hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong nền kinh tế thị trường và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm - Pdf 14

ch ơng i
hoạt động kinh doanh Bảo hiểm trong nền kinh tế
thị trờng và sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật
đối với hoạt động kinh doanh Bảo hiểm.
I. hoạt động kinh doanh Bảo hiểm trong nền kinh tế thị trờng.
1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động kinh
doanh bảo hiểm trên thế giới và ở Việt nam.
1.1. Trên thế giới.
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xa trong lịch sử nền văn minh nhân loại mà
thậm chí cho đến bây giờ ngời ta vẫn cha xác định đợc bảo hiểm xuất hiện từ khi
nào. Chúng ta có thể dễ dàng tìm đợc phế tích của những ngôi nhà tác phẩm nghệ
thuật hoặc những dấu tích còn sót lại của những nền văn minh xa kia. Tuy nhiên
việc tái lập một cách chính xác cách thức mà các thị dân đầu tiên đã sử dụng để tổ
chức các hoạt động dịch vụ trong nền kinh tế lại là một điều khó khăn hơn nhiều.
Trong một số những dấu tích vật chất gây ấn tợng của văn minh thời Tiền sử, thời
Cổ đại, thời Trung cổ và thời Cận đại có các kho lúa nơi mọi ngời dự trữ lơng thực
để sử dụng trong trờng hợp khẩn cấp. Câu chuyện trong kinh thánh Joeph giải thích
giấc mơ của vua Ai Cập là một ví dụ minh hoạ nguyên tắc mà ngời ta đã áp dụng để
tổ chức dịch vụ nói trên. Kinh nghiệm cho thấy rằng đôi khi cũng xảy ra mất mùa
hoặc quân xâm lợc ngăn cản ngời dân của một thành phố thu hoạch ở vùng nông
thôn xung quanh. Mặc dù mỗi hộ gia đình có thể tự dự phòng cho những trờng hợp
xấu nói trên nhng các thị dân đã sớm nhận ra rằng việc dự trữ chung hoặc theo từng
cộng đồng có hiệu quả hơn. Mỗi ngời có khả năng sẽ phải đóng góp vào một khoản
thuế nhỏ trong những năm đợc mùa, khi giá lơng thực xuống thấp. Ngời ta thực
hiện việc mua lơng thực có thể dự trữ đợc chủ yếu là lúa mỳ. Nông dân thấy hài
lòng do họ có thể bán đợc nhiều hơn( với giá cao hơn) so với khi cơ quan thuế
không thực hiện việc mua lơng thực trên thị trờng. Gặp khi mất mùa hoặc khi thành
phố bị vây hãm, cơ quan thuế sẽ xuất ra lơng thực dự trữ để nuôi sống c dân thành
phố. Vì vậy, ý tởng về việc lập một quỹ chung (trong trờng hợp này là quỹ lơng
thực) đã xuất hiện trong tiềm thức con ngời. ý tởng này tỏ ra rất phù hợp với yêu
cầu khách quan của đời sống của con ngời vốn thờng xuyên bị rủi ro đe doạ.

