Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội (tóm tắt luận án tiến sĩ) - Pdf 40

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT

PHẠM KIM THƯ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 62 34 04 10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Hà Nội - 2016


2

Công trình được hoàn thành tại:
Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh
Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nhâm Văn Toán

Phản biện 1: PGS.TS Đỗ Hữu Tùng
Phản biện 2: GS.TS Phan Huy Đường
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án

của những vấn đề trên, qua khảo sát và tìm hiểu tác giả lựa chọn đề tài
“Quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội” làm đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện quản lý
nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Để đạt được mục đích trên cần:
- Hệ thống hóa và luận giải có chọn lọc cơ sở lý luận về quản lý nhà
nước đối với các KCN.
- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với các
KCN và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, trong nước đối với quản lý nhà
nước các KCN và rút ra bài học kinh nghiệm cho Hà Nội;
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các
KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua, từ đó chỉ rõ những thành
công, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới;
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn
cấp tỉnh


4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Các vấn đề lý thuyết và thực tiễn quản lý nhà nước
đối với các KCN .
- Về thời gian và không gian nghiên cứu: Luận án chủ yếu khảo sát
thực tiễn quản lý nhà nước đối với các KCN thuộc địa bàn thành phố Hà Nội từ
năm 2006 đến nay; một số định hướng, giải pháp có giá trị đến năm 2030.

sách quản lý nhà nước các KCN;
Ba là, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN.
Khái quát và phân định rõ 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quản lý
nhà nước các KCN trên địa bàn Hà Nội: Chế độ, chính sách quản lý của


5
Nhà nước đối với khu công nghiệp; Trình độ năng lực của chính quyền;
Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương.
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
Luận án đưa ra dự báo về bối cảnh quốc tế, trong nước và Thủ đô
tác động đến hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội
Luận án đưa ra 6 nhóm giải pháp bao gồm: Hoàn thiện quy hoạch KCN
trên địa bàn Thành phố Hà nội; Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của BQL
các KCN và CX Hà Nội; Đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư và thu hút
đầu tư; Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc phát triển KCN; Đổi mới
chính sách đào tạo và đãi ngộ nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh
nghiệp trong KCN và hoàn thiện công tác thanh kiểm tra.
Bên cạnh những kết quả của luận án NCS nhận thấy còn một số nội
dung cần được tiếp tục nghiên cứu. Đây cũng là nội dung nghiên cứu của
tác giả trong thời gian tới. Các nội dung đó bao gồm: Thứ nhất, đi sâu
nghiên cứu mô hình của một nhóm KCN cụ thể, ví dụ nhóm KCN phụ trợ.
Thứ hai, nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động xã hội hóa lĩnh
vực nhà ở, trường học cho cán bộ, công nhân viên tại các KCN góp phần
đẩy mạnh xã hội hóa trong lĩnh vực này đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu của
quản lý nhà nước trong tình hình mới.
6. Kết cấu của luận án: ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung
luận án được chia làm 4 chương.
Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

nhà nước đối với các khu công nghiệp
Công trình nghiên cứu Implementing industrial ecology? Planning
for eco- industrial parks in the USA của D. Gibbs và P. Deutz cho rằng mặc
dù nhận được sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề PTBV trong các diễn đàn
quốc tế nhưng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win - win - win”
(cùng thắng) về các mặt phát triển kinh tế, môi trường và xã hội vẫn là một
vấn đề nan giải. Thực tế đã chứng minh sự thành công trong việc phát triển
các KCN của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như: Trung
Quốc, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đài Loan… Thái lan đã đưa ra các
phương án quy hoạch KCN theo mô hình PTBV bằng chính sách ưu đãi
khác nhau theo từng vùng.
1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về lý luận quản lý nhà nước đối
với các khu công nghiệp
- Nghiên cứu của Vũ Thành Hưởng đề cập đến một khía cạnh cụ thể
trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước các KCN cho một địa
phương.
- TS Lê Thị Thu Hương (Chủ nhiệm đề tài, 2015), Một số giải pháp
hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách phát triển các KCN nhằm thúc đẩy
quá trình hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế, do Ban Kinh tế Trung ương chủ
trì.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp quản
lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
- Luận án Phó tiến sĩ (1996), tác giả Chế Đình Hoàng với đề tài “Cải
tạo và hoàn thiện các khu công nghiệp ở Hà Nội theo định hướng phát triển
đô thị đến năm 2010”; Tác giả Lê Tuyển Cử với luận án Tiến sĩ (2003)
“Những biện pháp phát triển và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối
với khu công nghiệp ở Việt Nam”. Nhiều công trình nghiên cứu thông qua
việc đánh giá thực trạng quản lý nhà nước các KCN cả nước đã có các đánh


Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện và tăng
cường vai trò QLNN đối với các KCN ở Thủ đô trong thời gian tới.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
2.1. Những vấn đề chung về khu công nghiệp
2.1.1. Khái niệm, phân loại khu công nghiệp
* Khái niệm về KCN
Theo thuật ngữ tiếng Anh, KCN có thể được dùng là Idustrial
estates, industrial zone (IZ), export processing zone (EPZ) hay industrial
park (IP). Đây là những khái niệm đã trở lên khá phổ biến ở nhiều nước


8
trên thế giới. Các KCN được thành lập ở nhiều nước nhằm thực hiện mục
tiêu thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài và thực
hiện đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước, hướng về xuất khẩu.
Từ việc nghiên cứu các khái niệm đã có, theo tác giả Luận án thống nhất
quan niệm, KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính phủ. KCN là đối
tượng đặc thù của quản lý nhà nước về kinh tế trong các giai đoạn phát
triển với các đặc điểm về mục tiêu thành lập, giới hạn hoạt động tập trung
vào công nghiệp, ranh giới địa lý và thẩm quyền ra quyết định thành lập.
2.1.2. Vai trò của khu công nghiệp đối với nền kinh tế
Các KCN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân, nhất là các nước đang phát triển thì việc phát triển
các KCN đã tạo ra được cơ hội phát triển công nghiệp và thực hiện công
nghiệp hóa rút ngắn bởi có thể kết hợp và học tập được những thành tựu
mới nhất về khoa học công nghệ, về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, đồng

* Yêu cầu quản lý nhà nước đối với KCN
Để đáp ứng được các mục tiêu trên, hoạt động quản lý nhà nước đối
với các KCN phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Chính sách, biện pháp quản lý đưa ra phải phù hợp với luật pháp và
các yêu cầu của xã hội; Nhà nước phải tạo ra môi trường ổn định và bình
đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động trong KCN và phải kết hợp hài hòa
các mục tiêu của doanh nghiệp với các mục tiêu chung của đất nước. Nhà
nước phải cung cấp đầy đủ các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực cũng như
các thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác để giúp cho việc
xây dựng, phát triển các KCN đạt hiệu quả cao.
* Nội dung quản lý nhà nước đối với các KCN
Một là, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách
quản lý nhà nước các KCN.
Hai là, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính
sách quản lý nhà nước các KCN.
Ba là, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các KCN.
2.2.1.2. Tiêu chí đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các
khu công nghiệp
* Tính phù hợp của chiến lược, quy hoạch và các chính sách quản
lý nhà nước đối với các khu công nghiệp
* Tính khả thi chính sách và biện pháp quản lý nhà nước đối với các KCN
* Tính hiệu lực của các chính sách và biện pháp quản lý nhà nước
đối với các KCN
* Tính hiệu quả của các chính sách và biện pháp nhà nước đối với
các KCN
2.2.2. Công cụ tác động của nhà nước đến các khu công nghiệp
* Hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật điều chỉnh KCN khá đa dạng, bao phủ mọi mặt
hoạt động của KCN với tư cách một thực thể sống, một bộ phận của nền
kinh tế, của xã hội và chia làm hai loại: quy định pháp lý chung và quy

