LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành tốt quá trình thực tập và viết báo cáo. Em xin gửi
lời cảm ơn chân thành đến các thầy/cô trong khoa Quan hệ công chúng và
Truyền thông trường Đại học Hòa Bình đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy,
chia sẻ những kinh nghiệm bổ ích để em có hiểu biết, kiến thức về công tác
PR, từ đó có thể đam mê với ngành học, tạo điều kiện cho em có cơ hội để
vận dụng những điều này vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, em xin cám ơn cô Lê Thị Phương - giáo viên hướng dẫn
đã quan tâm, nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện để em có thể
hoàn thành tốt kỳ thực tập nghề nghiệp này.
Đặc biệt em xin cám ơn chị Đỗ Thị Tâm và các anh, chị, cô, chú, bác
trong phòng công tác du lịch và các thành viên trong những phòng công tác
khác của Công ty Cổ Phần Du Lịch Chang đã tạo điều kiện thuận lợi cho em
được tìm hiểu, tiếp xúc thực tế với công việc, hướng dẫn, giúp đỡ,cung cấp
những văn bản, tài liệu thực tế để em hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
trong quá trình thực tập ở quý Công ty.
Trong thời gian thực tập nghề nghiệp (17/2/2014 – 12/04/2014) em đã
tìm hiểu thêm được rất nhiều kinh nghiệm, kỹ năng về hoạt động PR trong
ngành du lịch Việt Nam. Những phương hướng, giải pháp để đẩy mạnh công
tác du lịch. Đó là những kiến thức thực tế hữu ích về công việc PR.
Trong thời gian thực tập, em đã nỗ lực đề hoàn thành tốt công việc
được giao. Tuy nhiên với kiến thức còn hạn hẹp, thời gian thực tập chưa
nhiều nên trong nhiệm vụ, sản phẩm làm ra còn nhiều thiếu sót. Vì vậy em
mong nhận được những hướng dẫn, góp ý, từ các thấy cô để bản báo cáo được
đầy đủ và hoàn thiện.
Sau cùng em xin kính chúc các quý thầy/cô khoa Quan hệ công chúng
và Truyền thông cùng các thầy cô trường Đại học Hòa Bình thật dồi dào sức
khỏe, niềm tin cùng tình yêu nghề để tiếp tục thực hiện sứ mệnh của mình là
truyền đạt kiến thức đến những thế hệ sau.
Chúc các thành viên trong phòng công tác du lịch cùng các thành viên
trong Công ty Cổ phần Du lịch Chang sức khỏe, đoàn kết và thành công trong
- Phạm vi: Ngành du lịch Việt Nam
- Thời gian: 3 tháng đầu năm 2014 (1/2014 – 3/2014)
3. Mục tiêu của nghiên cứu:
− Tìm hiểu được vai trò của những hoạt động PR góp phần vào phát
triển ngành du lịch ở Việt Nam
− Đánh giá hiệu quả của những hoạt động, chiến lược PR đạt được
trong ngành du lịch Việt Nam 3 tháng đầu năm 2014
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
1
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
− Hiểu thêm về vai trò của PR trong công tác phát triển kinh tế - xã hội
− Nhận thức được thành phần và vai trò của ngành du lịch - ngành
công nghiệp không khói.
− Các hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp góp phần truyền thông
hiệu quả cho du lịch Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Tìm kiếm, chọn lọc dữ liệu.
- Tổng hợp, phân tích các báo cáo, văn bản, dữ liệu thông tin
- Đánh giá, nhận xét
5. Bố cục:
Báo cáo được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, khái quát chung về hoạt động PR (khái niệm,
vai trò, phân loại), phân biệt PR với các hình thức truyền thông khác như
quảng cáo, marketing,
Tình hình phát triển của ngành PR ở Việt Nam. Tổng quát chung về
ngành du lịch ở nước ta.
Chương 2: Thực trạng về hiệu quả của hoạt động PR trong ngành du
lịch Việt Nam ba tháng đầu năm 2014. Một vài ví dụ cụ thể về hoạt động PR
trong du lịch.
Chương 3: Đánh giá về ưu nhược điểm của những hoạt động đó. Từ đó
(process) gồm chuỗi các hành động, sự thay đổi, các chức năng để tạo ra một
kết quả.