từ quỹ chung mà công ty đã đem ra đầu t khi rủi ro xảy ra. Quỹ này đợc xây dựng
trên cơ sở tiền mà công ty thu đợc sau khi bán các cổ phần cho các cổ đông cộng
với thu nhập nhờ đầu t quỹ và phí bảo hiểm do ngời đợc bảo hiểm nộp. Chỉ cần
khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ và chính xác trong việc lựa
chọn rủi ro và số phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi loại rủi ro, cụ thể thì quỹ này
luôn luôn có khả năng để bồi thờng tổn thất cho ngời đợc bảo hiểm nếu xảy ra rủi
ro và trả lãi cho các cổ đông ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu t của mình.
Vào thời gian đầu, lĩnh vực hoạt động chủ yếu của công ty bảo hiểm là bảo
hiểm hoả hoạn. Tại những thành phố đông đúc của thế kỷ XVII, hầu hết nhà cửa
đều dựng bằng gỗ, ngời ta dùng lửa để sởi, đun nấu và dùng để chiếu sáng. Vì vậy
rủi ro nhà bắt lửa là rất cao. Trong cộng đồng làng xã trớc khi diễn ra quá trình đô
thị hoá, khi một nhà bị cháy rụi, tất cả những nhà hàng xóm sẽ hợp sức với nhau để
giúp xây dựng lại ngôi nhà. Ngợc lại ở thành phố, do hàng xóm của gia đình có nhà
bị cháy đều có những nghề nghiệp chuyên môn riêng( nh thợ dệt, thợ may, th ký )
họ không có khả năng cũng nh thời gian để giúp hàng xóm xây lại ngôi nhà trong
2
trờng hợp xảy ra hoả hoạn. Thay vào đó, họ đóng phí bảo hiểm cho một công ty
bảo hiểm để nhận đợc hai cam kết: cung cấp dịch vụ cứu hoả (nh dập lửa, ngăn
không cho lan sang nhà khác, và hạn chế mức thấp nhất do vụ cháy gây ra) và bồi
thờng bằng tiền mặt cho ngời đợc bảo hiểm để tạo điều kiện cho họ thuê mớn
những thợ chuyên môn cần thiết (nh thợ xây, thợ mộc ), sửa chữa lại h hỏng (hoặc
xây lại ngôi nhà trong trờng hợp xảy ra hoả hoạn nghiêm trọng).
Cùng với bảo hiểm hoả hoạn, các quỹ bảo hiểm nhân thọ cũng xuất hiện. Một
hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phải là một hợp đồng bồi thờng. Mục đích của
nó là cung cấp một khoản tiền cụ thể khi xảy ra những trờng hợp đợc nêu trong hợp
đồng bảo hiểm. Không ai có thể biết chắc chắn tuổi thọ của một ngời sẽ là bao
nhiêu. Chỉ một phần c dân trên thế giớ qua đời mỗi năm. Vào giữa thế kỷ XVII, ng-
ời ta đã thành lập các công ty, tổ chức tơng hỗ để cung cấp dịch vụ bảo hiểm nhân
thọ cho công chúng. Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không phải lúc nào cũng
dựa trên nguyên tắc bồi thờng, bởi vì xét về khía cạnh vật chất, cuộc sống con ngời

Dới thời Pháp thuộc, do kinh tế cha phát triển nên bảo hiểm cũng cha thực sự
đáng kể. Hầu hết hoạt động bảo hiểm chỉ dừng lại ở chế độ bảo hiểm xã hội cho
công, viên chức bảo hiểm thơng mại có ít nhng hoàn toàn do ngời Pháp nắm giữ.
1.2.2. Từ năm 1945 đến năm 1994.
Khi giành đợc độc lập năm 1945, nhà nớc ta đã phát triển tài chính Xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm với t cách là một dịch vụ tài chính mới phát
triển đợc 30 năm nay. Ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt nam (gọi tắt là
(BAOVIET) ra đời theo Quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tớng
Chính phủ. Sự ra đời của BAOVIET đánh dấu một bớc phát triển trong lịch sử của
ngành tài chính Việt Nam. Tuy nhiên bảo hiểm Việt Nam lúc này cũng hoàn toàn
mang tính bao cấp, không hề tồn tại khái niêm Hạch toán kinh doanh nh ở các n-
ớc T bản chủ nghĩa. Ban đầu chỉ có 5 nghiệp vụ: bảo hiểm hàng Xuất nhập khẩu,
bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu và tái bảo hiểm.
Sự có mặt của một công ty duy nhất với cơ chế độc quyền trong Kinh doanh
bảo hiểm đã duy trì trong một thời gian dài. Cho đến tháng 12 năm 1993, việc ban
hành Nghị định 100/CP về Kinh doanh Bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một
bớc ngoặt trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh Bảo hiểmở nớc ta.
Độc quyền về cơ bản đã chấm dứt với sự ra đời của hàng loạt các Doanh
nghiệp bảo hiểm, đó là:
- Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh ( Bảo Minh).
- Công ty bảo hiểm Nhà Rồng ( Bảo Long).
- Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex ( PJICO).
- Công ty bảo hiểm Dầu khí Việt nam ( PVIC).
- Công ty liên doanh môi giới bảo hiểm Inchcape ( INCHIBROK).
- Công ty liên doanh bảo hiểm - Việt nam Internationnal asurance
Company ( VIA).
- Công ty cổ phần bảo hiểm Bu điện ( FTI).
- Công ty liên doanh bảo hiểm United Inurace của Việt Nam (UIC).
Nhiều tổ chức bảo hiểm nớc ngoài đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt
Nam. Mạng lới bảo hiểm, cộng tác viên đã hình thành rộng khắp cả nớc. Nhiều

