ chức quản lí theo hướng tinh giảm, gọn nhẹ và đạt
hiệu quả cao. Công ty áp dụng mô hình tổ chức đa bộ phận với cơ cấu tổ chức
trực tuyến - chức năng nghĩa là: Các công việc hằng ngày của các phân xưởng
thuộc trách nhiệm của các cán bộ quản lí phân xưởng nhưng các kế hoạch và
chính sách dài dạn phải nghiêm chỉnh tuân theo kế hoạch và hướng dẫn thực
hiện của Tổng giám đốc công ty để phối hợp giữa các phân xưởng thực hiện mục
tiêu chung của Công ty; Tổng giám đốc quản trị Công ty theo chế độ một thủ
trưởng. Các phòng chức năng có trách nhiệm tham mưu cho toàn bộ hệ thống

XN
kẹo
TỔNG GIÁM ĐỐC
PTGĐ KỸ
THUẬT
PTGĐ KINH
DOANH
PTGĐ TÀI
CHÍNH
P. kế toán
P. tài vụ

P. kinh doanh
P. kĩ thuật

Văn phòng
Tổ
chức
Hành
chính
Bảo
vệ
Nhà
ăn
Y tế

XN
bánh
GĐ XN
phụ trợ
GĐNM
thực
phẩm
ViêtTrì
GĐNM
BDD
Nam
Định

21
trực tuyến đề xuất, đưa ra những quyết định khi được Tổng giám đốc thông qua
sẽ trở thành mệnh lệnh truyền đạt từ trên xuống dưới theo tuyến đã qui định.
Mô hình cơ cấu tổ chức trên đã tạo điều kiện cho Công ty thực hiện tốt các dự
án liên doanh với nước ngoài. Tập trung quản lí về Công ty đồng thời nâng cao
tinh thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo ở các phân xưởng thành viên, tăng

22
- Phòng kinh doanh: có 1 trưởng phòng, 2 phó phòng và 56 nhân viên. Có chức
năng: lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, điều độ sản xuất và thực hiện kế hoạch,
cung ứng vật tư sản xuất, cân đối kế hoạch, thu mua và kí hợp đồng thu mua vật
tư thiết bị, kí hợp đồng và theo dõi việc thực hiện hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, tổ
chức hoạt động marketing từ quá trình sản xuất đến tiêu thụ, thăm dò thị trường
quảng cáo và lập dự án phát triển cho những năm tiếp theo, bảo quản và dự trữ
nguyên vật liệu, sản phẩm làm ra chưa tiêu thụ…
- Phòng kĩ thuật có 10 người. Có chức năng: theo dõi việc thực hiện các quá
trình công nghệ để đảm bảo chất lượng sản phẩm ngay trong các quá trình sản
xuất, kiểm tra sản phẩm ngay trên dây truyền công nghệ, nghiên cứu chế thử sản
phẩm mới…
- Phòng KCS có 6 người. Có chức năng kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu
đầu vào và chất lượng sản phẩm đầu ra sao cho đạt tiêu chuẩn đã đề ra…
- Phòng tài vụ, kế toán có chức năng: ghi chép, phản ánh tổng hợp chính xác
mọi sự biến động về số lượng và giá trị của tài sản, tính toán và phân bổ mức
khấu hao TSCĐ vào chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, hạch toán các
khoản thu chi của doanh nghiệp, phát lương thưởng cho cán bộ công nhân viên…
Mỗi phòng ban có từng nhiệm vụ, chức năng khác nhau nhưng giữa chúng lại
có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo điều kiện thúc đẩy nhau cùng phát triển. Bộ
phận này làm tốt nhiệm vụ sẽ giúp cho bộ phận khác hoàn thành nhiệm vụ của
mình một cách kịp thời nhất.
4. Hoạt động Marketing và các chính sách căn bản:
4.1. Nghiên cứu thị trường:

Hiện nay công ty chưa có phòng Marketing, công việc nghiên cứu thị trường
thuộc về phòng kinh doanh. Do đó khối lượng công việc mà phòng kinh doanh
đảm nhận quá lớn nên hiệu quả công việc chưa cao.
Công ty thu thập thông tin qua các đại lí trung gian, hội chợ, triễn lãm và thông
qua các cuộc tiếp xúc với khách hàng. Việc nghiên cứu thị trường góp phần rất