Viện Quan hệ công chúng Anh (IRP) định nghĩa: PR là những nỗ lực
một cách có kế hoạch, có tổ chức của 1 cá nhân hoặc tập thể nhằm thiết lập và
duy trì mối quan hệ cùng có lợi với đông đảo công chúng của nó.
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
3
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Đại Hội đồng Quốc tế của những người làm PR tổ chức tại Mexico
tháng 8/ 1978 đã đưa ra định nghĩa khá toàn diện về PR: PR là một ngành
khoa học xã hội nhân văn, phân tích những xu hướng, dự đoán những kết quả,
tư vấn cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và thực hiện các chương trình hành
động đã được lập kế hoạch để phục vụ quyền lợi của cả tổ chức và công
chúng. Định nghĩa này cũng đề cập đến khía cạnh khoa học xã hội và công tác
xã hội của một tổ chức.
Các tác giả cuốn Nghề PR: Quan hệ công chúng coi cơ sở chủ yếu của
hoạt động PR là cung cấp thông tin cho công chúng, xây dựng thông tin 2
chiều giữa công chúng và tổ chức, tạo nên sự hiểu biết và ủng hộ của công
chúng.
Định nghĩa theo chức năng: PR là chức năng quản trị dùng để đánh giá
thái độ của công chúng. Nhận định mối quan tâm của công chúng đối với các
chính sách và cơ chế của một cá nhân hay một tổ chức. Lập kế hoạch và thực
hiện những hoạt động cần thiết để đạt được sự hiểu biết và chấp nhận từ
phía công chúng
Các định nghĩa này bao hàm những chức năng cơ bản của PR: nghiên
cứu, hoạch định, truyền thông và đánh giá.
Nói tóm lại PR là một quá trình truyền thông nhiều chiều được xây
dựng, duy trì và phát triển nhằm tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp.
1.1.2 Chức năng, vai trò và nhiệm vụ của PR
1.1.2.1 Chức năng của PR
việc cho mình qua việc quan hệ tốt nội bộ.
PR có nhiều chức năng, trong đó quan trọng nhất có thể kể đến là:
- Tạo ra và tăng cường sự tín nhiệm, nhận thức và thông cảm.
- Đánh thức và khuấy động sự quan tâm, chú ý.
- Tạo ra và duy trì việc truyền thông và các mối quan hệ.
- Tạo ra sự đồng lòng, sự hiểu biết và chấp nhận lẫn nhau.
- Tác động lên dư luận công chúng.
- Giải quyết xung đột, xử lý khủng hoảng.
- Tăng số lượng khách hàng.
- Duy trì danh tiếng về sản phẩm và dịch vụ.
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
5
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.2.2 Vai trò của PR
PR có những nghiệp vụ liên quan đến việc thu thập thông tin đầu vào và
xử lý thông tin đầu ra. PR cũng làm một trong những nhiệm vụ đặc biệt là quảng
bá cho hình ảnh của tổ chức (đôi khi người ta sử dụng cụm từ “ đánh bóng
thương hiệu” là chưa chính xác, vì PR không chỉ đánh bóng mà còn là một trong
những bên tham gia chính trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu).
Ngoài những vai trò liên quan đến công việc trên, PR tạo ra cảm nhận
về trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng qua các hoạt động từ thiện, gây quỹ,
chính điều này nó cũng góp phần xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp.
Trong mỗi lĩnh vực PR sẽ phát huy vai trò khác nhau như hai yếu tố là
dạng thức kinh doanh và vị trí của người thực hiện PR sẽ quyết định đến dạng
thức tiến hành PR như thế nào.
Trong một tổ chức mà có nhiều người làm PR thì thường là những
người trẻ hơn sẽ đảm nhận làm kỹ thuật, còn người đã có kinh nghiệm sẽ đảm
nhận việc quản lý và giải quyết các vấn đề.
Trong xã hội hiện đại, PR phát huy tác dụng mạnh mẽ trong thương
mại, trong chính trị, là công cụ đắc lực để xây dựng thương hiệu, từ thương
tổ chức. Người làm PR phải là người nâng cao khả năng truyền thông của các
nhân viên hoạt động trong tổ chức, hay cơ quan.