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi
ro trên cơ sở ngời đợc bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh
nghiệp bảo hiểm bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện thuộc trách
nhiệm bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm cả hoạt động kinh doanh tái bảo
hiểm và hoạt động trung gian bảo hiểm.
2.2. Vai trò của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm.
Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên Thế giới, bảo hiểm đã trở thành một
ngành kinh doanh thu hút sự tham gia đông đảo của các doanh nghiệp, các tổ chức
5
và dân c. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà
còn có ý nghĩa cả về mặt xã hội. Những lợi ích kinh tế và công dụng xã hội của
hoạt động kinh doanh bảo hiểm thể hiện trên các mặt chủ yêu sau:
2.2.1. Bảo hiểm góp phần bảo vệ tài sản, ổn định cuộc sống con ngời mang lại
sự an toàn trong xã hội.
Hoạt động bảo hiểm trớc hết là nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro. Hậu quả
của rủi ro có nhiều dạng và nói chung đều liện quan đến khía cạnh tài chính
phát sinh các khoản chi phí, chi tiêu bất thờng mà thông thờng ngời mua bảo hiểm
phải tự gánh chịu.
Sự có mặt của các tổ chức bảo hiểm là để cung cấp dịch vụ đặc biệt cho khách
hàng đáp ứng nhu cầu đảm bảo về mặt vật chất, tài chính trớc rủi ro đối với họ.
Thực tế việc bồi thờng, trả tiền bảo hiểm của bên bảo hiểm đã giúp các tổ chức bảo
toàn vốn liếng tài sản, các cá nhân, các gia đình khắc phục khói khăn không rơi vào
tình trạng kiệt quệ về vật chất và tinh thần.
Hơn nữa, nghề bảo hiểm còn đòi hỏi các tổ chức bảo hiểm có trách nhiệm
nghiên cứu rủi ro , thống kê những tai nạn, những tổn thất, xác định nguyên nhân
và đề ra các biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và giảm thiểu các rủi ro.
Thực tế khi xây dựng các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm cũng nh
trong quá trình triển khai nghiệp vụ( kể từ khi đánh giá rủi ro, kí kết hợp đồng,
quản lý hợp đồng cho đến lúc giám định tổn thất, giải quyết bồi thờng), các tổ chức

cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.
Bên cạnh những vấn đề đã nêu ở trên, vai trò của bảo hiểm còn thể hiện ở
nhiều mặt khác nh : Tác động đến sự phát triển các ngành kinh tế, khu vực kinh tế
đặc biệt( lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, khu vực kinh tế đối ngoại); góp phần vào
sự đảm bảo xã hội, tăng thu nhập ngân sách Nhà nớc, tăng tích luỹ tiền tệ cho nền
kinh tế quốc dân.
2.3. Đặc trng củA ngành hoạt động Kinh doanh bảo hiểm.
Đặc trng cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là sự kết hợp giữa hoạt
động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm với các rủi ro đợc bảo hiểm.
Rủi ro đợc bảo hiểm: Chỉ là sự cố dự tính, nếu xảy ra gây thiệt hại hoặc ảnh h-
ởng đến đối tợng bảo hiểm sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thờng hoặc trả tiền bảo
hiểm.
Những rủi ro đợc bảo hiểm thờng đợc nêu trong phạm vi bảo hiểm của qui tắc
bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm: Là phạm vi giới hạn những rủi ro mà theo đó thoả thuận
nếu những rủi ro đó xảy ra ngời bảo hiểm sẽ chiụ trách nhiệm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các doanh nghiệp thực hiện với t cách là
ngời bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm lập quỹ bảo hiểm trên cơ sở đóng góp
phí bảo hiểm của ngời tham gia bảo hiểm.
Ngời tham gia bảo hiểm: Là ngời có thân thể, tài sản trách nhiệm dân sự cần
đợc bảo hiểm hoặc là ngời có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp
luật. Ngời tham gia bảo hiểm có thể là pháp nhân hoặc là thế nhân, họ tham gia bảo
hiểm vì lợi ích của bản thân hoặc vì lợi ích của ngời khác. Để đợc hởng quyền lợi
bảo hiểm ngời tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm theo mức thoả
thuận cho bên bảo hiểm.
7
Phí bảo hiểm: Là giá cả của dịch vụ bảo hiểm. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà
ngời tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ nộp cho doanh nghiệp bảo hiểm theo sự thoả
thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, ngời tham gia bảo

