Mã số: …………….
TÊN CÔNG TRÌNH:
ĐIỂM GÃY CẤU TRÚC VÀ MÔ HÌNH TỶ GIÁ
THỰC HIỆU LỰC CÂN BẰNG Ở VIỆT NAM –
PHƢƠNG PHÁP NATREX
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tỷ giá hối đoái là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia. Nó
được xem như một công cụ làm cân bằng hệ thống giá cả trong nước và thế giới và tác
phương pháp đồng liên kết có xem xét điểm gãy cấu trúc để đo lường chính xác hơn
mức độ định giá sai đồng Nhân dân tệ.
Tiếp tục xu hướng đó, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Điểm gãy cấu
trúc và mô hình tỷ giá thực hiệu lực cân bằng ở Việt Nam-phương pháp NATREX”
nhằm xây dựng một mô hình NATREX mở rộng có xét đến điểm gãy cấu trúc, xác
định tỷ giá hối đoái thực cân bằng trong trung và dài hạn cho đồng Việt Nam và xem
xét vấn đề liệu rằng đồng Việt Nam có bị định giá sai hay không. Nếu có thì mức độ
định giá sai là bao nhiêu và tầm ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế như thế nào.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu tập trung vào bốn câu hỏi chính như sau:
Mô hình NATREX mà Stein đưa ra vào năm 1995 cho Mỹ và các nước công
nghiệp phát triển có áp dụng được cho Việt Nam hay không? Và nếu áp dụng thì liệu
có phải thay đổi gì không?
Những biến số kinh tế nào sẽ ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực cân bằng của
đồng Việt Nam trong trung và dài hạn.
Liệu đồng Việt Nam có bị định giá sai không? Và nếu có thì mức độ sai lệch
với giá trị thực là bao nhiêu?
Liệu các điểm gãy cấu trúc có xảy ra tại Việt Nam không, và nó tác động thế
nào đến tỷ giá hối đoái thực hiệu lực cân bằng? Từ đó tác động thế nào đến mức độ
định giá sai?
3
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vì NATREX là khái niệm tỷ giá cân bằng trong trung và dài hạn nên chúng tôi ứng
dụng phương pháp đồng liên kết cho các ước tính của mình. Trước khi tiến hành ước
lượng phương trình đồng liên kết, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra tính dừng của các
biến trong chuỗi dữ liệu bằng kiểm định của Ng & Perron 2001. Sau đó, chúng tôi ước
lượng mô hình NATREX cho Việt Nam dưới ba trường hợp: (1) không xét đến điểm
gãy cấu trúc, (2) có xét đến một điểm gãy cấu trúc và (3) xét đến hai điểm gãy cấu
trong các giai đoạn. Từ đó, tìm kiếm nguyên nhân và một số gợi ý chính sách từ việc
xác định mức độ sai lệch trên.
6. HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Do còn nhiều hạn chế trong phần thu thập dữ liệu và xử lí số liệu nên nhóm vẫn còn
phân vân trong việc đưa ra kết luận chính xác mô hình nào là phù hợp nhất cho Việt
Nam (mô hình có xét đến điểm gãy hay không xét đến điểm gãy). Chính vì vậy, bài
nghiên cứu này vẫn còn chưa hoàn chỉnh và kết quả cần phải kiểm tra thêm, bao gồm
việc xây dựng mô hình, lựa chọn các biến số, thu thập và xử lí số liệu.