Mục đích của PR Trước khi làm bất cứ việc gì, con người đều hình
dung, xác định trước về mục đích cần đạt tới, con đường và phương pháp
hành động, phương tiện để tác động vào đối tượng. PR cũng vậy, cần nằm rõ
mục đích của nó là gì? Mới có thể xây dựng chiến lược hành động Mục đích
của PR là tạo ra sự hiểu biết và danh tiếng giữa tổ chức với công chúng. Bời
vì nếu hoạt động PR thất bại trong việc tổ chức những kênh thông tin hiệu quả
với công chúng sẽ mang lại những hậu quả không mong muốn cho tổ chức
đó. Mục đích tiếp theo là tạo ra tin tức trên các phương tiện thông tin đại
chúng, nhằm phổ biến những thông điệp đã thống nhất trên một loại hình báo
chí, để phát triển một số lợi ích nhất định của một cơ quan hay cá nhân. Mục
đích hướng đến sự thay đổi nhận thức để cuối cùng dẫn đến những thay đổi về
hành vi. Giúp cá nhân hay tổ chức có những điều chỉnh thích hợp để thích
nghi với sự thay đổi của môi trường xã hội, kinh tế.
Một trong những mục đích cơ bản của PR là hình thành, duy trì và tăng
cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức với công chúng. PR dự đoán,
phòng ngừa và tham gia xử lý những rủi ro, khủng hoảng có thể xảy ra với cá
nhân, tổ chức. Về khả năng khủng hoảng, PR sẽ xem xét mọi nguy cơ tiềm ẩn
có thể gây khủng hoảng; chuẩn bị và tập dượt quy trình xử lý khủng hoảng;
xác định trách nhiệm của bộ phận xử lý khủng hoảng. Khi khi tình huống xấu
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
7
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
xảy ra, PR sẽ giải quyết khủng hoảng bằng cách tổng hợp, phân tích thông tin,
xây dựng chiến lược, phương thức xử lý khủng hoảng. Liên hệ với các công
ty đối ngoại chuyên nghiệp Tôn trọng tuyệt đối quy tắc phát ngôn chính thức,
đồng bộ, nhanh chóng thiết lập kênh thông tin với báo chí, và các bên liên
quan: cơ quan quản lý, khách hàng.
1.1.2.3 Nhiệm vụ của PR
Ngoài ra, một trong những nhiệm vụ chính của bộ phận PR của một tổ
chức là xử lý các tình huống khủng hoảng. Quan trọng hơn cả, để trở thành
một PR chuyên nghiệp, phải có kiến thức xã hội sâu rộng. PR ngày nay không
đơn thuần chỉ là các hoạt động quan hệ báo chí, tổ chức các sự kiện.
PR đã trở thành một công nghệ nên đòi hỏi người làm phải có trình độ
chuyên môn cao. PR là người tư vấn chiến lược, đưa ra những phương thức
hoạt động cho đối tác. Tính chiến lược là yếu tố xuyên suốt mà các công ty
PR phải đảm bảo. Vì thế nhân viên PR không thể không biết sáng tạo.
1.1.3 Các công cụ và loại hình PR:
- Công cụ truyền thông tích hợp bao gồm: quảng cáo (TV, radio, báo,
ngoài trời ), thư chào hàng,
- PR Trong các hoạt động tích hợp trên, PR dễ được tin cậy và dễ lôi
cuốn hơn.
- Truyền thông càng có hiệu quả khi kết hợp càng nhiều hoạt động với
cùng một thông điệp, trong cùng một thời điểm.
- Có nhiều công cụ PR:
+ News release distribution (phát hành tin tức).
+ Online media conferences (hội nghị truyền thông trực tuyến).
+ Digital press-kits (hồ sơ báo chí chứa trong CDROM, trên mạng ).
+ One-to-one press interviews (phỏng vấn báo chí).
+ Feature story writing (viết các câu chuyện đặc trưng về công nghệ và
quản lý).
+ Media conferences (hội nghị truyền thông).
+ Unique & attention-grabbing/drawing press events (sự kiện độc đáo
và thu hút báo chí).
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
9
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
+ Charity & fundraising events (sự kiện từ thiện và quyên góp).
+ Public and press seminars (hội thảo công cộng và hội thảo báo chí).
+ Phạm vi: PR có chiều sâu, có tầm nhìn chiến lược, có khả năng giải
quyết vấn đề, có các kỹ năng quản trị.
+ Mục tiêu: PR không chỉ cung cấp tin tức và thông tin đến công chúng
mà còn làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của công chúng nhằm đưa
công chúng đến gần với mục tiêu của tổ chức.
