LỜI CẢM ƠN
Trong
quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp cuối khóa, dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của gia đình thầy cô PGS.TS Hoàng Toàn Thắng – Phó viện
trưởng – Giảng viên khoa Chăn nuôi thú y; TS. Trần Trang Nhung – Giảng
viên khoa Chăn nuôi thú y, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo
trong Khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và các
cán bộ Trung tâm thực hành thực nghiệm đã giúp đỡ tôi thu nhận nhiều kiến
thức mới, đồng thời đây còn là thời gian tạo cho tôi làm quen, áp dụng những
kỹ năng kiến thức đã học vào thực tế trong công tác phòng trị bệnh cho gia
súc, làm cơ sở nền tảng cho tôi trong cuộc sống cũng như trong việc chuyên
môn sau này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến sự quan tâm
giúp đỡ của nhà trường, của các thầy cô giáo trong khoa chăn nuôi thú y, đặc
biệt là gia đình thầy cô PGS.TS Hoàng Toàn Thắng và TS. Trần Trang
Nhung và các cán bộ Trung tâm thực hành thực nghiệm đã giúp đỡ tôi không
chỉ về chuyên môn mà cả về tinh thần, vật chất trong quá trình thực tập. Tôi
xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Nhân đây tôi cũng chân thành cảm ơn tập thể lớp CNTY40NO2 đã giúp
đỡ tôi trong thời gian thực tập vừa qua.
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể gia
đình luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc và công tác tốt. Chúc các bạn sinh viên sau
khi ra trường có một công việc như ý và thực hiện được ước mơ của mình
trong tương lai.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 06 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Bá Tấn
PHẦN 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
khoa học và học tập.
Chức năng:
Viện Khoa học Sự sống thuộc Đại học Thái Nguyên có chức năng nghiên
cứu khoa học (cơ bản và ứng dụng), đào tạo cán bộ Đại học và Sau đại học,
chuyển giao khoa học kỹ thuật thuộc lĩnh vực cụ thể, phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội của khu vực trung du, miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung.
Viện KHSS thực hiện các nhiệm vụ cơ bản:
(1). Nghiên cứu khoa học:
Các hoạt động nghiên cứu tập trung vào: Nghiên cứu chọn tạo giống cây
trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện miền núi phía Bắc; Chẩn đoán sớm dịch
bệnh ở người, cây trồng và vật nuôi; Bảo quản, chế biến nông sản phẩm; Ứng
dụng công nghệ sinh học trong bảo vệ sức khỏe con người; Nghiên cứu và ứng
dụng các hoạt tính sinh học của các hợp chất tự nhiên trong bảo vệ sức khỏe con
người, công nghệ thực phẩm và nâng cao năng suất chất lượng vật nuôi cây
trồng; Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn và phát triển nguồn gene
bản địa; Nghiên cứu cải tạo và bảo vệ môi trường.
(2 ) Chuyển giao công nghệ vào sản xuất:
Bao gồm: Tư vấn, đầu tư và chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học
sự sống trọng tâm cho các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc; Xây dựng các
mô hình phát triển sản xuất nông lâm nghiệp hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội địa
phương; Xây dựng các mô hình bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của
cộng đồng, các mô hình sản xuất kết hợp bảo vệ môi trường, các mô hình y tế
cộng đồng
(3) Phục vụ đào tạo:
Hướng dẫn sinh viên học tập, thực hành các kỹ năng chuyên môn thuộc
một số ngành mũi nhọn của Đại học Thái Nguyên. Hướng dẫn học viên cao học
và Nghiên cứu sinh làm đề tài nghiên cứu tại Viện góp phần đào tạo các bộ KH
4
có trình độ cao. Đào tạo Kỹ thuật viên phòng thí nghiệm cho các đơn vị trên địa
bàn.
- Phía Đông giáp với phường Thịnh Đán – Thành phố Thái Nguyên.
b. Điều kiện tự nhiên
Xã Quyết Thắng nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ
trong năm dao động tương đối cao, thể hiện qua 2 mùa rõ rệt đó là mùa hè và
mùa đông. Về mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, mưa lớn từ tháng 4 đến
tháng 8. Mùa đông, do chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ nhiều
khi xuống dưới 10
0
C, mỗi đợt gió mùa về thường kèm theo mưa nhỏ. Do độ ẩm
bình quân tương đối cao (cao nhất vào tháng 3, 4 trong năm), quỹ đất rộng cho
nên xã có điều kiện phát triển trồng trọt, đặc biệt là cây ăn quả và cây lâm
nghiệp.
