MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ chế cũ, nhà nước quản lý và điều hành nền kinh tế đất nước
theo phương thức mệnh lệnh, hành chính, bao cấp, vì vậy, các giao dịch dân
sự hầu như không phát triển, các giao dịch này chủ yếu dựa trên sự tin cậy,
các thỏa thuận được thực hiện phần lớn bằng lời nói, viết tay hoặc do cơ quan
hành chính nhà nước thị thực. Vì vậy, quản lý nhà nước nói chung, quản lý
nhà nước về công chứng nói riêng, chưa được quan tâm một cách thấu đáo,
làm ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao lưu dân sự, kinh tế và xã
hội.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế làm
gia tăng các giao dịch dân sự, đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp hữu
hiệu để quản lý các giao dịch dân sự, kinh tế, cũng như bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, công dân,
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội.
Cùng với sự ra đời của Luật Công chứng là sự xuất hiện của các Văn
phòng công chứng (VPCC). Điều này đã khắc phục được những hạn chế đáng
kể như sự quá tải của các Phòng Công chứng, cũng như việc phân định giữa
công chứng và chứng thực, vấn đề phân cấp, phân quyền trong quảm lý nhà
nước (QLNN) về công chứng… Sự ra đời của VPCC đã góp phần chuyên
nghiệp hóa và xã hội hóa hoạt động công chứng được coi là bước đột phá
trong cải cách hoạt động công chứng ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc ra đời của
VPCC bên cạnh Phòng Công chứng cũng đặt ra những vấn đề cấp bách trong
quản lý, mà Luật Công chứng không thể tiên liệu hết được những vướng mắc,
khó khăn khi triển khai thực hiện trên thực tế với rất nhiều biến động. Từ đó
có thể thấy, công tác QLNN về hoạt động công chứng là rất quan trọng và
nhạy cảm trong xu hướng “xã hội hóa dịch vụ công”, rất cần thiết phải hoàn
thiện trên cơ sở định hướng đúng với mục tiêu chính trị, xã hội, kinh tế lâu
dài, đảm bảo lợi ích tối cao cho người dân, đảm bảo hiệu quả trong công tác
QLNN, đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm cá nhân của công dân.
Với ý nghĩa đặc biệt quan trọng đặt ra trong QLNN đối với VPCC
- Luận văn thạc sĩ “Xã hội hoá công chứng ở Việt Nam hiện nay - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Quang Minh năm 2009;
- Luận văn thạc sĩ: “Phân cấp QLNN về công chứng, chứng thực (Qua
thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Hải Hồ năm 2008;
Nhìn chung trên phương diện khoa học quản lý hành chính công, chưa
có các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về QLNN với các VPCC, nhất là từ
khi Luật Công chứng ra đời và phải sau 13 tháng mới được thành lập
VPCC đầu tiên. Luật Công chứng là cơ sở pháp lý quan trọng để nhà nước
quản lý các giao dịch dân sự nhưng đến nay, do biến động của tình hình
thực tiễn có nhiều vấn đề mà Luật Công chứng chưa tiên liệu được, vấn đề
đặt ra là làm thế nào để quản lý các hoạt động của VPCC một cách hiệu
quả, khoa học để có thể đảm bảo ổn định và phát triển xã hội bền vững.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với VPCC và thực tiễn quản lý nhà nước đối với VPCC trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
b. Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Hoạt động quản lý nhà nước đối với VPCC từ khi có Luật
Công chứng;
Về không gian: Nghiên cứu các VPCC trên địa bàn thành phố Hà Nội
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
a. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản
lý nhà nước đối với VPCC, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện quản lý nhà nước đối với VPCC ở thành phố Hà Nội hiện nay.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ lý luận QLNN đối với VPCC, trên mô mình VPCC của một
số quốc gia trên thế giới và Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá, vai trò QLNN với VPCC trên văn bản quản lý, tổ
chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, đánh giá thực trạng QLNN đối với mô
hình này trên địa bàn thành phố Hà Nội;
Công chứng đã có lịch sử hình thành, phát triển hàng ngàn năm và gắn
bó chặt chẽ với đời sống dân sự. Khởi đầu, công chứng là một nghề tự do
trong xã hội, phục vụ cho nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi thiết
lập các văn tự, khế ước. Trải qua sự thăng trầm của lịch sử, công chứng đã
khẳng định sự tồn tại vững chắc và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã
hội, được nhà nước thừa nhận và trở thành hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công
dân và nhà nước trên cả hai phương diện: Hỗ trợ hành pháp (quản lý nhà
nước) và bổ trợ tư pháp.
Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và
hình thành nên ba hệ thống công chứng sau:
- Hệ thống công chứng Latinh (chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống
luật La mã, còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law). Hệ thống này
tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh);
châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La tinh, bang
Quebec của Canada, bang Luisane của Hoa Kỳ, một số nước châu Á (Nhật
Bản, Thổ Nhĩ Kỳ ). Hiện này, hệ thống công chứng Latinh đã hình thành tổ
chức quốc tế của mình đó là Liên đoàn Công chứng quốc tế Latinh (tên viết
tắt là UINL) với thành viên chính thức khoảng hơn 60 quốc gia. Do đặc điểm
của các nước theo hệ thống luật civil law là trọng vật chứng hơn nhân chứng.
Hệ thống luật latinh có nhưng đặc điểm sau:
- Phạm vi công chứng được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ việc
nào phải công chứng (bặt buộc), việc nào không phải công chứng nhưng
đương sự yêu cầu công chứng;
- Giá trị pháp lý cuả văn bản công chứng rất cao, văn bản có hiệu lực
thi hành đối với các bên đương sự như một phán quyết của tòa án. Ở một số
nước gọi Công chứng viên là “thẩm phán về hợp đồng”;
- Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, có thể là công chức hoặc
không, nhưng để hành nghề công chứng họ phải được Nhà nước bổ nhiệm và
hoạt động chuyên trách chứ không kiêm nhiệm về công chứng;
- Hệ thống công chứng của các nước theo luật án lệ (Hay hệ thống công
của hệ thống công chứng tập thể này, sau này khi có Luật Công chứng năm
2006 Việt Nam đã có một bước chuyển mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặng
của hệ thông công chứng Collectiviste.
Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên, song chung quy
lại, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thống
công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công
chứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste).
Ở mô hình công chứng tự do, các Công chứng viên được nhà nước bổ
nhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thức
VPCC tư nhân hoặc VPCC tập thể, tự chủ trong tổ chức, hoạt động, tự hạch
toán và đóng thuế cho nhà nước. Công chứng viên chịu trách nhiệm cá nhân
về hành vi công chứng của mình, phải bồi thường thiệt hại bằng tài khoản tiền
ký quỹ của mình nếu hành vi công chứng gây thiệt hại cho khách hàng hoặc
người thứ ba.
Ở mô hình công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế nhà
nước, Công chứng viên là công chức nhà nước, do nhà nước bổ nhiệm, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước, Công chứng viên không phải chịu trách nhiệm
vật chất trước đương sự về các hậu quả do hành vi công chứng trái pháp luật
của mình gây ra, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước nhà nước. Lệ phí
công chứng được nộp cho ngân sách nhà nước, có trích lại một phần để trang
trải thêm cho hoạt động của phòng công chứng. Có thể nói, với sự bao cấp
toàn bộ của nhà nước, mô hình công chứng nhà nước chỉ phù hợp với cơ chế
kế hoạch hoá tập trung và nền kinh tế hiện vật, trong đó, các giao lưu dân sự,
kinh tế, thương mại không phát triển ở đó, vai trò công chứng chủ yếu là
nhằm bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ tài sản XHCN và tài sản cá nhân.