1.1.4.2 Phân biệt PR và quảng cáo
Viện những người hoạt động trong ngành quảng cáo của Anh (Institute
of Practitioners in Advertising) đưa ra một định nghĩa như sau:
“Quảng cáo trình bày thông điệp bán thuyết phục và hợp lý nhất cho
những khách hàng tương lai để có thể bán sản phẩm hay dịch vụ với mức giá
thấp nhất có thể”.
Theo định nghĩa này, “Quảng cáo trình bày thông điệp bán thuyết phục
và hợp lý nhất” thông qua những kỹ năng sáng tạo trong việc viết lời quảng
cáo (copywriting), minh họa, bố trí, trình bày bản in, viết bản thảo và làm
video… dựa trên một chủ đề hay trong việc phương tiện truyền thông để thực
hiện. Trọng tâm được đặt lên việc bán, khác biệt với vai trò của PR là cung
cấp thông tin, giáo dục và tạo sự hiểu biết thông qua kiến thức. Một chương
trình quảng cáo sẽ có nhiều khả năng thành công hơn nếu trước đó có hoạt
động PR hỗ trợ cung cấp kiến thức cho khách hàng tiềm năng về sản phẩm
hay dịch vụ đang được quảng cáo. Nó thực tế và đúng đắn hơn việc chỉ đơn
thuần dựa vào quảng cáo để tiến vào một thị trường mới hoặc giới thiệu một
sản phẩm hay dịch vụ mới chưa được biết đến. Nhiều sản phẩm đã thất bại,
không bán ra được đơn giản chỉ vì không có sự cung cấp kiến thức cho thị
trường, và như thế chi phí quảng cáo bị lãng phí.
PR là một hoạt động có tầm bao quát hơn quảng cáo. PR liên quan đến
toàn bộ việc giao tiếp trong tổ chức, trong khi quảng cáo – mặc dù có thể tốn
nhiều chi phí hơn PR – chủ yếu giới hạn trong chức năng tiếp thị (với một số
ngoại lệ nhỏ như quảng cáo tuyển chọn nhân viên hay thu hút tài chính). Hơn
nữa, một số tổ chức có thể không dùng quảng cáo, nhưng tất cả các tổ chức
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
nếu việc đó đem lại lợi nhuận. Đây là một thách thức đối với việc quản trị
kinh doanh. Một vài công ty chỉ dừng lại ở việc bán một loại sản phẩm mà
không áp dụng một phương pháp nghiên cứu thị trường nào. Thị trường ngày
nay đòi hỏi tổ chức phải có tính sáng tạo, đồng thời phải có trách nhiệm đối
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
12
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
với PR – đối với quyền lợi của công chúng. Một tổ chức sẽ bị mất tín nhiệm
nếu việc theo đuổi lợi nhuận tối đa lại làm gia tăng phí tổn của khách hàng –
khách hàng phải chi trả nhiều hơn cho sản phẩm họ muốn mua.
Vai trò của PR trong marketing mix (4P = Product (sản phẩm), Price
(giá cả), Place (nơi chốn), Promotion (khuyến mãi)).
Trong thế giới thương mại, ngay cả trong khu vực tư nhân của nền kinh
tế, PR và quảng cáo sẽ được kết hợp với tiếp thị. Tiếp thị là một chức năng
của kinh doanh, PR có thể được áp dụng trong từng phần của hỗn hợp
marketing, mà trong đó quảng cáo là một yếu tố. Hỗn hợp marketing bao gồm
tất cả các yếu tố trong chiến lược tiếp thị – như đặt tên, đóng gói, nghiên cứu,
định giá, bán hàng, phân phối và cung cấp dịch vụ hậu mãi. Tất cả những việc
này đều có liên quan ít nhiều đến sự giao tiếp và uy tín của tổ chức, có nghĩa
là liên quan đến PR. Trong quá trình này, PR có thể đóng vai trò hết sức quan
trọng qua việc tăng cường kiến thức cho thị trường, mà thành công của việc
quảng cáo sẽ phụ thuộc vào đây.
1.1.4.4 Phân biệt PR và khuyến mãi
Khuyến mãi (sales promotion) bao gồm các chiến lược ngắn hạn,
thường ngay tại thời điểm bán và cả trong tiếp thị trực tiếp, để giới thiệu, hay
“làm mới” lại sản phẩm, hoặc tăng lượng hàng bán ra.