Điều kiện khí hậu, đất đai của xã rất thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp với cơ cấu cây, con phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, điều kiện đó cũng
gây ra nhiều khó khăn trong chăn nuôi. Về mùa đông, khí hậu thường lạnh, hay
thay đổi đột ngột, còn mùa hè thì nhiệt độ nhiều lúc lên cao, thời tiết nắng nóng
gây bất lợi tới khả năng sinh trưởng, sức chống chịu bệnh tật của gia súc, gia
cầm. Ngoài ra, nó còn gây khó khăn cho việc chế biến, bảo quản nông sản, thức
ăn chăn nuôi.
• Điều kiện về đất đai
Xã Quyết Thắng có tổng diện tích là 9,3 km
2
, trong đó diện tích đất
trồng lúa, trồng hoa màu là 565 ha, diện tích đất lâm nghiệp là 199 ha, đất
chuyên dùng là 170 ha.
Diện tích đất của xã tương đối lớn, chủ yếu là đất đồi bãi, độ dốc lớn lại
thường xuyên bị xói mòn, rửa trôi nên độ màu mỡ kém, dẫn đến năng suất cây
trồng còn thấp, việc canh tác còn gặp nhiều khó khăn.
Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng…nên diện tích đất
nông nghiệp và đất hoang hóa có xu hướng ngày một giảm, đã ảnh hưởng đáng
Xã Quyết Thắng với 10.500 khẩu, 2700 hộ, trong đó có 80% số hộ sản
7
xuất nông nghiệp, số còn lại thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế hiện nay đang có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Trong địa bàn xã có một số nhà máy như: Nhà
máy Z115, nhà máy chế biến xuất nhập khẩu chè Hoàng Bình…đã tạo công ăn
việc làm và thu nhập cho nhiều lao động của xã.
Trên địa bàn xã còn có nhiều trường học như: Trường đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, trường trung học phổ thông vùng cao Việt Bắc và các trường
trung học cơ sở, trường tiểu học…đã góp phần nâng cao trình độ dân trí cho
người dân, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao.
Nhìn chung, mức sống và trình độ dân trí của người dân ngày càng được
nâng cao, hệ thống điện được nâng cấp, cung cấp tới tất cả các hộ dân, đường
giao thông được bê tông hóa tới từng xóm, ngõ.
Đặc biệt, trạm y tế của xã được khánh thành và bắt đầu hoạt động vào
tháng 6 năm 2009, sạch đẹp với nhiều trang thiết bị hiện đại, thường xuyên
khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là người già, bà mẹ
và trẻ em.
Tuy nhiên, việc dân cư phân bố không đều đã gây ra không ít khó khăn
cho phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội của xã. Khu vực nhà máy, trường
học, trung tâm xã dân cư tập trung đông, dân từ nhiều nơi đến học, làm việc nên
quản lý xã hội ở những khu vực này khá phức tạp. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là
đòi hỏi hoạt động của các ban ngành phải thường xuyên, liên tục, tích cực và
đồng bộ thống nhất từ trên xuống, đồng thời liên kết phối hợp với các địa
phương trong và ngoài tỉnh, đưa nếp sống văn hóa mới phổ biến trong toàn xã,
tiến tới xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa, thôn xóm văn hóa và xã
văn hóa. Từ đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đồng thời đẩy mạnh
lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho những người lao động dư thừa, từng
bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
1.1.2.2. Tình hình sản xuất
theo phương thức tận dụng các phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, tận dụng
9
thức ăn thừa vì thế mà năng suất chăn nuôi không cao.
Trong những năm tới, mục tiêu của xã là đẩy mạnh chăn nuôi lợn theo
hướng công nghiệp, hiện đại.
