LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thế giới đặc biệt là ở các nước phát triển đang ngày càng tăng lên không
ngừng. Bước sang thế kỷ 21 thế giới đang chứng kiến những biến đổi lớn lao trong mọi
lĩnh vực từ sản xuất kinh doanh, phục vụ đến hoạt động văn hoá quản lý xã hội. Cùng với
sự bùng nổ thông tin mạnh mẽ đã đang làm thế giới chuyển sang một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên tin học.Một trong những nguyên nhân chủ yếu khá quan trọng của những biến đổi
này là sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng của tiến bộ khoa học và côngnghệ. Đặc biệt
trong thời đại thông tin đang chi phối gần như toàn bộ nền thương mại thế giới buộc các
doanh nghiệp muốn tồn tại phải khẳng định được chỗ đứng của mình trên thương trường
không còn con đường nào khác là phải đổi mới các trang thiết bị ứng dụng tiến bộ của
khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thịtrường theo
định hướng XHCN có sự điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước. Đây là một điều kiện
rất thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp xúc với thị trường thế giới vớinhững công nghệ,
kỹ thuật tiên tiến cùng mô hình tổ chức và phương pháp quản lý mới hiện đại. Đối với
một nước đang phát triển như nước ta hiện nay thì công cuộc đổi mới càng trở nên bức
thiết hơn bao giờ hết vì thiết bị phục vụ cho sản xuất trong các doanh nghiệp công nghiệp
của ta còn rất lạc hậu, năng suất lao động rất thấp, bên cạnh đó việc đầu tư đổi mới công
nghệ phục vụ sản xuất ở các doanh nghiệp công nghiệp nước ta nhiều bất cập. Để chuyển
sang nền kinh tếthị trường với sự phát triển công nghiệp hiện đại từ điểm xuất phát thấp
nướcta không thể đi theo các bước tuần tự như các nước đi trước đã làm mà phảiphát
triển theo kiểu nhảy vọt rút ngắn, đây là cơ hội tận dụng lợi thế vềkhoa học công nghệ
của các nước phát triển sau vừa là thách thức đòi hỏi phảivượt qua.
Thấy rõ được vai trò hết sức quan trọng của công nghệ, tôi quyết định chọn đề tài:
“Vai trò của công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp. Liên hệ ở một số doanh
nghiệp tại Việt Nam”. Dù đã cố gắng hết mình song vẫn không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ cô giáo và các bạn sinh viên. Xin
chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I. Những vấn đề cơ bản về công nghệ.
trình hoạt động. Nó cũng bao gồm các tố chất của con người như tính sáng tạo, sự khôn
ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức lao động,…
Phần thông tin
Công nghệ hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hóa để sử dụng trong các hoạt
động đối với công nghệ bao gồm các dữ liệu về máy móc, về phần con người và phần tổ
chức
Phần tổ chức
Công nghệ hàm chứa trong các khung thể chế dể xây dựng cấu trúc tổ chức: những
quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân trong hoạt
động của công nghệ; những quy định đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử
dụng tốt nhất phần vật tư kỹ thuật và phần con người.
3. Phân loại công nghệ
Tuỳ theo mục đích, người ta phân loại các công nghệ như sau:
• Theo tính chất : Công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ, công nghệ thông tin, công
nghệ đào tạo.
• Theo ngành nghề : Công nghệ công nghiệp, nông nghiệp, công nghệ sản xuất hàng tiêu
dùng, công nghệ vật liệu.
• Theo sản phẩm : Phân theo sản phẩm mà công nghệ sản xuất ra: công nghệ xi măng,
năng lượng, ô tô, xe đạp…
• Theo đặc tính công nghệ: Công nghệ đơn chiếc, hàng loạt, liên tục.
• Theo mức độ hiện đại: Cổ điển, trung gian, tiên tiến.
• Theo đặc thù : Then chốt, truyền thống, mũi nhọn
• Theo mục tiêu : Dẫn dắt, thúc đẩy phát triển.