Có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô hình công chứng tự do so với
mô hình công chứng nhà nước. Đó là sự đề cao, phát huy trách nhiệm cá nhân
của Công chứng viên, tạo ra cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực để các
Công chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động
của mình, giảm nhẹ sự bao cấp của nhà nước, làm cho bộ máy nhà nước tinh
giao, nhà nước không những không cấm mà còn có phần khuyên khích nhân
dân tham gia cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu. Loại hình này xuất hiện từ
thời cổ đại và tồn tại cho đến tận ngày nay. Ở Việt Nam, các thể thức giấy tờ,
khế ước như chúc thư, văn khế bán ruộng đất, văn khế cầm cố ruộng đất…
đều quy định người chứng kiến, người bảo lãnh, người viết thay phải điểm chỉ
vào văn tự. Đây là những quy định nhằm bảo đảm hiệu lực pháp lý, hạn chế
tranh chấp kiện tụng. Ngày nay, Bộ luật Dân sự của nước ta vẫn quy định
trong quan hệ dân sự các bên phải thiện chí, trung thực… Nếu một bên cho
rằng bên kia không trung thực, thì phải có chứng cứ (chứng cứ ở đây bao hàm
cả những chứng cứ do cơ quan chuyên trách cung cấp và cả chứng cứ do bất
kỳ tổ chức, cá nhân nào cung cấp.
Như vậy, cho đến nay vẫn tồn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác
nhận, cung cấp chứng cứ của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản
ảnh một sự kiện, hiện tượng mà họ cho là có thật, ví dụ: Cung cấp chứng cứ
cho Tòa án, xác nhận thời gian công tác, làm chứng cho việc giao tiền mua
bán nhà… Đây là một loại chứng nhận vẫn tồn tại và có ý nghĩa thiết thực
trong đời sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh
nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động.
Có thể nói, tư chứng thư là một hình thức hoạt động phong phú và đa
dạng, dù ở giai đoạn lịch sử hay điều kiện xã hội nào cũng phải cần đến như
một nhu cầu tất yếu cho xã hội.
- Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyền): Đây là hoạt
động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chất công, phục vụ lợi ích
công, do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vì vậy được gọi là công
chứng. Tổ chức công chứng và người thực hiện hành vì công chứng được
nhà nước ra quyết định công nhận và cho phép hoạt động nhằm bảo đảm tính
xác thực trong hoạt động giao dịch và các quan hệ khác theo quy định của
pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các
hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (công chứng nhà nước) hoặc nhà nước
ủy quyền (công chứng tự do).
sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt
động trên, công chứng nhà nước tạo ra những đảm bảo pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với
Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được
thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
- Nghị định số 45/HĐBT của HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ
chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc
chứng nhận xác thực các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật,
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp phần phòng
ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp
đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ”.
- Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động công chứng nhà nước quy định: “Công chứng là việc
chứng nhận xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp
luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi tắt là các tổ chức), góp
phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy
ban Nhân dân (UBND) cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng cứ,
trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu”.
- Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 của Chính
phủ về công chứng, chứng thực, tại điều 2 quy định: “Công chứng là việc
Phòng Công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết
hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, thương mại và quan
hệ xã hội khác (Sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc
khác theo quy định của Nghị định này”. Đáng chú ý, Nghị định này đã có sự
phân định rõ khái niệm công chứng và chứng thực, điều mà các Nghị định
trước đây chưa làm rõ được, bản chất của hành vi công chứng là:“chứng
được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chứng viênVăn phòng công
chứng không phải là công chức, viên chức nhà nước, lương và các khoản thu
nhập khác được trích từ nguồn thu phí công chứng, thù lao công chứng và
nguồn thu hợp pháp khác từ hợp đồng công chứng.
Thứ hai, nội dung cơ bản của công chứng là chứng nhận các hợp đồng
và lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của công dân, tổ chức và chứng
nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật.
Đây là đặc điểm quan trọng của hoạt động công chứng để phân biệt với
các hoạt động mang tính chất hành chính khác của các cơ quan công quyền.
Việc lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng và
chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật chính là việc
tạo nên các văn bản công chứng.
Lập hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng là
việc Công chứng viên, bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình giúp người yêu
cầu công chứng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của mình được thỏa thuận
bằng văn bản, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hoặc tư
vấn, góp ý để người yêu cầu công chứng thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng
của mình một cách rõ ràng, chính xác trong các văn bản họ tự lập nhằm đảm
bảo tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch họ tự lập. Nói cách khác, hành
vi của Công chứng viên nhằm xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng hoặc các giao dịch.
Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch là vô
cùng quan trọng nhằm bảo đảm cho chúng có giá trị chứng cứ. Trong pháp
luật về tố tụng, khi nói đến chứng cứ thì bao giờ cũng đề cao tính xác thực
của các sự kiện, tình tiết có thực, khách quan được coi là chứng cứ. Sở dĩ
pháp luật coi văn bản công chứng có giá trị chứng cứ cũng là do tính xác thực
của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đã được Công chứng viên xác
nhận. Tính xác thực này được Công chứng viên kiểm chứng và xác nhận ngay
khi nó xảy ra trong thực tế, trong số đó có những tình tiết, sự kiện chỉ xảy ra
một lần, không để lại hình dạng, dấu vết về sau (ví dụ: Sự tự nguyện của các
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình bằng pháp luật. Hoạt động công
chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp, cung cấp chứng cứ cho hợp đồng tư pháp
nhưng hoàn toàn khác với hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Trước đây, công chứng ở Việt Nam hoàn toàn do các cơ quan nhà nước
thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước. Hiện nay, theo Luật Công chứng
năm 2006, tổ chức hành nghề công chứng gồm Phòng Công chứng (do
UBND cấp tỉnh thành lập, trực thuộc Sở Tư pháp, có trụ sở và con dấu riêng)
vàVăn phòng công chứng (do Công chứng viên thành lập, hoạt động theo quy
định của Luật Doanh nghiệp). Cả 2 loại hình này đều đặt dưới sự quản lý của
nhà nước.
1.1.3. Khái quát chung về Văn phòng công chứng
1.1.3.1. Khái niệm Văn phòng công chứng
Mô hình VPCC đã có từ rất lâu trên thế giới, còn ở Việt Nam, VPCC chỉ
xuất hiện sau khi Luật Công chứng năm 2006 có hiệu lực pháp luật. Đây là
lần đầu tiên Việt Nam thừa nhận một mô hình VPCC, tồn tại song song bên
cạnh Phòng Công chứng, là một trong hai hình thức tổ chức hành nghề công
chứng được quy định tại Điều 23 của Luật Công chứng.
Có thể nói, sự ra đời của Luật Công chứng 2006, với chủ trương
chuyển giao, sắp xếp lại thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tổ
chức có thẩm quyền công chứng, cũng như việc luật hóa mô hình VPCC đã
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động
công chứng ở nước ta hiện nay, là bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực công
chứng. Luật Công chứng là cơ sở pháp lý để nhà nước quản lý các giao dịch
dân sự và thúc đẩy chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng.
Việc thành lập các VPCC ở nước ta được xuất phát từ những lý do sau
đây:
- Thực tiễn hoạt động của công chứng trong thời gian qua cho thấy, nhu
cầu công chứng của tổ chức cá nhân ngày một tăng cao trong khi sự phát triển
của các Phòng Công chứng không theo kịp, dẫn đến quá tải. Công chứng viên
là công chức nhà nước nên việc phát triển đội ngũ Công chứng viên gặp rất
viên, phí công chứng, thù lao công chứng và các nguồn thu hợp pháp
khác. Chính phủ quy định con dấu của VPCC.
3. Tên gọi của VPCC do Công chứng viên lựa chọn nhưng phải bao gồm cụm
từ “Văn phòng Công chứng”, không được trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên
của tổ chức hành nghề công chứng khác, không được sử dụng từ ngữ, ký hiệu
vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của
dân tộc.
Từ quy định của pháp luật trên đây, có thể hiểu một cách khái quát: Văn
phòng công chứng là doanh nghiệp, trong đó có ít nhất một công chứng
viên trở lên thành lập, được tổ chức theo loại hình DNTN hoặc Công ty
Hợp danh, thực hiện các hoạt động công chứng theo quy định của pháp
luật.