năng có liên quan đến phát triển các KCN.
2.3.1.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước các khu công nghiệp tại
Thái Lan
Thái Lan phát triển mô hình KCN, KCX từ năm 1970. Mô hình
KCN, KCX của Thái Lan là mô hình KCN tập trung tổng hợp, bao gồm
KCN, KCX và các khu dịch vụ. Chính sách quản lý nhà nước các KCN
nhất quán, có sự phân cấp cho các vùng và địa phương.
2.3.1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước các khu công nghiệp tại
Malaysia
Chính quyền địa phương các bang Malaysia được giao nhiệm vụ quản
lý một số hoạt động của doanh nghiệp quản lý hoạt động của các KCN. Các
chủ đầu tư đăng ký thành lập doanh nghiệp tại Bộ Công thương; xin giấy phép
đầu tư tại Uỷ ban đầu tư (MIDA) và xin hưởng ưu đãi về thuế tại Bộ Tài chính,
nhưng các cơ quan này có đại diện thường trú ở các Bang.
2.3.1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước các khu công nghiệp tại
Singapore
Các chính sách quản lý nhà nước các KCNcủa Singapore rất thống
nhất, phù hợp với đặc điểm của một quốc gia nhỏ và hẹp. Nét nổi bật trong
quản lý nhà nước các KCN tại Singapore là quy hoạch KCN không chỉ giải


11
quyết vấn đề về hạ tầng kỹ thuật hiện đại đồng bộ, tổ chức không gian, kiến
trúc đáp ứng cho phát triển công nghiệp, mà còn quy hoạch đô thị đảm bảo
môi trường sinh thái thành công. Hình thành một thành phố bao gồm nhiều
chương trình phát triển công nghiệp-đô thị- môi trường-du lịch đồng bộ và
hỗ trợ cho nhau.
2.3.2. Kinh nghiệm một số địa phương trong nước
2.3.2.1. Kinh nghiệm tỉnh Bình Dương
Qua hơn 20 năm phát triển các KCN, Bình Dương đã rút ra bài học

- Công khai các thủ tục hành chính, giải quyết yêu cầu của các nhà
đầu tư nhanh và đúng theo quy định của nhà nước .
- Cần có các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các DN vi phạm


12
pháp luật.

- Có sự quan tâm, thân thiện của các các cấp chính quyền, các sở,
ban, ngành trong tỉnh đối với nhà đầu tư trong KCN. Bảo đảm sự thống
nhất trong quản lý bằng việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của BQL KCN các cấp. Hệ thống QLNN phải gọn nhẹ và có hiệu lực.
- Phải có đội ngũ công chức toàn tâm, toàn ý, có trình độ năng lực
thực thi công việc quản lý nhà nước trong các KCN.
Ba là, những địa phương đạt được thành công nhất định trong việc
quản lý nhà nước các KCN thường phải hội tụ được các điều kiện sau:
- Tình hình chính trị, xã hội và kinh tế vĩ mô ổn định, chính quyền
địa phương quan tâm khuyến khích DN hoạt động theo nguyên tắc thương
mại thích hợp.
- Có cơ chế quản lý linh hoạt, có hiệu quả cao, thủ tục hành chính
đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh được ở mức cao nhất tệ quan liêu,
hành chính gây phiền hà cho các nhà đầu tư.
- Thực thi một số biện pháp khuyến khích ưu đãi cho các DN hoạt
động trong KCN, nhất là thuế.
- Thu hút được lượng lao động dồi dào, có kỹ năng.
- Có địa điểm thuận lợi, chi phí đầu tư có sức cạnh tranh.
- Có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tốt, gần
trung tâm đô thị và CN có khả năng hậu thuẫn cho hoạt động kinh tế.
- Được các ngành khác hỗ trợ.
Bốn là, quá trình quản lý nhà nước các KCN là một quá trình phức

Các KCN Hà Nội đã đóng góp rất lớn cho việc giải quyết việc làm,
đảm bảo thu nhập ổn định cho người lao động, trực tiếp tham gia đào tạo và
đào tạo lại nguồn nhân lực, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực của Hà Nội và các địa phương lân cận.
3.1.2.2. Đóng góp của các khu công nghiệp Hà Nội đối với tăng
trưởng kinh tế
* Doanh thu của và đóng góp của KCN đối với ngân sách nhà nước
Số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục tăng
nhanh; từ năm 2002 mới có 23 doanh nghiệp đến 31/12/2015 đã có 402
doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư và triển khai hoạt động
SXKD trong các KCN Hà Nội. Doanh thu của các doanh nghiệp đang hoạt
động trong các KCN có tốc độ tăng trưởng khá. Năm 2008, doanh thu chỉ
đạt 2.616 triệu USD đến năm 2015 doanh thu đã đạt 5.023,2 triệu USD và
nộp ngân sách từ 46,1 triệu USD năm 2008 đến hết năm 2015 đã đạt 158,9
triệu USD.
* KCN Hà Nội đối với thúc đẩy phát triển ngoại thương
Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu: Năm 2015 kim ngạch xuất khẩu
của các doanh nghiệp KCN, KCX Hà Nội đạt 2,915 tỷ USD, tăng 9,3% so
với cùng kỳ năm 2014, đạt 100,9% so với kế hoạch đầu năm. So với toàn
thành phố Hà Nội, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN và CX
chiếm 29,66% và so với giá trị xuất khẩu địa phương chiếm 42,91%. Kim
ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp KCN và CX Hà Nội trong năm
2015 đạt 2,9 tỷ USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2014, chiếm 12,59%
so với tổng kim ngạch nhập khẩu toàn thành phố Hà Nội và 29,55% so với
kim ngạch nhập khẩu địa phương.
3.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các khu công
nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2.1. Về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách
quản lý nhà nước các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.2.1.1. Về chiến lược