• Theo đặc thù của công nghệ: Công nghệ cứng, công nghệ mềm.
II. Vai trò của công nghệ đối với hoạt động của doanh nghiệp
1. Đối với hoạt động bán hàng
Bán hàng là khâu cuối cùng và đóng vai trò quyết định phát triển lưu thông hàng
hoá,đưa hàng hoá từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng và chuyển hàng hoá thành tiền tệ. Để
kinh doanh có hiệu quả ngoài những kỹ năng kinh doanh có sẳn còn đòi hỏi sự nhạy bén
cập nhật thông tin thị trường một cách nhanh nhất của doanh nghiệp.
các cửa hàng, siêu thị trong toàn bộ hệ thống chuỗi của doanh nghiệp.
• Khắc phục được tình trạng hàng tồn kho tại các chi nhánh và khai thác nguồn hàng từ
các nhà cung cấp.
• Cải tiến quy trình quản lý trong hệ thống chuỗi các cửa hàng, siêu thị.
• Tiết kiệm thời gian giữa các khâu: mua hàng, bán hàng, kiểm kê hàng tồn kho và tính
toán lập báo cáo.
• Cắt giảm chi phí tồn kho và tránh tình trạng hết hàng tồn kho.
Tuy nhiên áp dụng các công nghệ vào việc bán hàng này còn rất mới mẻ so với đất
nước ta nên chưa áp dụng rộng rãi và đồng bộ với tất cả các doanh nghiệp.Nhưng đây là
một tiềm năng,một hình thức bán hàng tương lai để cho các doanh nghiệp khai thác và
phát triển.
2. Đối với hoạt độngquảng cáo giới thiệu sản phẩm
Hiện nay, bất kể ngành nghề, lĩnh vực nào cũng đề cao yếu tố nhanh - gọn - hiệu quả
và ứng dụng công nghệ chính là giải pháp tối ưu cho những yêu cầu này. Nhờ thường
xuyên cập nhật công nghệ hiện đại, các doanh nghiệp tiến hành quảng cáo có thể dễ dàng
tối ưu hóa chi phí (xét về mặt lâu dài), thời gian và tăng tốc mạnh mẽ. Đồng thời, việc
cập nhật và ứng dụng các công nghệ mới giúp tăng cường tính năng tương tác, kiểm soát
hiệu quả kinh doanh, nhất là các ứng dụng về đánh giá, đo kiểm và phân tích.Mặt khác,
quảng cáo trực tuyến còn có thể tạo nên bước tiến khi liên kết chặt chẽ với các trang
thương mại điện. Tận dụng công nghệ còn là bước đệm để quảng cáo trực tuyến dễ dàng
bắt nhịp với xu thế, nhu cầu, thị hiếu và thói quen sử dụng của doanh nghiệp cũng như
người tiêu dùng.
Minh chứng cụ thể chính là sự nở rộ của các sản phẩm điện tử hay những ứng dụng mới
trên nền tảng công nghệ thông tin như: smartphone, máy tính bảng, mạng xã hội… đã tạo
điều kiện cho quảng cáo trực tuyến đa dạng hóa, mở rộng quy mô, đối tượng tác động
một cách nhanh chóng và mạnh mẽ.
Trên thực tế, những xu thế công nghệ mới luôn thu hút được sự quan tâm và tạo nên
rất nhiều trào lưu trong đời sống hiện đại. Theo tổng hợp mới nhất, đã có 326 tỷ lượt xuất
hiện của banner trên Facebook, trải rộng trên 205 quốc gia với 70% là sự xuất hiện quảng
cáo thuộc các ngành tài chính, bán lẻ, game và giải trí. Điều này cho thấy các nhà quảng
+ Dễ dàng tiêu chuẩn hoá trong thiết kế
4. Đối với hoạt động sản xuất
Mục đích của việc coi trọng thúc đẩy tiến bộ khoa học đổi mới côngnghệ là nhằm tăng
năng suất lao động, đổi mới mặt hàng, nâng cao chấtlượng và hạ giá thành sản phẩm. Từ
đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và thulợi nhuận cho doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường không có sản phẩm nào mà chu kỳ sốngcủa nó tồn tại quá
lâu. Các nhà doanh nghiệp luôn phải tính toán trong thờigian bao lâu nên thay đổi sản
phẩm và thay đổi nhưthế nào.