• Chăn nuôi gia cầm
Tổng đàn gia cầm của xã là 90.750 con. Trong đó, gà chiếm chủ yếu,
trên 90%. Chăn nuôi gia cầm của xã có một vị trí quan trọng, với đối tượng nuôi
chính là gà, vịt. Đa số các gia đình chăn nuôi theo hướng quảng canh, do đó
năng suất thấp, mặt khác lại không quản lý được dịch bệnh, tỷ lệ chết lớn dẫn
đến hiệu quả còn thấp. Bên cạnh đó, một số hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư vốn
xây dựng các trang trại có quy mô tương đối lớn, áp dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện tốt quy trình phòng trừ dịch bệnh nên năng suất
chăn nuôi gia cầm tăng lên rõ rệt, tạo ra nhiều sản phẩm thịt, trứng và con giống.
Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của tiêm phòng
và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại vắc-xin tiêm chủng cho gà như vắc-xin
Newcastle, Gumboro, Đậu, cho ngan, vịt như vắc-xin Dịch tả vịt…Bên cạnh đó, vẫn có
những hộ áp dụng phương thức chăn thả tự do, nhỏ lẻ, lại không có ý thức phòng bệnh
nên dịch bệnh vẫn xảy ra gây thiệt hại về kinh tế và cũng là nơi phát tán mầm bệnh rất
nguy hiểm.
Ngoài việc chăn nuôi gà, lợn, trâu, bò nhiều hộ gia đình còn đào ao thả cá,
trồng rừng kết hợp với nuôi ong lấy mật, nuôi hươu lấy nhung…để tăng thêm thu nhập,
cải thiện đời sống.
Bảng 1: Số lượng, cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của xã Quyết Thắng giai
đoạn 2007 – 2010
(ĐVT: Nghìn con)
1 Trâu, bò 1,957 1,826 1,844 1,823
2 Lợn 8,760 9,850 10,270 10,640
3 Gia cầm 70,150 76,560 83,920 90,750
4 Vật nuôi khác 5,380 6,350 7,840 8,460
11
thực sự khuyến khích, nâng cao trách nhiệm của người dân trong việc trồng và
bảo vệ rừng. Vì vậy, diện tích đất trống đồi trọc đã được phủ xanh cơ bản và
được chăm sóc, quản lý tốt.
1.1.2.3. Đánh giá chung
Qua điều tra tình hình cơ bản của xã, tôi xin phép đưa ra nhận định sơ
bộ về những thuận lợi và khó khăn của xã như sau:
a) Thuận lợi
Địa bàn xã gần trung tâm thành phố Thái Nguyên nên việc giao lưu,
buôn bán cũng như tiếp cận những tiến bộ khoa học kỹ thuật là rất thuận lợi.
Quyết Thắng là một xã nông nghiệp với diện tích lớn, mật độ dân số
không cao, khí hậu thuận lợi cho ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi phát
triển.
Bên cạnh đó, xã có đội ngũ cán bộ trẻ, nhiệt tình, năng động thuận lợi
cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất
cây trồng, vật nuôi, từ đó đưa xã đi lên, đời sống nhân dân ngày càng được cải
thiện.
Ngoài ra, trên địa bàn xã còn có nhiều trường học, nhà máy nên trình độ
dân trí ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, trường đại học Nông Lâm nằm trên
địa bàn xã, thuận lợi cho việc chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất.
Hơn nữa, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước đã được
mở rộng, tình hình chính trị ổn định, từ đó tạo tiền đề cho kinh tế - xã hội của xã
phát triển.
b) Khó khăn
Chăn nuôi gia cầm vẫn chủ yếu là theo phương thức chăn thả tự do,
thiếu tập trung, chưa được người dân chú trọng, hiệu quả kinh tế chưa cao. Mặt
khác, còn gây khó khăn cho việc ngăn ngừa và phòng chống dịch bệnh.
Công tác tuyên truyền lợi ích của việc vệ sinh thú y chưa thực sự hiệu
quả, người dân chưa ý thức được vai trò quan trọng của công tác vệ sinh thú y
13
Tranh thủ thời gian đọc và nghiên cứu tài liệu, trao đổi kiến thức chuyên
môn cũng như kiến thức liên quan về thực tiễn sản xuất và nghiên cứu khoa học.