nghiệp tái bảo hiểm chuyên nghiệp thực hiện đối với khách hàng là các doanh
nghiệp bảo hiểm gốc trên cơ sở ký kết và thực hiện hợp đồng tái bảo hiểm với
doanh nghiệp bảo hiểm gốc.
Có hai hình thức tái bảo hiểm chính:
8
- Tái bảo hiểm tạm thời.
- Tái bảo hiểm cố định.
Mọi hoạt động tái bảo hiểm là tạm thời. Điều này có nghĩa là mỗi rủi ro mà
công ty bảo hiểm gốc mời chào cho công ty tái bảo hiểm thì công ty tái bảo hiểm
đều có thể quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Điều này liên quan rất
nhiều đến việc quản lý nh chúng ta có thể hình dung và do vậy rất tốn kém. Hình
thức tái bảo hiểm cố định ngày càng trở nên phổ biến. Một thoả thuận sẽ đợc lập
giữa công ty bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm cam kết rằng, tất cả những rủi ro
đáp ứng một số tiêu chuẩn đã thoả thuận sẽ đợc chào (tái) cho công ty tái bảo hiểm.
Có hai dạng tái bảo hiểm cố định.
3.2.1. Tái bảo hiểm cố định theo tỉ lệ.
Theo phơng pháp tái bảo hiểm này, công ty bảo hiểm gốc quyết định tỷ lệ rủi
ro giữ lại là bao nhiêu và thảo thuận chuyển nhợng phần còn lại cho các công ty tái
bảo hiểm theo một hợp đồng cố định.
Có hai loại hợp đồng tái bảo hiểm theo tỷ lệ.
a. Tái bảo hiểm cố định số thành:
Theo hợp đồng tái bảo hiểm số thành, một tỷ lệ cố định của bất cứ tổn thất nào
đã xác định trong hợp đồng đợc tái bảo hiểm.
Ví dụ: Một công ty bảo hiểm gốc có thể đồng ý tái bảo hiểm 80%.
Do vậy, nếu số tiền bảo hiểm cho một rủi ro là 1.000.000 VND thì công ty bảo
hiểm gốc giữ lại 200.000 và tái bảo hiểm 800.000 VND.
b. Hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi.
Một cách thức khác để tái bảo hiểm tỷ lệ cố định của mọi tổn thất là công ty
bảo hiểm gốc quyết định mỗi rủi ro công ty giữ lại là bao nhiêu. Số này đợc gọi là
mức giữ lại và đợc tính toán trên tổn thất tài chính dự kiến. Đa số các trờng hợp

công việc liên quan đến việc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm
theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm.
Ngời môi giới bảo hiểm có thể là một cá nhân hoặc một công ty bảo hiểm mà
toàn bộ thời gian làm việc của họ là thu xếp để khách mua bảo hiểm ký kết hợp
đồng với các công ty bảo hiểm.
Ngời đợc bảo hiểm có thể nhận đợc sự t vấn độc lập từ một ngời môi giới về
một loạt vấn đề bảo hiểm mà không phải trả phí trực tiếp cho ngời môi giới.
Ví dụ: Một ngời môi giới bảo hiểm sẽ t vấn về các nhu cầu bảo hiểm, các hoạt
động bảo hiểm tốt nhất và những hạn chế chúng, về thị trờng bảo hiểm tốt nhất, các
thủ tục khiếu nại, nghĩa vụ của ngời đợc bảo hiểm theo các điều kiện của đơn bảo
hiểm và ngời môi giới sẽ cập nhật các thông tin theo thời gian bao gồm cả những
thay đổi của thị trờng.
Theo quan điểm của các công ty bảo hiểm, những cuộc đàm phán với ngời
môi giới thờng dễ dàng hơn và nhanh chóng hơn so với việc tiếp xúc trực tiếp với
ngời mua bảo hiểm.
ở Việt Nam hiên nay mới có một công ty liên doanh môi giới bảo hiểm, đó là
công ty Aon Inchinbrok thành lập năm 1993( vốn điều lệ 250.000 USD). Đây là
công ty liên doanh giữa một bên là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam (BAOVIET)
và bên nớc ngoài là tập đoàn Môi giới bảo hiểm Aon của Mĩ.
II. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp đối với hoạt động Kinh
doanh bảo hiểm.
10
1.Những ảnh hởng của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm đối
với nhà nớc, nền kinh tế xã hội.
Trong điều kiện kinh tế nớc ta hiện nay, bảo hiểm đợc coi là giải pháp bồi th-
ờng vật chất cho những thiệt hại rủi ro cho con ngời, đồng thời là phơng pháp tích
tụ vốn để phân phối lại cho các nhu cầu đầu t vào nền kinh tế đang cần vốn. ở các
nớc phát triển, ngành kinh doanh bảo hiểm đóng góp từ 5% đến 10% GDP của các
nớc đó, đồnh thời là một cônh cụ điều hoà và phân phối vốn khá hiệu quả của nền
kinh tế.