Điều này chỉ thể hiện được nếu doanh nghiệp có một chiến lược sảnphẩm đúng đắn tức
là đổi mới nhanh công nghệ tạo ra sản phẩm mới vớichất lượng tốt. Nhân tố quyết định
sự thành công là chính bản thân sản phẩmcủa doanh nghiệp. Sản phẩm ở đây có thể là
hàng hoá hoặc cũng có thể làmột dịch vụ có khả năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu
dùng trên thịtrường. Do vậy mục tiêu của đổi mới công nghệ là làm đa dạng hoá
sảnphẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường.
Trong khi sự thay đổi công nghệ nói chung đều tác động đến hầu hết mọi ngành công
nghiệp, thì đôi khi có một số thay đổi công nghệ chỉ tác động trong một ngành công
nghiệp duy nhất. Ví dụ, gạch bông là một tiến bộ công nghệ diễn ra duy nhất trong ngành
công nghiệp xây dựng. Còn lại hầu hết những tiến bộ công nghệ trong những thập niên
gần đây đều có một ý nghĩa lớn và tác động rộng đối với nhiều ngành công nghiệp. Nhìn
chung, những tiến bộ trên mang lại sự tự động hoá nhiều hơn trong quá trính sản xuất,
trong đó máy móc được sử dụng thay thế trong các quy trình do con người thực hiện.
Những ví dụ về các loại máy móc chính trong công nghệ sản xuất là thiết bị điều khiển
bằng số, trạm nhóm các máy điều khiển bằng số, robô công nghiệp, hệ thống sản xuất và
thiết kế với sự hỗ trợ của máy tính (CAD, CAM), hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS), hệ
thống điều khiển và hoạch định sản xuất tự động, và hệ thống sản xuất điều khiển bằng
máy tính. Sau đây, chúng tôi sẽ mô tả chi tiết về các loại công nghệ trên, đặc biệt là công
nghệ sản xuất điều khiển bằng máy tính và công nghiệp thiết kế với sự hỗ trợ của máy
tính.
- Thiết bị điều khiển bằng số bao gồm máy công cụ điều hành được sử dụng nhằm xoay,
khoan, mài các chi tiết khác nhau của nhiều bộ phận; và một máy vi tính điều khiển các
trình vận chuyển, lưu kho, và dự trữ nguyên liệu. Ví dụ như các băng tải cơ giới, hệ thống
tự động đặt các chủng loại nguyên liệu; và hệ thống thiết bị hướng dẫn nhiều vị trí trong
nhà máy, ích lợi của hệ thống AMH là giúp vận chuyển nguyên liệu nhanh hơn, giảm tồn
kho và giảm không gian dự trữ, giảm thiệt hại sản phẩm và hiệu suất lao động tăng lên.
- Hệ thống sản xuất linh hoạt (FMS) là nói đến một loạt các hệ thống khác nhau ở mức độ
cơ giới hoá, di chuyển tự động, và điều khiển bằng máy. Một FMS là một hệ thống được
thể hiện với sự gia tăng máy móc và sự tự động: modun sản xuất linh hoạt, theo ô, nhóm,
hệ thống sản xuất, và dây chuyền.
Các ưu điểm:
+ Tăng tính linh hoạt.
+ Xử lý nhiều loại vật liệu.
+ Giảm giá thành, giảm chi phí cho dụng cụ cắt.
+ Tăng hệ số sử dụng máy.
+ Giảm phế liệu.
+ Giảm mặt bằng sản xuất.
+ Tăng năng suất lao động.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm
CAM - Computer Aided Manufacturing: Chế tạo sản xuất có sự trợ giúp củamáy tính.