Có thể nói, VPCC ra đời đánh dấu một bước phát triển xã hội hóa, xoá
bỏ độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực công chứng. Trong quá trình đó,
nhà nước rút dần khỏi việc trực tiếp cung ứng dịch vụ công chứng, tiến tới
chuyển giao hẳn cho các chủ thể phi nhà nước thực hiện, nhà nước chỉ đóng
vai trò duy nhất là người thực hiện QLNN. Vì đây là mô hình hoàn toàn mới,
chưa có tiền lệ, nên việc tổ chức thực hiện việc quản lý không tránh khỏi
những bỡ ngỡ. Trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách, song song tồn tại
hai hệ thống bên cạnh các Phòng Công chứng nhà nước đã thành lập, với các
Công chứng viên nhà nước là các VPCC mới thành lập, dần được nhân rộng
với các Công chứng viên hành nghề tự do, đặt dưới sự quản lý bằng pháp luật
của nhà nước.
Mặc dù còn nhiều khó khăn trong tổ chức, hoạt động, song trong giai đoạn
đầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất nước, VPCC thực sự đã góp
phần tạo môi trường pháp lý cho các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại
phát triển, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho xã
hội. Điều quan trọng hơn là sự ra đời của VPCC đã góp phần mở rộng dân
chủ, tạo điều kiện để người dân bước đầu hình thành ý thức sử dụng các công
cụ pháp lý, biện pháp hợp pháp để bảo vệ mình trong đời sống dân sự; tạo cho
- Lợi ích của VPCC: VPCC khi thực hiện hoạt động công chứng được thu
phí và thù lao công chứng theo quy định.
c. Nguồn tài chính của Văn phòng công chứng
VPCC hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính bằng nguồn thu kinh
phí đóng góp của Công chứng viên, phí công chứng, thù lao công chứng và
các nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm:
- Kinh phí đóng góp của Công chứng viên: Theo Luật Doanh nghiệp
- Phí công chứng: Phí công chứng bao gồm phí công chứng hợp đồng,
giao dịch, phí lưu giữ di chúc, phí cấp bản sao văn bản công chứng. Mức thu
phí công chứng được áp dụng thống nhất đối với Phòng Công chứng và
VPCC. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp quy định mức thu, chế
độ quản lý, sử dụng phí công chứng.
- Thù lao công chứng: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc soạn thảo
hợp đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp và các việc khác liên quan đến công
việc công chứng theo yêu cầu của người yêu cầu công chứng. Mức thù lao đối
với từng loại việc do tổ chức hành nghề công chứng xác định.
- Các nguồn thu khác: Là khoản tiền do VPCC thu từ việc người yêu
cầu công chứng đề nghị xác minh, giám định hoặc thực hiện công chứng
ngoài trụ sở của VPCC.
Mức chi phí này do người yêu cầu công chứng và tổ chức hành nghề công
chứng thoả thuận.
d. Hoạt động công chứng là hoạt động dịch vụ công
Việc xã hội hóa hoạt động công chứng không phải là “tư nhân hoá hoạt
động công chứng” và cũng không phải là “chuyển chức năng công chứng từ
tay nhà nước cho bất cứ ai trong xã hội” mà là hoạt động dịch vụ công. Tuy
không phải là hoạt động quản lý nhà nước nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực
để nhà nước thực hiện quản lý đối với các hợp đồng, giao dịch. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ dân sự, thương mại được mở
rộng thì sự hiện diện của cácVăn phòng công chứng là hết sức cần thiết, góp
phần chia sẻ sự quá tải của các Phòng Công chứng, đồng thời cũng tạo nên sự
cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader”
trong tiếng Anh.
- Theo Haror Koontz, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự
phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định.
- Theo Mariparker Follit (1868 – 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết
học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông
qua người khác”.
- Tư tưởng và quan điểm “quản lý” đã có từ cách đây hơn 2500 năm
nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học
mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách
“Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là
nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc.
Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo
quan niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và
kiểm tra những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các
nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.
Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái
niệm “tổ chức”. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây chúng ta chỉ
nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng
hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó một
con người riêng lẻ không thể đạt đến. Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ
cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ
chức hoạt động và đạt được mục đích của mình.
Từ các định nghĩa được nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất
cả các tác giả đều thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu
hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể
quản lý); Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì?