Vụ việc. Số tiền bồi thờng.
- Vụ tổn thất về khống chế giếng dầu 9.000.000 USD.
của hãng AEDC
- Vụ tổn thất toàn bộ một máy bay lên 1.600.000 USD.
.thẳng.
- Vụ tổn thất hàng Xuất khẩu bột mỳ do 1.500.000 USD.
chở trên tàu bị mất tích.
- Vụ tổn thất cháy nhà máy giầy An Đỉnh 1.000.000 USD.
Hải Phòng
- Bồi thờng về trách nhiệm dân sự chủ tàu 16,5 tỷ đồng VN.
Trờng Sa đối với hu hỏng đờng ống dẫn khí.
Nhằm mục đích chủ động và tích cực đề phòng và hạn chế tổn thất, BAOVIET
đã cùng ngành giao thông vận tải tài trợ cho việc xây dựng một nhánh đờng lánh
nạn. Cho đến nay, đã có gần 20 nhánh đờng lánh nạn đợc xây dựng với sự đóng góp
tài trợ của BAOVIET với số vốn đầu t tới hàng trăm triệu đồng. Nhờ những con đ-
ờng lánh nạn đó mà hàng chục xe chở khách đã đợc cứu thoát khỏi tai nạn, nhiều
sinh mạng đã đợc cứu thoát khởi lỡi hái của tử thần.
1.2. Hoạt động Kinh doanh bảo hiểm là giải pháp đảm bảo sự an toàn cho các
nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng.
Trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, các doanh nghiệp trở thành nhân tố
chủ yếu thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Sự an toàn trong kinh doanh của các doanh
nghiệp phải do chính doanh nghiệp phải lo liệu và Nhà nớc không thể bao cấp cho
những tổn thất và rủi ro xảy ra cho doanh nghiệp. Vì vậy, chỉ có thể tham gia bảo
hiểm thì doanh nghiệp mới đảm bảo cho những hoạt động sản xuất và kinh doanh
của mình đợc thực hiện thuận lợi.
1.3. Bảo hiểm có lợi cho việc thực hiện bảo toàn vốn vay của Ngân hàng th-
ơng mại một cách thuận lợi, bảo toàn cho việc luân chuyển vốn vay.
Trong thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta, một phần vốn cần dùng cho
doanh nghiệp đợc cung cấp từ khoản tiền vay của ngân hàng. Nhng khi doanh
nghiệp bị tai nạn rủi ro, việc đó chẳng những ảnh hởng tới khả năng hoàn trả khoản

Điều 63 Luật Kinh doanh Bảo hiểm đã đợc Quốc hội nơc Cộng Hoà XHCN
Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 09/12/200 quy định Điều kiện để
đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm;
Các điều kiện để đợc cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo
hiểm bao gồm:
1, Có số vốn điều lệ đã góp không đợc thấp hơn mức vốn pháp định theo quy
định của Chính phủ.
Mức vốn pháp định của Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm
đợc quy định nh sau: Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, Công ty liên doanh bảo
hiểm: 20 tỷ đồng Việt nam hoặc 2 triệu đô la Mĩ(Khoản 1 Điều 22 Nghị định
100/CP, ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm)
2, Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều
64 Luật Kinh doanh Bảo hiểm.
3, Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật kinh
doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật.
4, Ngời quản trị, ngời điều hành có năng lực quản lý chuyên môn nghiệp vụ về
bảo hiểm.
1.2.2. Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
Việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm thu đợc lợi ích
kinh tế. Mục đích của ngời bỏ tiền vốn ra hoặc những ngời góp vốn cổ phần để
thành lập doanh nghiệp bảo hiểm nhằm thông qua con đờng hoạt động kinh doanh
bảo hiểm của doanh nghiệp để thu lợi nhuận. Việc kinh doanh của doanh nghiệp
bảo hiểm cũng đợc tự chủ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm những nghiệp vụ
cần bảo hiểm nhằm nâng cao hiệu quả và thực hiện tăng thêm giá trị tài sản, dới sự
kiểm soát vĩ mô của Nhà nớc, theo sự đòi hỏi của thị trờng. Đây cũng là sự khác
nhau cơ bản giữa hình thức doanh nghiệp bảo hiểm với các hình thức tổ chức khác
về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế của nhà nớc.
1.2.3. Nôi dung kinh doanh của Doanh nghiệp bảo hiểm là những nghiệp vụ
bảo hiểm.
Nghiệp vụ bảo hiểm là một loại hoạt động kinh doanh có tính chất giúp đỡ lẫn