Mục tiêu của CAM là: Mô phỏng quá trình chế tạo, lập trình chế tạo sản phẩm trên các
mấy công cụ tự động CNC (Computer Numerical Control –Điều khiển số dùng máy
tính). Quá trình CAM được thực hiện trên hệ thống máy côngcụ điều khiển số NC, CNC.
Ưu điểm của CAM:
+ Tăng năng suất lao động.
+ Nâng cao chất lượng sản phẩm.
+ Giảm diện tích sản xuất.
+ Đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng.
+ Cải thiện điều kiện làm việc của công nhân
- Hệ thống sản xuất tích hợp máy tính (CIM) là một phiên bản tự động của quy trình sản
xuất chung, trong đó ba chức năng sản xuất chính là thiết kế quá trình và thiết kế sản
phẩm; hoạch định và kiểm tra, và bản thân quy trình sản xuất đã được thay thế bởi công
tin trên, doanh nghiệp có thể điều chỉnh hoạt động sản xuất hoặc sản phẩm, giá bán, kênh
phân phối và các chương trình khuyến mãi để tiếp cận, thỏa mãn nhu cầu và xây dựng
lòng trung thành của khách hàng một cách hiệu quả nhất, trong giới hạn ngân sách tiếp
thị của doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy hoạt động nghiên cứu thị trường là một công việc không thể thiếu khi
một doanh nghiệp bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình.
Vì vậy hiện nay các doanh nghiệp đang từng bước áp dụng các phương tiện công nghệ
để tiến hành nghiên cứu thị trường sử dụng các công nghệ, phần mềm phân tích, phương
tiện thông tin để thu thập các dữ liệu thị trường một cách chính xá từ đó đưa ra các giải
pháp cho doanh nghiệp của mình để phù hợp với biến động thị trường và nhu cầu của
khách hàng.
6. Đối với hoạt động thanh toán
Trong hoạt động thanh toán của các doanh nghiệp, công nghệ cũng góp một vai trò
quan trọng. Với nhiều các hình thức thanh toán đa dạng sử dụng công nghệ tiên tiến như
thanh toán bằng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ; các hình thức thanh toán trực tuyến qua các
website đang ngày càng diễn ra rộng rãi hơn. Ngoài ra còn đầu tư mua các trang thiết bị
cho việc thanh toán, các máy thanh toán tự động, hệ thống POS
Trên nền tảng công nghệ thông tin, đặc biệt là internet, hoạt động thương mại điện tử ở
Việt Nam trong những năm qua đã có sự phát triển mạnh mẽ. Theo kết quả điều tra của
Bộ Công thương cuối năm 2009 cho thấy, gần như 100% doanh nghiệp được điều tra đã
tổ chức triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở nhiều quy mô và mức độ khác nhau và
phát triển trên hầu khắp các tỉnh thành của cả nước. Cùng với đó, hoạt động mua bán
hàng hóa, dịch vụ trực tuyến trên internet đã từng bước phát triển và dần trở nên quen
thuộc. Nhờ đó, hoạt động thanh toán đã có những bước phát triển đáng kể và đang ngày
càng thể hiện vai trò và lợi thế vượt trội so với các phương tiện thanh toán truyền thống
trước đây.
Từ năm 2008 đến nay, các dịch vụ, phương tiện thanh toán đã được phát triển mạnh
mẽ và đa dạng dựa trên nền tảng ứng dụng công nghệ như internet banking, mobile
banking, ví điện tử,… đang dần đi vào cuộc sống, phù hợp với xu thế thanh toán của các
là một phần mềm kế toán, phần mềm quản lý nhân sự đơn giản hoặc có thể là cả một hệ
thống phần mềm phức tạp với đầy đủ chức năng quản lý theo kiểu ERP
Do vậy, các giải pháp, phần mềm quản trị nguồn nhân lực cũng đang ngày càng hoàn
thiện các tính năng nhằm hỗ trợ toàn diện công tác quản trị nhân lực tại các tổ chức,
doanh nghiệp. MISA đã giới thiệu MISA HRM.NET 2012 như là một công cụ hỗ trợ toàn
diện, cả về mặt nghiệp vụ lẫn công nghệ.MISA HRM là công cụ tác nghiệp hàng ngày
cho các nhân viên quản trị nguồn nhân lực của tổ chức từ việc lập kế hoạch tuyển dụng,
tiếp nhận hồ sơ ứng viên trực tuyến, tuyển dụng cán bộ, quản lý hồ sơ, quản lý lương,
thưởng, phúc lợi, thuế, bảo hiểm, khen thưởng, kỷ luật, sự cố, nghỉ phép đến việc đào tạo,
chúc mừng sinh nhật, chúc mừng kết hôn, nhắc việc, gửi email hàng loạt… tới từng cán
bộ nhân viên.