Tuy nhiên, kết quả này cũng cho thấy còn có nhiều vấn đề cần phải tìm hiểu thêm và
phân tích sâu hơn về cách thức quản lý tỷ giá cũng như xác định cơ chế tỷ giá phù hợp
cho Việt Nam. Một số hướng phát triển tiếp theo của đề tài có thể là phân tích mức
định giá sai tỷ giá thực sẽ tác động thế nào đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt
Nam. Hoặc phân tích, so sánh các tác động của việc neo đồng tiền Việt Nam theo
USD hay là theo một rổ tiền tệ đối với giá trị thực của VND cũng như đối với nền
kinh tế và từ đó xây dựng rổ tiền tệ hợp lý để neo đồng tiền Việt Nam. MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH ii
DANH MỤC BẢNG iii
LỜI MỞ ĐẦU iv
1. CỞ SỞ LÍ THUYẾT 1
1.1 Tỷ giá cân bằng 1
1.2 Các phương pháp đo lường tỷ giá hối đoái cân bằng 2
1.2.1 Phương pháp ngang giá sức mua (PPP): 2
1.2.2 Tỷ giá hối đoái cân bằng cơ bản (FEER): 3
1.2.3 Tỷ giá hối đoái cân bằng hành vi (BEER) 4
1.2.4 Tỷ giá hối đoái thực tự nhiên (NATREX) 4
5.5. Đầu tư công của Việt Nam (GI): 36
5.6. Độ mở thương mại (OPEN): 36
5.7. Chỉ số phụ thuộc trẻ và già tương đối (DEPY) và (DEPO): 36
5.8. Hạn chế thanh khoản (LIQC): 37
5.9. Lãi suất thực của Mỹ (rus): 37
6. PHƢƠNG PHÁP CHẠY MÔ HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 37
6.1. Chạy mô hình NATREX không xét đến điểm gãy 37
6.1.1. Bƣớc 1: Kiểm tra tính dừng của các biến 37
6.1.2. Bƣớc 2: Kiểm định đồng liên kết đối với các chuỗi I(1) và ước lượng mô hình
cân bằng trong dài hạn sử dụng kiểm định đồng liên kết của Johansen. 38
6.1.3. Bƣớc 3: Khi có mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến, ta thực hiện ước lượng
phương trình theo vecto đồng liên kết Johansen để thể hiện mối cân bằng trong dài
hạn của các biến 40
6.1.4. Bƣớc 4: Tính NATREX và tính độ sai lệch 41
6.2. Chạy mô hình NATREX có một điểm gãy 42
6.2.2. Bƣớc 2: Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết cho phép một điểm gãy nội sinh
bằng phương pháp GH 42
6.2.3. Bƣớc 3: Ước lượng mô hình, tính NATREX và xác định độ sai lệch: 43
6.3. Chạy mô hình NATREX có hai điểm gãy 45
6.3.1. Bƣớc 1: Kiểm định tính dừng 46
6.3.2. Bƣớc 2: Kiểm định mối quan hệ đồng liên kết cho phép hai điểm gãy nội sinh
bằng phương pháp Hatemi-J. 46
6.3.3. Bƣớc 3: Ước lượng mô hình 47
6.4. So sánh kết quả hai trường hợp giữa có gãy và không có gãy 47
7. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
HÌNH 10.TNG MNH GIÁ SAI CA T GIÁ THN 2000-2010
PHÁP BEER 52 iii
DANH MỤC BẢNG
BNG 1. DANH SÁCH 20 I CA VIT N TÍNH REER 35
BNG 2. DANH SÁCH 13 I CA VIT N TÍNH CÁC CH TIÊU
I 35
BNG 3. KINH TÍNH DNG CA CÁC BIN 38
BNG 4. KI NG LIÊN KT JNG HP KHÔNG CÓ GÃY TH
NHT 38
BNG 5. KING LIÊN KT JNG HP KHÔNG GÃY TH 2 39
BNG 6. KING LIÊN KT CÓ MM GÃY GH NG HP 42
BNG 7. KING LIÊN KT CÓ MT MM GÃY GH NG HP 2 43
BNG 8. KING LIÊN KM GÃY HJ 46
BNG 9. T TR I CA VIT N I VI MT S I TÁC GIAI
N 2003 - 2011 55
iv
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay toàn cầu hóa là một xu hướng phát triển quan trọng trên thế giới, giúp tạo
nên một mạng lưới kết nối các nền kinh tế của các quốc gia lại với nhau. Nhưng để
hội nhập toàn cầu tốt lại là một quá trình đầy thách thức. Trong quá trình đó, chính
sách tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng và là một vấn đề phức tạp, nhạy cảm
đối với các nền kinh tế; đã có không ít quốc gia gặp khủng hoảng và chao đảo vì vấn
đề này. Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải có một chính sách quản lý ngoại hối và cơ chế
điều hành tỷ giá hối đoái thích hợp.