3.2.1.2. Về quy hoạch
Cho đến nay, Thành phố Hà Nội đã thực hiện tương đối tốt công tác
quy hoạch và phối hợp hợp xây dựng quy hoạch, điển hình là:
- Thông qua chương trình Quy hoạch ngành: Quy hoạch tổng thể
phát triển KCN thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Xây dựng các báo cáo định kỳ và đột xuất liên quan đến quy hoạch KCN
theo chỉ đạo của Chính phủ; Báo cáo rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát
triển các KCN theo Chỉ thị 07 của Thủ tướng Chính phủ;
- Phối hợp làm việc với các công ty hạ tầng KCN, Viện quy hoạch
xây dựng thành phố Hà Nội,...tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch các
KCN phù hợp với quy hoạch chung và quy hoạch phân khu; tham gia công
tác quy hoạch các KCN trong Đề án phát triển công nghiệp;


15
Tính riêng trong năm 2015, Thành phố đã cung cấp thông tin quy
hoạch 14 dự án (giảm 60% so với năm 2014); chấp thuận phương án kiến
trúc quy hoạch 38 dự án (tăng 12% so với năm 2014); Ban quan lý đã phối
họp với Sở Xây dựng hoàn thiện Chương trình phát triển nhà ở công nhân
năm 2015, định hướng đến năm 2020,..
3.2.1.3. Về chính sách quản lý nhà nước các khu công nghiệp
Ngoài việc cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và triển khai các
quy định, chính sách của Nhà nước, UBND thành phố Hà Nội còn căn cứ
vào tình hình thực tế của Thủ đô xây dựng cũng đã có một số cơ chế đặc
thù nhằm quản lý nhà nước các KCN trên địa bàn, cụ thể hóa và ban hành
thêm các cơ chế ưu đãi cả về hành chính, tài chính và hỗ trợ phát triển hạ
tầng ngoài hàng rào KCN thông qua việc ban hành các Quyết định, Qui chế
cho từng trường hợp cụ thể như:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ đầu tư phát
triển KCN, quy chế hoạt động của các KCN Hà Nội. Quy định và hướng