Với công cụ này, toàn bộ hồ sơ của các thành viên của tổ chức đều được lưu trữ trên phần
mềm, các thông tin được bố trí và quản lý tập trung, rất dễ dàng tra cứu, dễ dàng cập nhật
thông tin dù cho tổ chức có đến hàng ngàn nhân sự. Cán bộ quản trị nguồn nhân lực có
thể tạm biệt những tủ lưu hồ sơ khổng lồ mà khi cần tra cứu, có khi mất đến hàng giờ cho
một hồ sơ nhân viên. Phần mềm cũng cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình hình nhân
sự của đơn vị, giúp cán bộ nhân sự có cái nhìn tổng thể về công việc và nhiệm vụ của
mình.
Thị trường phần mềm phục vụ cho các doanh nghiệp khá đa dạng về chủng loại sản phẩm
phần mềm, cũng như các chức năng hỗ trợ có trong từng sản phẩm. Dựa trên thông tin
của nhà cung cấp giải pháp, lời giới thiệu của các nhà tư vấn, doanh nghiệp có thể mất ít
thời gian hơn trong việc lựa chọn một phần mềm nào đó để sử dụng. Theo từng giai đoạn
mà xu hướng sử dụng phần mềm của các doanh nghiệpcó thể thay đổi cho phù hợp với
môi trường hoạt động của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Đặc biệt là hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Enterprise Resource
Planning) là một hệ thống phần mềm hỗ trợ cho doanh nghiệp quản lý các nguồn lực một
cách hiệu quả, dựa trên sự đầy đủ của các nghiệp vụ chức năng: quản lý bán hàng, cung
ứng vật tư, quản trị sản xuất, theo dõi tài chính, các nghiệp vụ quản lý nhân sự Đây là
một hệ thống mang tính “hướng nội", nghĩa là quản lý hiệu quả các nguồn lực bên trong,
sẵn có trong doanh nghiệp.
minh hàng hóa ngẫu nhiên…
Quản lý kho hàng
• Hoạt động kho bãi
• Quản lý tối ưu các dòng
• Quản lý đơn hàng
• Sử dụng công nghệ mới nhằm nâng cao khả năng truy xuất và chứng thực : RFID,
mã vạch, máy móc không dây…
• Quản lý thiết bị : xe vận chuyển, đóng gói, phân loại…
• Tổ chức thời gian vận chuyển
• Cải thiện tính đúng giờ nhờ việc tối ưu hóa hành trình.
Đảm bảo việc truy xuất nguồn gốc (theo dõi) : hỗ trợ áp dụng giải pháp di động (định vị
GPS trên các phương tiện vận chuyển) để biết thời gian thực địa điểm, tình trạng giao
hàng và dự đoán các tình huống bất ngờ (can thiệp nhanh chóng bằng việc thay thế một
phương tiện khác).
Yêu cầu khách hàng
Lập thời gian điều khiển phương tiện
8. Đối với hoạt động vận chuyển
Đối với các hoạt động vận chuyển các công nghệ hiện nay giúpcho việc vận chuyển
trở nên dễ dàng, nhanh chóng hơn không còn phải sử dụng nhiều sức như trước, giảm chi
phí, nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, tăng năng lực sản xuất và
hiệu quả của toàn bộ hệ thống vận chuyển
III. Liên hệ ở một số doanh nghiệp tại Việt Nam
Sự thay đổi công nghệ là một trong những yếu tố chính thúc đẩy cạnh tranh. Nó
giữ vai trò quan trọng trong sự thay đổi cơ cấu công nghiệp và trong việc tạo ra
những ngành công nghiệp mới.