cứu trước đây về xác định tỷ giá cân bằng ở Việt Nam, phương pháp NATREX và
phương thức xác định mối quan hệ đồng liên kết có xét đến điểm gãy cấu trúc nội
sinh. Phần 3 phác thảo và phân tích mô hình NATREX mở rộng. Phần 4 trình bày
phương pháp thực nghiệm. Phần 5 mô tả dữ liệu ở Việt Nam. Phần 6 trình bảy phương
pháp chạy mô hình và các kết quả thực nghiệm của Việt Nam. Phần 7 tóm tắt lại các ý
chính của bài và đề xuất các chính sách cần thiết.
1
1. CỞ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Tỷ giá cân bằng
Tỷ giá hối đoái cân bằng là tỷ giá được xác định khi lượng cung ngoại tệ bằng lượng
cầu ngoại tệ tại một mức giá nội địa cụ thể, trong đó cầu ngoại tệ xuất phát từ nhu cầu
về hàng hóa, dịch vụ và tài sản tài chính của nước ngoài, còn cung ngoại tệ xuất phát
từ nhu cầu về hàng hóa nội địa của nước ngoài.
Tỷ giá cân bằng thường được xác định trên cơ sở tỷ giá thực thay vì tỷ giá danh
nghĩa.Vì: thứ nhất là các quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng và quyết định sản
xuất của người sản xuất phần lớn dựa trên các điều kiện thực và không dựa trên điều
kiện danh nghĩa. Thứ hai là hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát
triển và các quốc gia mới nổi thì chấp nhận một chế độ tỷ giá cứng nhắc, trong đó tỷ
giá danh nghĩa thì cố định hoặc được neo theo một đồng tiền hoặc một rổ các đồng
tiền chủ yếu của thế giới. Vì vậy, sự phân tích sẽ bị hạn chế nếu nghiên cứu trên sự
thay đổi của tỷ giá danh nghĩa.
Nếu dựa trên phương diện thời gian thì tỷ giá cân bằng được chia thành 3 loại: tỷ giá
cân bằng trong ngắn hạn, trong trung hạn và trong dài hạn.
- T giá cân bng trong ngn hn: là tỷ giá được xác định dựa trên giá trị hiện
tại của các nhân tố cơ bản sau khi đã loại bỏ ảnh hưởng của các hiệu ứng ngẫu nhiên
(ví dụ như hiệu ứng bong bóng trên thị trường tài sản). Nếu trong ngắn hạn nền kinh
tế bị mất cân bằng thì trong ngắn hạn tỷ giá sẽ phải thay đổi để giúp thị trường cân
bằng trở lại. Vì vậy, tỷ giá cân bằng trong ngắn hạn được xác định dựa trên giá trị hiện
hành của các nhân tố cơ bản hơn là giá trị cân bằng của chúng. Tỷ giá cân bằng trong
hạn. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hiện hành có thể lệch ra
khỏi tỷ lệ PPP. Sự lệch khỏi này sẽ được xem như là sự đánh giá cao hoặc đánh giá
thấp giá trị đồng nội tệ.
Khi ứng dụng phương pháp PPP có một số hạn chế sau: Thứ nhất là quy luật một giá
không xem xét đến khả năng xảy ra rào cản thương mại (hàng rào thuế quan và phi
3
thuế quan), kiểm soát vốn và chính sách quản lý giá. Hai là, PPP không còn chính xác
nữa khi có sự thay đổi của tỷ trọng giữa khu vực trong nước và nước ngoài hay tỷ
trọng giữa các sản phẩm, sự tồn tại của hàng hóa phi mậu dịch, hay sự khác nhau
trong năng suất của khu vực hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch. Cuối cùng, sự cứng
nhắc trong giá danh nghĩa làm cho tỷ giá hiện hành hội tụ chậm về tỷ giá thực PPP
trong dài hạn.