chính xét duyệt về việc này. Các điều kiện cần thiết để Bộ Tài chính xét duyệt cấp
giấy Chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm( gọi
tắt là giấy chứng nhận) đã đợc quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm đợc Quốc
hội thông qua ngày 09/12/200 tại Điều 63. Còn Điều 64 quy định cụ thể về Hồ sơ
xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động và Điều 60 quy định Nội dung hoạt
động của doanh nghiệp bảo hiểm.
Quản lý chặt chẽ doanh nghiệp bảo hiểm, không cho phép những doanh
nghiệp cha đợc phép đăng ký mà đã kinh doanh bảo hiểm là nguyên tắc chung
trong Luật Kinh doanh bảo hiểm ở nhiều nớc trên thế giới.
Khi thành lập doanh nghiệp bảo hiểm phải có đủ số vốn theo luật định. Điều
22 Nghị định 100/CP quy định mức vốn pháp định của Doanh nghiệp bảo hiểm và
tổ chức môi giới bảo hiểm nh sau:
1- Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam , công ty liên doanh bảo hiểm: 20tỷ
đồng Việt Nam hoặc 2 triệu đô la Mĩ.
15
2- Chi nhánh của tổ chức bảo hiểm nớc ngoài, công ty bảo hiểm 100%
vốn nớc ngoài: 5 triệu đô la Mĩ.
3- Tổ chức môi giới bảo hiểm Việt nam, công ty liên doanh môi giới bảo
hiểm: 1 tỷ đồng Việt nam hoặc 100 ngàn đô la Mĩ.
4- Chi nhánh của tổ chức môi giới bảo hiểm nớc ngoài, công ty môi giới
bảo hiểm 100% vốn nớc ngoài: 300 đô la Mĩ.
Vốn đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm là vốn mà doanh nghiệp
đã ghi vào điều lệ tổ chức hoạt động của doanh nghiệp đăng ký. Nguồn vốn này là
cơ sở vật chất để doanh nghiệp kinh doanh, đồng thời cũng là sự bảo lãnh bằng tài
sản của ngời chủ nợ và còn là hạn mức về trách nhiệm đóng góp của ngời góp cổ
phần vào doanh nghiệp.
Tính chất kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm đã quyết định số vốn của
doanh nghiệp bảo hiểm phải cao hơn doanh nghiệp cùng loại, mới có đủ năng lực
để thực hiện trách nhiệm tài chính đối với khách hàng. Hơn nữa, vốn của doanh
nghiệp bảo hiểm còn khác với các doanh nghiệp ngành nghề khác ở chỗ vốn này

nghiệp. Vì vậy cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm không có tính cứng
nhắc, mà có thể thay đổi tuỳ thuộc vào các điều kiện ảnh hởng.
Hầu hết các doanh nghiệp bảo hiểm đợc tổ chức theo:
Văn phòng chính: có trách nhiệm xác định chính sách tổng thể và điều hành
các hoạt động của doanh nghiệp.
Các văn phòng chi nhánh: có trách nhiệm kinh doanh dịch vụ đối với khách
hàng và thanh toán dàn xếp các khoản bồi thờng.
Do tính phân bố rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp nên rất khó miêu
tả mẫu chuẩn cơ cấu tổ chức. Nhng nhìn chung, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt
động theo nguyên tắc:
a. Văn phòng chính.
Văn phòng chính thờng đặt tại Thủ đô hoặc một trong các thành phố chính
(còn gọi là tổng công ty).
Cao nhất là Ban giám đốc, những ngời không nhất thiết phải đợc đào tạo
chuyên môn bảo hiểm, nhng phải là những ngời giỏi trong công nghiệp hoặc thơng
mại. Họ sử dụng kiến thức chuyên môn của mình để đa ra các quyết định chung
nhất có liên quan đến các vấn đề trong hoạt động của công ty và quyết định về đầu
t các quỹ theo quy định kinh doanh bảo hiểm.
17
TổNG GIáM ĐốC
Chi
nhánh
Tổ
chức
ban giám đốc
Đầu
t
Tai nạn
và cháy
HàngTuy nhiên, nh ta đã biết, cơ cấu tổ chức của một công ty bảo hiểm phụ thuộc
rất nhiều yếu tố và có thể thay đổi. Vì vậy, thông thờng các công ty bảo hiểm thờng
18
giám đốc chi nhánh
Nhân viên
đại lý và
quản lý
viên
Thanh
tra viên
Nhân viên
hành
chính
Nhân
viên đầu
t
Nhân sự
Văn phòng chính
Văn phòng chi
nhánh A
Văn phòng chi
nhánh B
Văn phòng chi
nhánh C
Văn phòng
khu vực A