Với đề tài nghiên cứu khoa học theo dõi một cách chính xác và khoa học
với các chỉ tiêu đề ra
1.3.3. Kết quả phục vụ sản xuất
Trong thời gian thực tập tại Viện Khoa học sự sống, được sự giúp đỡ tận
tình của thầy, cô giáo, Viện Khoa học sự sống, cùng với sự nỗ lực của bản thân,
tôi đã đạt được kết quả như sau:
1.3.3.1. Kết quả trong công tác chăn nuôi
Cùng với việc thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, chúng tôi đã tiến
hành nuôi gà theo quy trình kỹ thuật cụ thể như sau:
* Ứng dụng và tham gia quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi gà H’Mông
giai đoạn từ 10 tuần tuổi đến khi vào đẻ
a. Yêu cầu chung về chuồng trại
Vị trí chuồng nuôi phải chọn nơi cao ráo, dễ thoát nước, thoáng mát, cách
các trại nuôi gia cầm, gia súc khác càng xa càng tốt nhằm hạn chế tối thiểu mức
rủi ro do lây nhiễm chồng chéo.
Thiết kế mái chuồng rất quan trọng để mùa đông giữ được ấm, mùa hè
phản xạ nhiệt của ánh nắng mặt trời giữ được mát mẻ. Mái hiên có thể đua ra 1 –
1,2 mét để hạn chế lượng ánh nắng chiếu trực tiếp vào chuồng. Nền láng xi
măng hoặc gạch phẳng có độ dốc cần thiết 3 – 5
O
tiện cho việc vệ sinh. Mặt khác
phải đảm bảo thực hiện được biện pháp an toàn sinh học.
b. Chuẩn bị dụng cụ và chuồng nuôi
Trước khi đưa gà vào nuôi dù quy mô lớn hay nhỏ cần phải chuẩn bị mọi
điều kiện vật chất kỹ thuật như: Rèm che, cót quây, chụp sưởi, máng ăn, máng
uống, chất độn chuồng, tiêu độc khử trùng và chọn người nuôi (kinh nghiệm của
người chăn nuôi).
Dùng vải bạt, bạt dứa, bao tải dứa đóng lại ở các cửa sổ để tạo thành rèm
che bên ngoài chuồng để giữ nhiệt độ chuồng nuôi và tránh gió lùa hoặc mưa hắt
vào chuồng
+ Quây gà:
15
Trong thời gian úm gột, để tập trung nguồn nhiệt tránh gió lùa ta sử dụng
cót ép làm quây úm với chiều cao 50 – 60 cm, mỗi quây có đường kính 2,0 – 2,5
m. Mỗi quây này dùng để úm 200gà con trong 14 ngày đầu. Sau đó giãn quây
dần ra ngoài 4 tuần thả gà ra bãi chăn
+ Độn chuồng:
Dùng trấu lấy ở đại lý trấu tin cậy sau đó về phơi vá sát trùng bằng
Formades cẩn thận. Sau đó đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng ta thường
xuyên đảo trấu ít nhất 2 lần/tuần. Ngoài ra để làm giảm mùi trong chuồng ta có
thể ủ trấu bằng chế phẩm sinh học EM2 trong vòng 7 ngày sau đó đưa vào sử
dụng hoặc phun trực tiếp lên chất độn với tỷ lệ 1:300 (4 -5 ngày/ lần vào lúc trời
mát)
Gà H’Mông có tốc độ sinh trưởng chậm nên giai đoạn gà con được tính từ
1 – 63 ngày tuổi, ở giai đoạn này các cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hoá
chưa hoàn thiện, dạ dày cơ chưa tiêu hoá được các loại thức ăn xơ cứng, men
tiêu hoá chưa đầy đủ, gà rất nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh do đó phải tạo
điều kiện tốt để gà phát triển nhanh và khoẻ mạnh.
c) Chọn gà con giống
Chọn những gà con nhanh nhẹn, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập
mạp, khối lượng gà 28 -32 g. Loại ngay những gà khô chân, vẹo mỏ, khèo chân,
hở rốn, bụng nặng, lông bết.
d) Nhiệt độ, ẩm độ và thông thoáng
Hai tuần đầu tiên gà con không tự điều chỉnh thân nhiệt một cách hoàn hảo,
do đó các bệnh về đường hô hấp, tiêu hoá dễ phát sinh khi ẩm độ môi trường lên
cao sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng của gà.
Bảng 2: Yêu cầu nhiệt độ và ẩm độ
gió thổi.
Khi đủ nhiệt, gà vận động ăn uống bình thường, ngủ, nghỉ tản đều trong
quây.