1.2.2 T giá hn (FEER):
FEER là tỷ giá hối đoái được xác định khi có sự cân bằng bên trong và bên ngoài xảy
ra đồng thời. Cân bằng bên trong đạt được khi nền kinh tế đạt tại mức sản lượng tiềm
năng trong điều kiện toàn dụng lao động và hoạt động trong môi trường lạm phát thấp.
Cân bằng bên ngoài được thể hiện qua trạng thái bền vững của cán cân thanh toán
trong trung hạn. Tiêu chuẩn tối thiểu đối với cân bằng bên ngoài là sự cân bằng tài
khoản vãng lai tại một mức bền vững. Đồng thời phải loại bỏ các nhân tố chu kỳ và
đầu cơ trong ngắn hạn trong thị trường ngoại hối thì lúc này FEER được xác định dựa
vào các nhân tố kinh tế cơ bản mà được kỳ vọng duy trì trong trung hạn. Vì vậy, về
bản chất thì FEER xem xét mô hình tỷ giá cân bằng trong trung hạn.
FEER được xem như là một phương pháp tiêu chuẩn đo lường tỷ giá cân bằng, bởi vì
FEER là tỷ giá phù hợp với điều kiện cân bằng kinh tế vĩ mô lý tưởng (sự cân bằng
bên trong và bên ngoài). Trái lại với phương pháp PPP, phương pháp FEER xem xét
tỷ giá cân bằng sẽ thay đổi theo thời gian.
Các nhân tố dẫn hướng cho quỹ đạo của FEER là:
Thứ nhất là tốc độ tăng trưởng sản lượng tiềm năng trong điều kiện lạm phát thấp ở cả
hai nền kinh tế nội địa và nước ngoài.
đổi cấu trúc quan trọng trong ngắn hạn hoặc đối với những dữ liệu dài hạn không có
sẵn. Hơn nữa, độ nhạy của các ước lượng đối với việc lựa chọn dữ liệu làm cho BEER
không còn chính xác vì BEER là một mô hình thực nghiệm, không có một cấu trúc
nào được đưa ra. Và không có bất kỳ một lý thuyết nào hướng dẫn lựa chọn các biến
nhân tố cơ bản trong phương pháp BEER.
1.2.4 T giá hc t nhiên (NATREX)
5
Theo Stein (1994) thì NATREX là tỷ giá hối đoái thực cân bằng sau khi đã loại bỏ các
nhân tố chu kỳ và dòng vốn đầu cơ, tỷ lệ thất nghiệp là tự nhiên. NATREX dựa trên
ba nền tảng lý thuyết cơ bản:
Thứ nhất là dựa trên lý thuyết tài khoản thu nhập quốc gia tiêu chuẩn:
I - S + CA = 0
Trong đó I là đầu tư, S là tiết kiệm và CA là tài khoản vãng lai. Mức tiết kiệm và đầu
tư phụ thuộc vào lưu lượng vốn, của cải và nợ nước ngoài ròng.
Công thức trên cho thấy sự cân bằng trong trung hạn khi nền kinh tế đạt được mức sản
lượng tiềm năng và đạt được kỳ vọng về lạm phát, tương tự như phương pháp FEER.
Cân bằng trung hạn có thể được thể hiện bởi những điều kiện sau: (a) Thị trường
chứng khoán nội địa cân bằng; (b) Dòng vốn đầu cơ ngắn hạn và các nhân tố chu kỳ
được loại bỏ; (c) Bất cứ chênh lệch nào giữa đầu tư và tiết kiệm được bù đắp bằng
nguồn cung chứng khoán mậu dịch dài hạn. NATREX trung hạn là tỷ giá cân bằng
phù hợp với sự cân bằng cán cân thanh toán hay sự cân bằng kinh tế vĩ mô.