Marketing
tiếp thị
Thẩm
định và
đánh giá
rủi ro
Định giá
bảo hiểm
Actuarial
Đầu t
Dịch
vụ
khách
hàng
Giải
quyết
khiếu
nại
sơ đồ tổ chức theo sản phẩm
Cách thứ 3: Tổ chức theo lãnh thổ.
Nếu một công ty đợc tổ chức theo lãnh thổ, thì các bộ phận chủ yếu của nó đ-
ợc xác định theo khu vực địa lý, mà tại đó nó hoạt động. Một công ty kinh doanh
tại Việt Nam, có thể có các bộ phận Bắc, bộ phân Nam, tức là hoạt động của nó là
trong phạm vi các tỉnh của đất nớc. Trong mỗi bộ phận hoạt động theo lãnh thổ, thì
hoạt động của nó có thể chia nhỏ theo loại sản phẩm hoặc chức năng.
Giám đốc điều hành của mỗi văn phòng khu vực sẽ báo cáo lên Tổng Giám
đốc của công ty. Hoạt động của văn phòng khu vực bao gồm khai thác phát hành
đơn bảo hiểm, thu phí bảo hiểm, giải quyết khiếu nại, dịch vụ cho khách hàng,
giám sát và hỗ trợ cho các hoạt động marketing của vùng.


bảo hiểm
Giải
quyết
khiếu nại
Giám đốc điều hành
1.4.2. Quản trị và điều hành Doanh nghiệp bảo hiểm.
Công việc điều hành doanh nghiệp bảo hiểm có thể chia thành hai mảng lớn
đối nội và đối ngoại:
Điều hành đối nội: là điều hành các hoạt động nội bộ doanh nghiệp bao gồm:
Tổ chức cơ cấu bộ máy, quản trị các bộ mặt hoạt động nhân sự, quản lý tài sản,
quản lý vốn và chi phí. Điều hành nội bộ tốt thì mới điều hành đối ngoại tốt, tề
gia rồi mới trị quốc đợc.
Điều hành đối ngoại: Là điều hành các hoạt động thu hút khách hàng, đền bù
tổn thất, tiến hành kinh doanh, phụ từ vốn nhàn rỗi, quan hệ với các đối tác và các
cấp chính quyền. Các hoạt động đối ngoại là nguồn của doanh thu và lợi nhuận, cần
đợc điều hành với chất lợng cao và cũng là kết quả của các hoạt động điều hành đối
nội.
1.5. Hoạt động chủ yếu của Doanh nghiệp bảo hiểm.
21
Các văn phòng khu
vực
Trụ sở chính của
Tập đoàn
Phòng kế
toán
Hệ thống
thông tin
Luật
Phòng
nhân lực

khiếu nại
Thẩm định
và định
giá rủi ro
Thẩm dịnh
và định giá
rủi ro
Hoạt động bảo hiểm đã có từ rất lâu. Đến nay cùng với sự phát triển kinh tế-
xã hội, các rủi ro đã có nhiều thay đổi về nguyên nhân, chủng loại, mức độ và vì
vậy hoạt động bảo hiểm, một hoạt động kinh doanh rủi ro cũng thay đổi cho phù
hợp. Cùng với mức độ tổn thất của rủi ro ngày càng lớn, xuất hiện những rủi ro mới
mà ngời tham gia bảo hiểm có những nhu cầu đợc bảo hiểm khác trớc. Vì vậy, hoạt
động bảo hiểm một hoạt động dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu đa dạng phong phú của
khách hàng với các dịch vụ khác nhau. Cho nên hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp bảo hiểm là kinh doanh các loại hình bảo hiểm. Các loại hình bảo hiểm mà
doanh nghiệp bảo hiểm kinh doanh là:
1.5.1. Các hình thức hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp bảo hiểm.
a. Bảo hiểm con ng ời.
Con ngời là thành phần cơ bản của đời sống xã hội. Chính vì vậy, con ngời là
đối tợng của nhiều loại bảo hiểm và bảo đảm xã hội.
Bảo hiểm con ngời là một loại bảo hiểm trong các chế độ kinh doanh bảo
hiểm, có đối tợng bảo hiểm là sinh mạng, sức khẻo, khả năng hoạt động của con
ngời, thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện.
Bảo hiểm con ngời đợc phân làm hai loại là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm
phi nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ gồm có:
- Bảo hiểm trọn đời;
- Bảo hiểm sinh kỳ
- Bảo hiểm tử kỳ;
- Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