Năm 2001 Công ty đã cung cấp ra thị trường cả nước hơn 11.700 tấn bánh
kẹo với 124 chủng loại sản phẩm, trong đó nhiều sản phẩm được người tiêu dùng
ưa chuộng như: bánh Cracker, bánh kem xốp, bánh qui dâu dừa, kẹo xốp cam,
kẹo cứng nhân Sôcôla, kẹo Caramen… với chất lượng cao, mẫu mã bao bì mới
hấp dẫn, đa dạng đủ sức cạnh tranh với bánh kẹo cùng loại của đối thủ trong và
ngoài nước.
Tình hình quản lí và nâng cao chất lượng sản phẩm:

24
Chính sách sản phẩm của Công ty đã bắt đầu tập trung vào hướng tăng tỉ
trọng sản phẩm có chất lượng và giá trị cao, giảm dần tỉ trọng sản phẩm cấp thấp,
cơ cấu các mặt hàng chủng loại sản phẩm từ phát triển theo chiều rộng chuyển
dần sang phát triển theo chiều sâu. Công ty cũng chú ý cải tiến bao bì, mẫu mã
sản phẩm sao cho vừa đáp ứng được các yêu cầu của quá trình bảo quản, vận
chuyển vừa có tính hấp dẫn người tiêu dùng và tiện lợi trong sử dụng. Tuy vậy
hiện tại tỉ trọng các sản phẩm cao cấp vẫn chiếm một tỉ lệ không lớn trong tổng số
sản phẩm của Công ty và chưa có được chất lượng, mẫu mã ngang tầm với bánh
kẹo cao cấp của thế giới.
Công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm thuộc phòng kĩ thuật. Bộ phận KCS
chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát về chất lượng, số lượng khâu đưa nguyên liệu
vào và khi sản phẩm nhập kho. Ngoài ra Công ty thường xuyên kiểm tra xác suất
các đại lí về chất lượng, hạn dùng các lô sản phẩm của Công ty để bảo vệ sức
khoẽ người tiêu dùng và uy tín của Công ty. Để bảo đảm chất lượng sản phẩm
đặc biệt là sản phẩm cao cấp trong thời gian 1-2 năm tới Công ty sẽ áp dụng hệ
thống quản lí chất lượng ISO 9000.
Tình hình phát triển sản phẩm mới:
Công ty có 2 hướng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới:
- Hướng thứ nhất là sản phẩm cải tiến trên cơ sở sản phẩm cũ. Hằng năm
Công ty đưa ra thị trường từ 10 đến 15 sản phẩm mới, chỉ được thay đổi về
hình thức so với sản phẩm cũ, còn vẫn giữ nguyên hương vị, chất lượng, số

Với hơn 200 đại lí và siêu thị tại các tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó
tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung, ở miền Bắc hệ thống kênh
phân phối của Công ty được coi là mạnh nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo
nước ta. Trong những năm tới, Công ty cần tổ chức sắp xếp lại mạng lước tiêu
thụ hiện có , mở các đại lí ở miền Trung, miền Nam và tuyến huyện ở các tỉnh
phía Bắc, hợp tác mở văn phòng đại diện, cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở các
nước ASEAN để thâm nhập vào thị trường này.
Ngoài ra Công ty còn áp dụng nhiều hình thức giao dịch, thanh toán thuận lợi
như: bán hàng đăng kí qua điện thoại, vận chuyển hàng đến tận nơi…
Chế độ ưu đãi trong thanh toán hiện nay ở Công ty.
Nội dung
Chế độ ưu đãi
Đại lí trả tiền chậm
Được trừ 2% chiết khấu
Đại lí trả tiền ngay
Được trừ 2,9% chiết khấu
Đại lí thanh toán trước thời hạn qui
định
Được giảm tương ứng với lãi suất ngân hàng
theo số ngày thanh toán trước thời hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status