Thứ hai là theo Stein (1994), các nhân tố cơ bản là sự biến động năng suất và tiết kiệm
xã hội (sự ưa thích theo thời gian của tiêu dùng/ chi tiêu vốn của chính phủ và hộ gia
đình) trong nước và nước ngoài, được thể hiện bởi nhân tố Z(t). Các nhân tố cơ bản
được xác định là ngoại sinh không chỉ tác động đến đầu tư, tiết kiệm và tài khoản
vãng lai mà còn tác động đến quỹ đạo của NATREX. Z(t) sẽ tác động đến sự hình
thành vốn, tỷ lệ tích lũy nợ và lãi suất. Vì tiết kiệm và đầu tư thay đổi nên NATREX
thay đổi theo. Nói cách khác, phương pháp NATREX là phương pháp động (thể hiện
qua sự thay đổi trong dòng vốn và nợ) mà sau đó tác động trở lại sự cân bằng kinh tế
mô tả quỹ đạo di chuyển của tỷ giá từ ngắn
hạn đến trung hạn, và
thể hiện quỹ đạo trong dài hạn (từ vị
trí cân bằng trong trung hạn đến vị trí cân bằng trong dài hạn).
Sự ứng dụng của phương pháp NATREX thì đơn giản hơn hàm ý của lý thuyết.
NATREX được ước lượng bằng cách xác định mối tương quan đồng liên kết trong dài
hạn giữa tỷ giá thực và các nhân tố cơ bản (năng suất và sự ưa thích theo thời gian);
phần điều chỉnh sai số được dùng để xác định quỹ đạo của tỷ giá thực theo hướng
NATREX. Lý thuyết được sử dụng để giải thích tại sao tỷ giá thực thay đổi theo một
cách nhất định và dự báo tỷ giá có thể thay đổi theo thời gian như thế nào. Ví dụ, một
7
sự tăng giá trong trung hạn của tỷ giá thực có thể phù hợp với một sự gia tăng trong
chi tiêu công, điều mà làm gia tăng tổng cầu và làm xấu đi tình trạng của tài khoản
vãng lai. Vì vậy, lý thuyết cho thấy rằng một sự giảm giá trong tỷ giá thực là điều cần
biến nhân tố kinh tế cơ bản như là sự khác biệt về năng suất, tài sản nước ngoài ròng,
giá tương đối giữa hàng xuất khẩu nhập khẩu, độ mở của nền kinh tế, sự khác biệt về
lãi suất thực, chi tiêu chính phủ và FDI. Kết quả ước lượng cho thấy đồng tiền của
Việt Nam đã liên tục bị định giá cao trong 3 năm đầu của thập kỷ vừa qua và tiếp tục
xu hướng đó trong 3 năm gần đây với mức độ còn nghiêm trọng hơn trước. Xen giữa
hai giai đoạn này là giai đoạn mà đồng tiền bị định giá thấp nhưng không ổn định
trước khi khủng hoảng toàn cầu xảy ra. Kết quả cũng cho thấy còn có nhiều vấn đề
cần được tiếp tục thảo luận và phân tích sâu hơn về cách thức, công cụ, ưu tiên chính
sách trong vấn đề quản lý tỷ giá trong thời gian qua. Từ đó sẽ giúp cho việc điều hành
tỷ giá trong tương lai hiệu quả, linh hoạt hơn, tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi cho
nền kinh tế.
Một bài nghiên cứu khác là “Chênh lệch tỷ giá hối đoái thực đa phương và tỷ giá thực
đa phương cân bằng của Việt Nam” do nhóm tác giả TS. Hạ Thị Thiều Dao và ThS.