Khuyến mãi thường được dùng thay thế cho quảng cáo trên phương
tiện truyền thông. Chi phí khuyến mãi – một món quà, hay giảm giá – cũng
tương tự như chi phí quảng cáo.
PR đôi khi bị nhầm lẫn với khuyến mãi. Điều này có thể do khuyến mãi
sẽ bị nhà biên tập bác bỏ vì nó là “một lời tâng bốc” được ngụy trang, có chủ
đích quảng cáo hay tuyên truyền. Đôi khi, các nhà buôn bán sỉ và lẻ gọi quảng
cáo là “tuyên truyền thương mại”, nhưng đây là cách dùng từ sai lệch.
Tuyên truyền cũng là một hình thức giao tiếp mà người ta thường lầm
lẫn với PR, nhưng cả hai rất khác biệt vì để thành công PR phải đáng tin cậy,
trong khi tuyên truyền có thể gây ra sự nghi ngờ hay, ít nhất là sự bất đồng.
Đôi khi vấn đề phân biệt yếu tố PR và tuyên truyền trong thông tin do các cơ
quan chính phủ ban hành lại là vấn đề khó khăn. Tuyên truyền có thể nhằm
mục đích giữ vững quyền lực nhưng PR là nhắm giúp mọi người hiểu và sử
dụng những dịch vụ công cộng một cách đúng đắn
1.1.5 Các dạng quan hệ của PR
Quan hệ với nhân viên: họp mặt chi sẻ; thư tín tạp chí, thông tin nội bộ;
tài liệu và phả hồi trong đào tạo; các bài phát biểu; tổ chức sân chơi thi đấu
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
14
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Quan hệ với giới truyền thông: phát hàng thông cáo báo chí, phòng vấn,
phát biểu; tiếp xúc cá nhân,
Quan hệ với cổ đông, nhà đầu tư: tổ chức đại hội cổ đông thường niên,
thiết lập mạng nội bộ, trang web,
Quan hệ cộng đồng: tài trợ, hoạt động từ thiện, hoạt động tình nguyện,
họp mặt trực tiếp,
Quan hệ với chính quyền: tranh thủ quan hệ cho một công việc cần sự
tác động của quan hệ; gặp mặt chính thức và không chính thức,
Quan hệ với khách hàng: xây dựng cơ chế phản hồi, trả lời các cuộc
gọi, bản tin khách hàng,
1.1.6 Những yêu cầu đối với làm nghề PR:
Làm nghề PR hấp dẫn đấy nhưng cũng đầy rủi ro. Trong thực tiễn hoạt
động PR hầu như không có cơ hội sửa sai, mọi sai lầm đều phải trả giá rất đắt.
Chuyên viên PR phải đáp ứng những tiêu chuẩn:
rộng rãi trong các công ty, chính phủ, các lĩnh vực cộng đồng của tất cả các
quốc gia. PR là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Trong 10 năm trở lại
đây, khái niệm PR được biết đến rộng rãi hơn ở các lĩnh vực của cuộc sống
như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… trong các cơ quan chính phủ cũng
như phi chính phủ, trong quan hệ đối nội cũng như quan hệ đối ngoại…
Theo số liệu thống kê đến năm 2006, trên thế giới có 155 tổ chức PR
với 137.000 thành viên. Tại Mỹ đã có 250 trường Đại học, Cao đẳng có bộ
môn PR. Tại Australia có 15 trường dạy chuyên về PR. Thái Lan và nhiều
nước châu Á khác cũng có các chương trình đào tạo về PR.
Hoạt động PR tại Việt Nam vẫn được hiểu “bề nổi” là các sự kiện
(events) và “bề chìm” là những quan hệ báo chí. Cũng số liệu năm 2006, ở
VN có khoảng 20 công ty PR chuyên nghiệp và hàng trăm công ty quảng cáo
có kiêm PR. Tuy vậy, đây vẫn là ngành nghề hoàn toàn mới ở nước ta, nhân
lực chưa được đào tạo chính quy.
Xu hướng hiện nay là các doanh nghiệp đi thuê các công ty PR thực
hiện các hoạt động PR thay vì tự biên tự diễn như trước đây. Mặc dù thị phần
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
16
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
quảng cáo do các công ty nước ngoài chi phối, nhưng thị trường PR/tổ chức
sự kiện lại do các công ty trong nước chiếm lĩnh.