(Công cụ quản lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Từ đó chúng ta có
thể đưa ra định nghĩa:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích,
tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói
chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính
chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ
công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát
nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật
cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ Quản lý nhà nước theo
nghĩa hẹp còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước với các
đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực
nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể
hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua
phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng
được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành
văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới
dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động
xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể
hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên
thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn;
dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực
tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới
những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực
hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập
với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành
chính nhà nước.
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi
những chủ thể có quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu
thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt
không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý và
nó luôn đảm bảo tính liên tục, ổn định trong tổ chức.
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với Văn
phòng công chứng
1.2.2.1. Khái niệm Quản lý Nhà nước đối với Văn phòng công chứng
Từ khi ra đời VPCC, công chứng được biết đến như một hoạt động dịch
vụ pháp lý để đảm bảo cho các giao dịch, nếu nhà nước không có những
chính sách quản lý phù hợp thì vô hình chung hoạt động VPCC có thể trở
thành công cụ tiếp sức cho các hành vi vi phạm pháp luật, thực tế thì sau khi
các VPCC được thành lập một cách ồ ạt không có quy hoạch tổng thể, bản
thân đây là lĩnh vực mới gần như QLNN đang bỏ ngỏ, vì thế thời gian qua đã
có những hậu quả vô cùng to lớn.
Quản lý Nhà nước với VPCC là việc nhà nước dùng các biện pháp,
công cụ có được tác động vào lĩnh vực công chứng để hệ thống VPCC hoạt
động đúng định hướng, mục tiêu mà Nhà nước mong muốn.
Trong thời gian qua, hoạt động của VPCC ở nước ta đã có những đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, khẳng định ngày
càng rõ hơn vị trí vai trò quan trọng của công chứng trong đời sống xã hội,
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về công chứng của nhân dân trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là công cụ đắc lực phục
vụ QLNN có hiệu quả, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch, góp phần
tích cực vào việc phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
1.2.2.2. Đặc điểm của Quản lý Nhà nước đối với Văn phòng công chứng
a. Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng nhằm đảm bảo sự
ổn định và phát triển của các Văn phòng công chứng theo hướng xã hội hóa
Với vai trò, chức năng và vị trí đặc biệt nên các tổ chức hành nghề công
chứng phải mang tính ổn định và phát triển bền vững rất cao. Không giống
như sự phát triển của các mô hình dịch vụ công khác, sự phát triển của các tổ
chức hành nghề công chứng cần có sự điều tiết, phân bổ và kiểm soát trong
với việc quy định các tiêu chuẩn thành lập VPCC, cấp phép thành lập, bổ
nhiệm Công chứng viên, giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động công chứng.
b. Quản lý nhà nước đối với Văn phòng công chứng nhằm đảm bảo
tính xác thực, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của văn bản công chứng
Với vai trò của công chứng là chứng nhận tính xác thực (sự có thực,
hợp pháp của các hợp đồng giao dịch) công chứng có vai trò tích cực trong
việc phòng ngừa các tranh chấp hợp đồng, giao dịch có thể xảy ra. Vì thế, văn
bản công chứng có ý nghĩa là chứng cứ trước tòa, là căn cứ pháp lý hợp pháp
để xác lập quyền sở hữu cho các bên có quyền liên quan (ví dụ văn bản công
chứng hợp đồng mua bán nhà, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là
căn cứ để cơ quan đăng ký nhà đất cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở,
quyền sử dụng đất cho các chủ thể ). Ngoài ra, công chứng còn có vai trò tư
vấn: Công chứng viên tư vấn cho người yêu cầu công chứng về các thủ tục
pháp lý trong hoạt động công chứng (khác với luật sư) ; Hoạt động công
chứng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước (thu phí công chứng ).
Có thể nói công chứng có mặt hầu hết trên các lĩnh vực, và gắn liền với
đời sống của một cá nhân, một con người từ lúc sinh ra đến lúc chết đi, đến
mọi hoạt động của một xã hội để đảm bảo cho mọi giao dịch xã hội được phát
triển an toàn, bền vững. Nhà nước trong các nền kinh tế thị trường cần phải
thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, cũng như quyền được hưởng các lợi
ích kinh tế xuất phát từ các sử dụng quyền sở hữu đó thông qua công chứng.