Gà con cần chiếu sáng 24/24 giờ trong 3 tuần đầu, sau 4 – 6 tuần giảm thời
gian chiếu sáng đến 16h, từ tuần thứ 7 – 9 lợi dụng ánh sáng tự nhiên, đảm bảo
cường độ ánh sáng 3W/m
2
là đủ.
e) Nước uống
Nước là nhu cầu đầu tiên của gà khi mới xuống chuồng. Cần cung cấp
nước sôi để nguội trong vòng 3 tuần đầu và có pha thêm Vita Sole và kháng sinh
tổng hợp Tilmicox Premix với lượng pha 15g/10 lít nước uống liên tục 3
h
thay
một lần (thuốc thay phiên nhau)
f) Thức ăn và kỹ thuật cho ăn
Sau khi gà được uống nước 2 -3
h
mới được cho ăn, thường cho ăn theo bữa.
Thức ăn trải đều trên khay (với 200con/quây ta dùng 5 khay ăn (d = 40)). Với 2
h
ta sàng sảy và cho ăn một lần. Như vậy thức ăn luôn mới thơm và hấp dẫn tính
ngon miệng tránh lãng phí.
17
Bảng 3: Chế độ dinh dưỡng cho gà H’Mông giai đoạn gà con (0 – 9 tuần tuổi)
Chỉ tiêu
Giai đoạn (tuần tuổi)
0 – 5 6 – 9 10 – 17 17 – 20 > 20
N.lượng trao đổi ME (KCalo/kgTĂ) 2950 2850 2750 2750 2700
2
Ngoài ra vườn rộng để thả gà cho vận động khi gà được 4 – 5 tuần tuổi vào
mùa hè. Trước khi thả phải chọn ngày thời tiết mát mẻ thả gà ra 2 – 3 giờ cho gà
tập làm quen với môi trường trong 3 – 5 ngày rồi mới thả cả ngày.
Gà được thả ra sẽ tự kiếm thêm mồi (sâu bọ, giun, dế, cào cào, châu chấu
v.v.) ngoài ra bổ sung thêm rau xanh, cỏ, cơm thừa, củ quả như thế có thể
giảm được 20 – 25% lượng thức ăn so với phương thức nuôi nhốt tuỳ thuộc vào
lượng thức ăn sẵn có. Mặt khác gà được vận động sẽ tăng cường được sức kháng
bệnh và tạo cho thịt săn chắc và thơm ngon
h) Thông thoáng
Chuồng úm gà con 01 ngày tuổi phải che kín, sự thay đổi không khí gần
như bằng không. Khoảng 3 ngày sau khi sự trao đổi chất của gà tăng nhanh cần
phải thay đổi không khí với tốc độ 0,2 m/giây để tránh bị ẩm thấp, ngột ngạt làm
gà chậm phát triển và bệnh tật phát sinh như bệnh cầu trùng và các bệnh về
đường hô hấp.
i) Vệ sinh phòng bệnh
Với phương châm phòng bệnh là chính, đảm bảo nghiêm ngặt những quy
định về vệ sinh phòng bệnh, sử dụng quy trình vệ sinh phòng bệnh tuỳ thuộc vào
tình hình dịch tễ của từng địa phương. Phải quan sát theo dõi gà thường xuyên
như: Trạng thái ăn, ngủ, thể trạng, âm thanh tiếng thở, chất bài tiết v.v. để bất kỳ
một dấu hiệu bất thường nào đều được xử lý kịp thời.
Cần thiết phải kiểm tra đàn gà dựa trên các đặc điểm hàng ngày như sau:
- Lắng nghe âm thanh bất thường hoặc thiếu vắng âm thanh hàng ngày
- Trạng thái đàn gà (uể oải hay hung hăng)
- Ngửi để xem có mùi khai hay sự kém thông thoáng.
Trong chuồng chỉ nên nuôi gà cùng một lứa tuổi, không nuôi động vật khác
như chó, mèo trong trại định kỳ diệt trừ các loài động vật gặm nhấm, chim
hoang và côn trùng có hại khác.
19
j) Chăm sóc nuôi dưỡng
phòng bệnh trên đàn gà như sau:
Lịch dùng vaccine phòng bệnh cho gà H’ Mông
20
Ngày tuổi Loại vaccine, thuốc dùng và cách sử dụng Phòng bệnh
1 Marek ( tiêm dưới da đầu) Bệnh marek
5
Vaccine ND – IB
(Nhỏ 1 giọt vào mắt)
Phòng bệnh newcastle,
viêm phế quản truyền
nhiễm.