Việt nam đang diễn ra quá trình đổi mới khoa học công nghệ. Quá trìnhđó đã bao gồm
nhiều mặt nhiều dạng hoạt động nhưng tập trung chú ý vào đổimới công nghệ, nhập công
nghệ mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sảnxuất, cải tiến và sáng tạo ra công nghệ,
công nghệ mới bao gồm các thànhphần chính. Thiết bị kĩ thuật phương pháp chế tạo sản
phẩm sự am hiểu côngnghệ mới, tổ chức, quản lý công nghệ mới quá trình đổi mới công
phậnđiều khiển vô cấp bán dẫn đã làm giảm mức tổn thất điện năng từ 20% - 25% xuống
dưới 6%. Đặc biệt có 2 thiết bị : máy doa 2B460 với kích thước bàn quay 1200mm được
CNC có khả năng gia công các bề mặt khuôn mẫu lớn các cánh tua bin thuỷ lực … và
máy tiện SUT66 CNC có khả năng gia công các trục pro. Bên cạnh đó doanh nghiệp tiếp
tục đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị, công nghệ để nâng cao năng xuất, chất lượng sản
phẩm và bảo vệ môt trường.Tăng cường công tác giáo dục, đầo tạo, bồi dưỡng, đầo tạo
lại trình độ, tay nghề cho cán bộ công nhân viên, khuyến khích người lao động áp dụng
khoa học kỹ thuật, phát huy sáng kiến, hợp lý hoá trong sản xuất.
Nhờ vậy doanh nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc và được mệnh danh là con
chim đầu đàn của ngành cơ khí Việt Nam
2. Doanh nghiệp thất bại
Việc đổi mới công nghệ không phải công ty nào cũng đạt được thành công bên cạnh
đó còn có rất nhiều công ty tiến hành đổi mới thất bại mà đơn cử là nhà máydệt Nam
Định. Nhà máy dệt Nam Địnhtừng là nhà máy lớn nhất Đông Dương. Cung cấp rất nhiều
vải vóc cho nhiều vùng tuy nhiên khi tiến hành đổi mới công nghệ nhà máy đã gặp thất
bại do khi tiến hành đổi mới doanh nghiệp chỉ chú ý đến thiết bị mà quên rằng công nghệ
luôn hàm chứa cả 4 yếu tố: kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức. Bốn yếu tố này có
đồng bộ thì mới phát huy được tác dụng của công nghệ còn nếu chỉ chú trọng đến thiết bị
thôi thì chưa thể coi là đổi mới công nghệ được. Thiết bị chỉ đem cho doanh nhiệp từ 40 –
50% năng lực sản xuất, thông tin về công nghệ thì sơ sài, con người thì không được đào
tạođến nơi đến chốn, còn tổ chức quản lý, mua bán chuyển giao công nghệ thì quá lỏng
lẻo, trong khicác yếu tố này nhiều lúc còn quan trọng hơn thiết bị. Vì không thấy được
yếu tố phần mềm của công nghệ (thông tin, con người, tổ chức) cho nên, đầu tư củadoanh
nghiệp cho đổi mới công nghệ tập trung chủ yếu để mua sắm, cải tiến máy móc thiết bị
phần cứng (thông qua nhập khẩu thiết bị hoặc mua thiết bị trong nước) hơn là đầu tư cho
phần mềm công nghệ (đầu tư cho nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hay sản phẩm
hiện có hoặc thiết kế các sản phẩm mới). Vì vậy, hậu quả là doanh nghiệp đã gặp thất bại,
bị thua lỗ nhiều so với thời kỳ trước khi đổi mới. Và bây giờ khi nhắc đến nhà máy dệt
Nam Định nhiều người còn cảm tháy tiếc nuối về điều này.
class="bi x2 yf5 w3 h9"