3.2.2.2. Về vận động, xúc tiến và thu hút đầu tư
Từ khi KCN đầu tiên của Hà Nội được hình thành đến nay số dự án
đầu tư cấp mới và số dự án xin điều chỉnh tăng thêm vốn đầu tư liên tục
tăng mạnh cả về số lượng và quy mô điều đó chứng tỏ rằng các KCN trên
địa bàn Hà Nội có sức thu hút rất mạnh các nhà đầu tư nhất là các nhà đầu
tư nước ngoài. Tính đến hết 31/12/2015, các KCN Hà Nội đã thu hút được
218 dự án với tổng số vốn đăng ký là 2.776 triệu USD và 917,4 tỷ đồng,
quy mô hình quân một dự án là 12,97 triệu USD và 3,71 triệu USD/ha. Các
KCN Sài Đồng B, KCN Thăng Long, KCN Nội Bài là những KCN thu hút
được nhiều dự án đầu tư nước ngoài, tốc độ lấp đầy nhanh, với số vốn FDI
rất lớn, chiếm hơn 98% tổng số vốn FDI vào các KCN Hà Nội.
Đến 31/12/2015, các KCN Hà Nội đã thu hút được 318 dự án FDI từ 26
quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn 4960.8 triệu USD. KCN Thăng Long
luôn là KCN dẫn đầu về số dự án FDI và tổng vốn, chiếm 32,9 % số dự án FDI
và 55,02 % tổng số vốn các dự án FDI trong 8 KCN Hà Nội.
3.2.2.3. Về quản lý hoạt động của khu công nghiệp và của doanh nghiệp
Quản lý về đầu tư:
Bên cạnh việc tiến hành cấp phép đầu tư cho các doanh nghiệp thì
hoạt động quản lý sau đầu tư cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Thời gian qua, UBND Thành phố Hà Nội đã thực hiện khá tốt vai trò quản
lý về đầu tư.
Quản lý doanh nghiệp:
Các phòng chức năng của Ban quản lý các KCN, KCX Hà Nội
thường xuyên, đôn đốc, kiểm tra tại các doanh nghiệp; xác nhận hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn cho các doanh nghiệp;
UBND Thành phố đã chỉ đạo BQL KCN phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu
tư và các các Sở, Ban Ngành khác để cùng làm việc với Công ty hạ tầng và
các doanh nghiệp thứ phát tại các KCN để tìm hiểu những vướng mắc của
các doanh nghiệp nhằm đưa ra các kiến nghị trình UBND, các Bộ, Ngành,
Chính phủ để giải quyết hoặc có các giải pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trong những năm qua, UBND TP Hà Nội đã thực hiện tương đối tốt
vai trò này thông qua những minh chứng về những KCN đã được cấp phép
đầu tư và kết quả hoạt động của chính những KCN đã cơ bản lấp đầy. Duy
nhất có một KCN hỗ trợ Nam Hà Nội do chủ đầu tư T&G thực hiện gặp
phải một số khó khăn trong việc xây dựng hạ tầng do mất khá nhiều thời
gian để chờ quy hoạch phân vùng và quy hoạch phát triển KCN của thành
phố Hà Nội.
Công tác thanh kiểm tra, giám sát các hoạt động của KCN đã thực
hiện các nội dung cụ thể sau:
- Hàng năm, xây dựng, ban hành Kế hoạch, kiện toàn Ban chỉ đạo
và triển khai thực hiện Kế hoạch Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham
nhũng đến năm 2020 của Ban Quản lý; kế hoạch thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí; kế hoạch rà soát 13 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền
giải quyết của BQL các KCN, KCX Hà Nội.
Năm 2015, UBND TP Hà Nội đã tiếp nhận và giải quyết các đơn đề
nghị giải quyết, kiến nghị phản ánh liên quan đến doanh nghiệp SXKD gây
ô nhiễm môi trường trong KCN Thạch Thất - Quốc Oai và tranh chấp lao
động trong KCN Quang Minh.
- Thực hiện công tác kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật về
các lĩnh vực đầu tư xây dựng, tài nguyên - môi trường, phòng chống cháy
nổ, vệ sinh, an toàn lao động, pháp luật về lao động để đảm bảo sự phát
triển bền vững và hiệu quả. Trong năm 2015, UBND TP Hà Nội kiểm tra


18
việc thực hiện pháp luật về xây dựng cơ bản và kiểm tra sau cấp phép xây
dựng cho 54 doanh nghiệp tại các KCN Thạch Thất - Quốc Oai, Phú Nghĩa,
Nội Bài, Quang Minh I và Thăng Long.
- Triển khai khai tập huấn tại BQL các KCN, KCX về Luật Tố tụng

quy hoạch chung và quy hoạch phân khu; tham gia công tác quy hoạch các
KCN, quy hoạch phát triển ngành công nghiệp, từ đó tạo điều kiện để các
KCN hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng phục vụ công tác thu hút đầu tư.
Về hiệu lực và hiệu quả của công tác chỉ đạo thực hiện chiến lược,
quy hoạch và chính sách biện pháp quản lý nhà nước đối với các KCN