Chúng ta đã có một “dáng đứng Việt Nam”, một “nụ cười chiến thắng”
của Việt Nam trong thời chiến. Bước sang thời kỳ đổi mới, chúng ta có tăng
cường hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới, quảng bá hình ảnh Việt Nam
nhiều hơn nữa. Tiếp thị hình ảnh Việt Nam với slogan “ Bắt đầu ngay bằng nụ
cười”, “Mỗi người là một sứ giả” … Điều này cho thấy, PR vào Việt Nam
như một nhu cầu phát triển tất yếu, ngày càng phát triển mạnh mẽ trong điều
kiện hội nhập kinh tế, nhất là sau Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
(BTA) và sau sự gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đã trở thành điểm hẹn của các nhà
Chính trị là lĩnh vực vô cùng nhạy cảm và phức tạp, PR trong hoạt
động chính trị ở Việt Nam được thể hiện qua các cuộc vận động chính trị, các
cuộc viếng thăm ngoại giao, các buổi tiếp xúc cử tri… Những kỹ năng như
lắng nghe, trình bày, diễn thuyết, thuyết phục, xây dựng hình ảnh… chính là
những kỹ năng cơ bản của PR trong chính trị. Ở Mỹ, lobby (vận động hành
lang) là hình thức PR được sử dụng phổ biến. Các nghị sĩ cũng thường xuyên
trả lời phỏng vấn các phóng viên báo viết, đài phát thanh, chương trình truyền
hình, và diễn thuyết trước công chúng. Ở Việt Nam, các đại biểu Quốc hội
thường có các buổi tiếp xúc cử tri, có sự chất vấn trực tiếp trên truyền hình
đối với lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ.
Tôi cho rằng, đó là một slogan sinh động, một media kit công phu
nhưng vấn đề không chỉ là tuyên truyền, mà là thuyết phục vận động sao cho
hình ảnh VIệt Nam đến với các đối tác như đến với một đất nước hòa bình,
giàu lòng nhân ái, như đến với một Việt Nam luôn đưa tay, mìm cười, thực sự
là bạn là đối tác tin của tất cả các nước trên thế giới.
Tóm lại, chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, truyền thông làm
cho thế giới trở nên “phẳng hơn”. Thế kỷ XXI được mệnh danh là thời kỳ
vàng son của ngành quan hệ công chúng, PR chiếm vị trí gần như “độc tôn”
đối với các tổ chức, chính phủ, PR trở thành một thứ “quyền lực mềm” đầy
tiềm năng trong một nền chính trị hiện đại phát triển. Trên con đường phát
triển nền chính trị hiện đại đó, các chính trị gia và tổ chức đều cần những
chiếc xe “giao tiếp cộng đồng” (PR) hiệu quả và có tốc độ cao nhất. Muốn
chạm tới những thành công đó, phải biết chọn lựa những cỗ xe PR hiệu quả
và phù hợp với mình.
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
18
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.1.8 Hoạt động PR
1.1.8.1 PR đối với tổ chức
Một tổ chức thực hiện tốt công việc PR sẽ hiểu được công chúng nghĩ
nhận các quan điểm và định hướng mục tiêu và các giá trị hợp lý nhất trong
khuôn khổ luật pháp.
Hai là, không ít các chính phủ và các tình huống cụ thể, chính phủ có
thể nhầm tưởng rằng đang hành động một cách hợp lý nhất để thỏa mãn một
cách tốt nhất nhu cầu công dân. Do vậy, tương tác có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với chính phủ vì công chúng của chính phủ là toàn xã hội, nếu hoạt
động chính phủ không hiệu quả có thể tạo nên khủng hoảng, đặc biệt là khủng
hoảng niềm tin trong công chúng. Do vậy, PR với tư cách là công cụ nhằm
tăng cường “đối thoại cộng đồng”, hạn chế nguy cơ chủ quan trong quản lý
hành chính nhà nước được coi là một công cụ mang tính chiến lược. Việc
Chính phủ ta vừa tổ chức họp báo công bố về việc thí điểm không tổ chức Hội
đồng nhân dân huyện, quận, phường là một ví dụ về nỗ lực này.