7
Gumboro A lần1
(Nhỏ1giọt vào mắt)
Phòng bệnh gumboro
21
Gumboro A lần2
(Nhỏ 1 giọt vào mắt)
Phòng bệnh Gumboro
28
Vaccine ND – IB
(Nhỏ 1 giọt vào mắt)
Phòng bệnh newcastle
Phòng Viêm PQTN
56
Neucastle Hệ1
(Tiêm dưới da cánh 0,5ml/con)
Phòng bệnh newcastle
126
Vaccine vô hoạt nhũ dầu phòng NCS,
(2). Bệnh Newcastle (Newcastle disease)
Là bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi vi rút thuộc nhóm
Paramyxovirut với các triệu trứng sau:
Gà lù đù, hô hấp tăng, ho, thở khò khè, tiêu chảy phân có máu, phân trắng
xanh. Một số chảy dịch nhờn ở mũi và mắt, mào tích bị tím lại, có thể bị phù
đầu. Tỷ lệ chết từ 50 - 90%.
- Bệnh tích: xoang mũi và miệng của xác chết chứa nhiều dịch nhớt màu
đục đôi khi lẫn máu. Niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết lấm tấm đỏ, tròn bằng
đầu đinh ghim. Loét hình cúc áo ở ruột non.
- Phòng bệnh: Vệ sinh thú y thực hiện đúng quy trình chăn nuôi, phòng
bệnh bằng vacxin theo đúng lịch trình và liều lượng.
- Điều trị: Tăng cường sức đề kháng của cơ thể, trợ sức, trợ lực
V –
T –
gluvit – K – C. Tiêm kháng thể (BD + ND +IBD)
(3) Bệnh đường hô hấp mãn tính CRD (Mycoplasmosis)
Là bệnh truyền nhiễm lây lan mãn tính do vi khuẩn Mycoplasma
Galisepsepticum gây nên các triệu chứng bệnh tích sau:
- Triệu chứng: Có dịch chảy ra ở mũi, mắt lúc đầu trong loãng sau đặc dần
và nhày. Gà ho hay thở khó khăn vào ban đêm và sáng, có thể phù mặt, gà ít ăn,
ủ rũ, giảm khối lượng nhanh.
22
- Bệnh tích: Xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy, có màu
trắng hơi vàng. Màng túi khí dầy và đục trắng giống như chất bã đậu nhão, phổi
viêm, thanh khí quản xuất huyết.
- Phòng bệnh: Vệ sinh thú y, dùng kháng sinh trộn vào thức ăn hoặc pha
nước uống: Tylosin 1g/ 4 lít nước hoặc 1g/ 3kg thức ăn.
- Trị bệnh dùng tylosin với liều gấp đôi liều phòng.
(4)Bệnh cầu trùng
* Đặc điểm chung:
v
– T – Gluvit – K – C liều 250g/30 lít nước uống tốt nhất vào lúc sang
sớm.
Nhốt riêng những gà bị bệnh nặng cho uống thuốc trực tiếp vào miệng gà
sẽ nhanh khỏi. Thay độn chuồng mới, rắc vôi vào chỗ ẩm ướt.
1.3.3.3. Công tác khác
Trong thời gian thực tập ngoài công tác chăn nuôi, thú y phục vụ cho đề tài
khóa luận thì em còn tham gia vào công tác chăm sóc vườn cỏ tiêu bản của
Khoa tại Trung Tâm Thực Hành, Thực Nghiệm đó là rào lại, dọn và chăm bón
vườn
24
Bảng 4: Kết quả công tác phục vụ sản xuất.
STT Nội dung công việc
Số
lượng
Kết quả
Số lượng
(con)
Tỷ lệ
(%)
1 Tiêm phòng An toàn
Vacxin ND – IB 394 394 100,00
Vacxin GumbroA – B 394 394 100,00
2 Điều trị bệnh Khỏi
Chống Stress tiêm chủng 394 394 100
Bệnh CRD 2 2 100
Thiếu B1 8 5 62.5
Bệnh Bạch lỵ 10 7 70
Bệnh cầu trùng 11 9 81.82
3 Công việc khác ĐVT Diện tích Đạt (%)