gồm hai loại: Trách nhiệm dân sự đối với ngời thứ ba và trách nhiệm dân sự trong
hợp đồng phát sinh do rủi ro khách quan.
Các chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự hàng không.
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu thuyền.
- Bảo hiểm trách nhiệm quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi có
kỳ hạn.
Phạm vi bảo hiểm:
- Khi quỹ tín dụng bị phá sản.
- Khi quỹ tín dụng bị giải thể.
- Khi quỹ tín dụng phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc
bị phá sản hay mất khả năng thanh toán.
- Khi quỹ tín dụng bị giải thể tự nguyện do quỹ đang đặt trong tình trạng có
nguy cơ dẫn đến phá sản.
- Khi quỹ tín dụng không thực hiện việc thanh toán cho những ngời gửi tiền
vì lệnh của toà án.
c. Bảo hiểm tài sản.
Bảo hiểm tài sản là loại bảo hiểm có đối tợng là tài sản. Tuy vậy, không phải
tất cả các loại tài sản đều có thể là đối tợng đợc bên bảo hiểm nhận bảo hiểm. Bởi
vì, trong đời sống xã hội, trong nền kinh tế có nhiều loại tài sản. Đó có thể là tài
sản hữu hình hoặc tài sản vô hình.
Tài sản hữu hình: Là tài sản có hình thái vật chất cụ thể, có thể xác định đợc
giá trị theo các hình thức thông thờng.
23
Tài sản vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể đợc biểu
hiện dới hình thức nh bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, các quyền lợi tài chính
Các hình thức bảo hiểm chủ yếu đối với tài sản:
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam .
- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đờng biển.

sao cho tỷ lệ phát sinh rủi ro dự báo gần sát với tỷ lệ phát sinh rủi ro thực tế xảy ra,
nhằm đảm bảo cho sự ổn định kinh doanh bảo hiểm. Đồng thời, số lợng hợp đồng
bảo hiểm ký đợc càng nhiều thì những chi phí bất biến của doanh nghiệp bảo hiểm
24
cũng giảm đi một cách tơng xứng, tỷ lệ phí bảo hiểm có thể hạ xuống một cách t-
ơng xứng, từ đó có thể thu đợc số đơn vị và ngời tham gia bảo hiểm càng nhiều
hơn.
b. Nguyên tăc chú ý lựa chọn rủi ro.
Sự kiện đáng đợc doanh nghiệp bảo hiểm đảm nhận đóng góp đó là trách
nhiệm bồi thờng tổn thất của tai nạn rủi ro. Đối với những rủi ro muốn tham gia
bảo hiểm, đâu phải doanh nghiệp bảo hiểm từ chối rủi ro nào và sẽ chấp nhận bảo
hiểm tất cả những rủi ro đó, mà phải có sự lựa chọn thật nghiêm chỉnh.
Về nguyên tắc, tai nạn rủi ro đợc chấp nhận bảo hiểm phải là sự kiện ngẫu
nhiên. Nếu những rủi ro đã đợc chấp nhận bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản đều là
những rủi ro tất nhiện phải xảy ra, thì doanh nghiệp bảo hiểm chắc chắn bị phá sản.
Về phía ngời tham gia bảo hiểm, thông thờng đều mong muốn rằng chỉ bỏ ra khoản
phí bảo hiểm thấp nhất, để đánh đổi lấy khoản tiền bồi thờng bảo hiểm nhiều nhất,
nên cũng phải lựa chọn ngợc chiều với phía doanh nghiệp bảo hiểm.
c. Nguyên tắc phân tái rủi ro.
Muốn giảm nhẹ bớt trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cần phải
tìm cách chia sẻ các rủi ro mà mình đã nhận cho các nhà bảo hiểm khác, tránh tập
trung rủi ro quá mức. Nếu không sẽ làm cho khả năng đảm nhận của mình bị vợt
quá, dẫn đến tình trạng không thể nào thức hiện đợc trách nhiệm bồi thờng, gây
thiệt hại cho ngời tham gia bảo hiểm. Vì vậy, Nhà nớc đã hạn chế trách nhiệm tự
gánh vác (tức là mức giữ lại) của từng doanh nghiệp bảo hiểm. Điều 6 Nghị định
100/CP quy định Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho các Doanh
nghiệp khác .
d. Nguyên tắc tính phí bảo hiểm một cách hợp lý.
Việc tính và thu phí bảo hiểm có hợp lý hay không, có khoa học hay không đó
là một vấn đề rất quan trọng trong kinh doanh bảo hiểm . Để cho phí bảo hiểm thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status