Ba là, quan niệm cho rằng chính phủ là duy nhất, đương nhiên, đang có
thể dần trở thành ngộ nhận. Công cuộc cải cách, đổi mới chính phủ trên thế
giới đang chỉ ra một thực tế quan trọng là vai trò của chính phủ không thay
đổi, tuy nhiên cách thức thực hiện vai trò đó đang phải thay đổi theo cách
thích ứng với xu thế phát triển. Do vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh
cho chính phủ thì chính nội bộ chính phủ cũng cần có tinh thần “cạnh tranh”.
Nói cách khác, PR đang dần trở thành một lẽ tự nhiên khi các đơn vị nội bộ
chính phủ và chính phủ, với tư cách tổng thể, đều cần PR để khẳng định thế
và ưu thế của mình.
PR là một phần không thể thiếu trong quản trị chiến lược của chính phủ
nhằm thiết lập và củng cố mối quan hệ lâu dài giữa chính phủ và công chúng
nhằm tăng cường hiểu biết, hỗ trợ và đồng thuận đối với quá trình hoạch định và
thực thi chính sách công của chính phủ để đạt đến sự hài lòng của công dân.
+ Thông tin cho người dân, nâng cao hình ảnh uy tín chính trị
Thông tin là yếu tố sống còn đối với những người làm công tác PR. Sức
mạnh của thông tin được ví như sức mạnh của những cơn sóng thần, có thể
cuốn hút sự tham gia của hàng triệu con người, trở thành một thứ vũ khí hiện
đại trong việc tổ chức và định hướng cho các hoạt động sống của con người.
Không chỉ giúp xây dựng và duy trì các mối quan hệ chính trị giữa các
quốc gia, PR còn giúp giải quyết những khủng hoảng chính trị xuất phát từ sự
thiếu hiểu biết hoặc từ sự lệch lạc trong suy nghĩ dẫn đến những hiểu lầm. PR
đóng vai trò rõ rệt trong việc giải thích những tình huống cụ thể một cách
minh bạch, nhờ đó sự thiếu hiểu biết hoặc thậm chí thái độ thù địch đối với
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
21
Khoa: Quan hệ Công chúng và Truyền thông Báo cáo thực tập tốt nghiệp
quốc gia sẽ được chuyển thành sự thấu hiểu và thông cảm.
+ Quản lý báo chí, quản lý thông tin
Chính phủ là cơ quan quản lý xã hội, do đó chức năng quản lý luôn
được coi là chức năng số một của chính phủ. Trong PR chính phủ, quản lý
báo chí và quản lý thông tin có vai trò quan trọng và mang tính chủ chốt.
Các nhà chính trị luôn tìm cách khống chế và phản kháng lại báo chí.
Điều này xảy ra từ khi PR chính trị bắt đầu phát triển và lớn mạnh ở thế kỷ
XX. Báo chí luôn dành nhiều thời lượng cho các vấn đề về chính trị, bắt
nguồn từ những thành công của PR trong chính trị.
Như vậy, sử dụng chiến lược kiểm soát hành vi này, chính phủ có thể
gây ảnh hưởng, định hướng và kiểm soát các hoạt động thông tin của giới báo
chí. Chính vì lẽ đó, một nhà chính trị học người Đức đã cho rằng: “Ai có
thông tin quan trọng – người đó có quyền lực, biết phân biệt thông tin quan
trọng trong số những thông tin không quan trọng sẽ tạo ra quyền lực còn lớn
hơn; có khả năng phổ biến thông tin quan trọng theo cách dàn dựng của mình
hoặc im lặng (không công bố thông tin) sẽ tạo ra quyền lực lớn gấp đôi!
1.1.8.3 PR với tổ chức phi chính phủ.
Do những tính chất đặc thù trên của tổ chức, hoạt động PR trong tổ
chức phi chính phủ (NGO – Non Govemmental Organization) bao gồm 3 mục
đích chính:
Gây quỹ
Đây được coi là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong các chiến dịch PR
chức thuộc Liên Hợp Quốc, du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những
người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải
nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích
hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không
quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du
hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi
năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
1.2.2 Vai trò của du lịch
Vai trò quan trọng của du lịch là giúp nâng cao chất lượng cuộc sống
của con người, giúp con người nhanh chóng hồi phục sức khỏe và chữa bệnh.
Du lịch giúp nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của mỗi người.
Sinh viên: Trần Hồng Tươi Lớp: PR1-K3
23