19
Bộ máy quản lý nhà nước các KCN Hà nội đã tập trung chỉ đạo
nhằm phát huy hiệu quả những KCN đang hoạt động, đồng thời xây dựng
mới một số khu phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển tổng thể kinh
tế - xã hội, đảm bảo sự đồng bộ các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công
trình hạ tầng xã hội phục vụ bộ phận dân cư xung quanh KCN, người lao
động trong KCN.
3.3.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quản lý nhà nước
đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
3.3.2.1. Những hạn chế
Công tác quy hoạch các KCN trên địa bàn Hà Nội còn chưa thực sự
phù hợp
Từ việc xác định quy hoạch tổng thể, đến việc hình thành các KCN
Hà Nội đã phần nào phản ánh sự bất hợp lý giữa quy hoạch phát triển KCN
với quy hoạch ngành, vùng lãnh thổ và địa phương, chưa tính đến tác động
lan tỏa khi KCN hoạt động.
Quy hoạch phát triển KCN chưa thực sự gắn với quy hoạch phát
triển kinh tế- xã hội của thủ đô Hà Nội. Quy hoạch mới chú trọng đến số
lượng, chưa chú trọng đến chất lượng KCN và chưa tính toán đến việc xác
định cơ cấu ngành, sản phẩm và công nghệ thích hợp cho từng KCN và
giữa các KCN để tăng tính liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp KCN với
nhau và với các doanh nghiệp ngoài KCN, đồng thời phải tận dụng lợi thế
của các tỉnh, thành phố lân cận trong phát triển các KCN. Mặt khác, công

của cả nước trong từng thời kỳ, chưa tuân thủ các quy luật khách quan trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nên chưa
khai thác được lợi thế so sánh của Hà Nội với các địa phương khác;
Các cấp chính quyền chưa có sự quan tâm thấu đáo, ngân sách của
địa phương và thành phố còn hạn hẹp, định hướng quy hoạch thiếu yếu tố
xã hội; tốc độ gia tăng của lao động nhất là lao động di cư tăng nhanh, đột
biến....do vậy đã tạo nên sự không đồng bộ trong việc phát triển kết cấu hạ
tầng trong và ngoài hàng rào KCN, thậm chí sự phát triển hạ tầng xã hội
còn mang tính tự phát và không có quy hoạch rõ ràng;
Tầm nhìn không gian đô thị của các nhà hoạch định quy hoạch của
Hà Nội trước đây chưa toàn diện, công tác dự báo phát triển của Thủ đô đã
không lường được tốc độ phát triển đô thị của Hà Nội dẫn đến một hệ quả
là đến nay 2 KCN nằm lọt trong nội đô;
Nhà nước và UBND thành phố Hà Nội chưa có chính sách điều tiết
hoạt động của các công ty phát triển hạ tầng. Công tác quản lý nhà nước
đối với KCN Hà Nội chưa thật sự có hiệu quả.
Chương 4
MỘt SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
4.1. Bối cảnh quốc tế, trong nước và Thủ đô tác động đến hoàn
thiện quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội
4.1.1. Tình hình thế giới và khu vực
Trong những năm tới, dự báo tình hình quốc tế sẽ có những thay đổi
nhanh chóng và tiếp tục diễn biến phức tạp. Bên cạnh xu thế hòa bình, hợp
tác, phát triển, cũng xuất hiện nhiều thách thức mới: Kinh tế thế giới phục
hồi chậm, nợ công kéo dài, sự bất ổn về tài chính - tiền tệ, biến động giá cả
thị trường, v.v... Tình hình chính trị - an ninh thế giới thay đổi nhanh
chóng, khó lường; tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp
lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, bạo loạn, khủng bố, chiến tranh

chiều sâu các KCN hiện có với lấp đầy các KCN đang và sẽ xây dựng. Tiếp
tục rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển KCN ở Hà Nội cho
phù hợp nhu cầu thực tế; Quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn
Thành phố Hà Nội đòi hỏi phải xây dựng và ban hành các cơ chế, chính
sách đặc thù của Thủ đô nhằm khuyến khích phát triển các KCN đồng bộ,
thu hút các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công
nghệ hàng đầu vào đầu tư trong các KCN trên địa bàn.
Quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm
tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp, nhằm khai thác và sử dụng đất có hiệu quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm
môi trường, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn.
Quản lý Nhà nước đối với các KCN nhằm đảm bảo thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô, góp phần quyết định tăng trưởng
công nghiệp và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng
CNH, HĐH. Hình thành cơ sở, căn cứ cho việc hoạch định phát triển công
nghiệp trên địa bàn Thủ đô.
Quản lý Nhà nước đối với các KCN của Hà Nội đáp ứng nhu cầu
mở rộng mặt bằng sản xuất, thu hút các nguồn lực về vốn, công nghệ ...
4.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội


22
4.3.1. Hoàn thiện quy hoạch khu công nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội
4.3.1.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển khu công nghiệp
gắn với quy hoạch phát triển vùng, lãnh thổ, quy hoạch ngành
* Quy hoạch ngành nghề và lĩnh vực hoạt động của KCN
Không quy hoạch KCN sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao
động phổ thông để giải quyết nhu cầu việc làm như trước đây mà chỉ xây

Thủ đô với các điều kiện sinh hoạt hiện đại;
4.3.2.Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của Ban quản lý các khu
công nghiệp và CX Hà Nội
Về quản lý môi trường: trong thời gian tới Ban quản lý cần tập trung
củng cố công tác quản lý môi trường tạo tiền đề cho việc phát triển KCN
đồng bộ;
Về quản lý doanh nghiệp: Trong thời gian tới, công tác quản lý
doanh nghiệp cần sâu sát hơn với cơ sở, tránh tình trạng quản lý hành chính
như hiện nay.
Về quản lý hoạt động đầu tư: Phối hợp với các đơn vị trong ban, các
cơ quan chức năng chuyên môn nhanh chóng tổ chức thẩm định các dự án
đầu tư ngay từ lúc tiếp nhận đơn và dự án đầu tư giúp các doanh nghiệp
giảm bớt thời gian chờ cấp phép.
Về quản lý quy hoạch: Cấp chứng chỉ quy hoạch quy hoạch và tổ
chức thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật đối với các dự án đầu tư
vào KCN theo tinh thần thông tư (04) BXD/KTQH ngày 30/7/1997 của Bộ
Xây dựng. Kiên quyết không cấp phép và sử lý theo thẩm quyền đối với
các trường hợp vi phạm quy hoạch về mật độ xây dựng;
Về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu: Cần tăng cường hơn nữa
công tác quản lý xuất nhập khẩu đối với các doanh nghiệp KCN để hỗ trợ
doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu và kịp thời phát hiện những gian


24
lận thương mại nhằm tạo sân chơi bình đẳng cho hoạt động xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp KCN;
Về công tác quản lý lao động: Theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc
người lao động và người sử dụng lao động thực hiện các quy định về pháp
luật lao động và quan hệ lao động.
4.3.3. Đổi mới công tác vận động xúc tiến đầu tư và thu hút đầu tư

Tổ chức nghiên cứu đánh giá tình hình, xu hướng đầu tư nước ngoài
trên thế giới, kinh nghiệm thu hút đầu tư của một nước trong khu vực, đặc biệt
là các cơ chế pháp lý song phương và đa phương điều chỉnh quan hệ hợp tác
đầu tư quốc tế mà Việt Nam đã và đang trong quá trình tham gia. Trên cơ sở
đó kiến nghị với Chính phủ có những điều chỉnh trong các chính sách khuyến
khích đầu tư chung của quốc gia và giúp Hà Nội có những căn cứ để xây dựng
một số chính sách thu hút đầu tư mang đặc trưng của Thủ đô.


25
* Về hoạt động thu hút đầu tư của các công ty xây dưng và kinh
doanh cơ sở ha tầng
Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, nắm
rõ nhu cầu đòi hỏi của thị trường để có kế hoạch điều chỉnh, mở rộng hay thu
hẹp quy mô và tổ chức xây dựng, tu chỉnh cơ sở hạ tầng KCN cho phù hợp;
* Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN
Hà nội cần có những giải pháp mang tính chiến lược dài hạn để thu
hút đầu tư vào các KCN, đặc biệt là nguồn vốn nước ngoài.
Ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công
nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như: sản xuất vật liệu mới, điện-điện
tử, công nghệ NANO, khuân mẫu chính xác, cơ khí thiết bị phụ tùng ngành
sản xuất ô tô, xe máy, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí....
và các ngành mà Hà Nội có nhiều lợi thế cạnh tranh gắn với công nghệ
hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
4.3.4.Hoàn thiện cơ sở hạ tầng đảm bảo cho việc phát triển khu
công nghiệp
Xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật khu vực xây dưng KCN
Đối với những KCN đã xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung
nhưng chưa vận hành bắt buộc chủ đầu tư phải cho vận hành ngay khi tỷ lệ lấp
đầy đạt từ 60% trở lên. Đối với những KCN đã đi vào hoạt động nhưng chưa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status