Phạm Thị Bình Minh thực hiện. Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả đã dựa vào
mô hình của Edwards (1988), Elbadawi (1998), Montiel (1999) và phân tích các biến
số kinh tế nền tảng của Việt Nam, để xác định mô hình các nhân tố tác động đến tỷ giá
thực đa phương của Việt Nam với các biến như trong phương trình sau:
LREERt=α0+β1LOPENt+β2TOTt+β3GOVEX+β4PRODt+β5LDCt+β6NFAt+εt (2)
9
Và từ đó tính toán tỷ giá hối đoái thực cân bằng của Việt Nam, xác định mức độ sai
lệch giữa tỷ giá hối đoái thực cân bằng và tỷ giá hối đoái thực tế.
2.2 Mô Hình NATREX
Phương pháp NATREX đã được ứng dụng rất nhiều trong các bài nghiên cứu trước
đây trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực cân bằng có hiệu lực trong trung và dài
hạn cho nhiều nền kinh tế khác nhau và trong nhiều khung thời gian khác nhau.
Ví dụ, Stein (1995, 1997) đã sử dụng mô hình NATREX để giải thích sự phát triển
của tỷ giá hối đoái thực của đồng USD trong suốt thời kỳ theo cơ chế tỷ giá thả nổi
1976 – 1992. Những nhân tố cơ bản quyết định đến tỷ giá hối đoái thực cân bằng hay
còn được gọi là Natural Real Exchange Rate (NATREX) được xác định trong bài
thế giới như thế nào. Ví dụ Mỹ là một nền kinh tế lớn, có tác động đến tỷ giá thương
mại và lãi suất thế giới nên những biến này trong mô hình được xem như là những
biến nội sinh. Còn đối với Úc được xem như một nền kinh tế nhỏ không có thể tác
động đển tỷ giá thương mại hay lãi suất thế giới thì những biến này sẽ được xem như
là biến ngoại sinh trong NATREX. Hay khi Holger và các cộng sự (2002) ứng dụng
NATREX cho Trung Quốc, họ đã kết hợp thêm một số biến khác như yếu tố di cư hay
năng suất vào mô hình và sử dụng phương pháp ARDL để đạt được kết quả thực
nghiệm. Một trường hợp nữa của Duval (2002) ứng dụng phương pháp NATREX
trong khối Euro Zone bằng việc sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và phương pháp đồng
liên kết của Johansen giữa các biến có liên quan. Kefei YOU, Nicholas SARANTIS
(2008) cũng đã xem xét sự ứng dụng của mô hình NATREX trong trường hợp của
Trung Quốc với sự mở rộng của các yếu tố cơ bản đặc trưng của Trung Quốc kết hợp
với việc thêm vào tác động của điểm gãy cấu trúc trong bài nghiên cứu “Structural
breaks and the equilibrium real effective exchange rate of China: A NATREX
approach”.
Như vậy, có thể thấy rằng phương pháp NATREX đã được sử dụng ở nhiều quốc gia
khác nhau, nhưng hầu hết những nghiên cứu được đề cập trên là ứng dụng phương
pháp NATREX trong khuôn khổ một quốc gia và phần còn lại của thể giới được xem
như là đã được cho sẵn. Tuy nhiên nghiên cứu gần nhất (2007) của Mariama và
Daniela đã lần đầu tiên mở rộng phương pháp NATREX một quốc gia sang trường
11
hợp của hai quốc gia và xây dựng một mô hình NATREX hai quốc gia giữa USA và
Euro zone.
2.3 Các phƣơng pháp xác định đồng liên kết có xác định điểm gãy
Như chúng ta đã biết, mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến số kinh tế được
nghiên cứu bằng các kiểm định đồng liên kết. Các kiểm định đồng liên kết thông
thường như kiểm định đồng liên kết của Engle and Granger (1987) và Johansen (1988,
1991) chỉ cho phép kiểm định mối quan hệ dài hạn trong điều kiện không xét đến các
điểm gãy trong cấu trúc. Mà các điểm gãy cấu trúc lại xuất hiện sau những thay đổi