THỜI KỲ TIỀN SỬ
SỰ THAM GIA CỦA VĂN HOÁ THÁI VÀO SỰ HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ VIỆT NAM
GS. Trần Quốc Vượng, Cầm Trọng
Viết bài này, tôi muốn để một phần đặc biệt kính cẩn nghiêng mình trước vong linh
Giáo sư Trần Quốc Vượng. Tuy nay giáo sư đã đi xa, nhưng cách đây 21 năm, vào ngày 3
tháng 8 năm 1984, giáo sư đã trình bày trước hội nghị Quốc tế Thái Học lần thứ II họp tại
trường đại học Hoàng Gia Chulalongkon, Băng Cốc, Thái Lan về bài báo cáo khoa học của
hai chúng tôi với nhan đề. Sự tham gia của văn hoá Thái vào sự hình thành và phát triển
văn hoá Việt Nam (1)
Từ bấy đến nay đã hơn hai thập niên rồi, các dữ liệu về lịch sử tộc người cũng được
thu thập nhiều, các bài nghiên cứu khoa học xoay quanh chủ đề này cũng tăng lên. Song có
một điều lý thú rằng, tất cả mọi dữ liệu cũng như bài nghiên cưú khoa học, thậm chí cả các
sách hầu như không có những ý kiến mâu thuẫn hoặc phủ định, mà chỉ làm phong phú
thêm chủ đề văn hoá lịch sử mà buổi đầu hai chúng tôi cùng phát hiện và cùng thực hiện
bằng một báo cáo khoa học công bố ngay trong hội nghị Quốc tế.
Theo dự kiến của Ban Chủ nhiệm Chương trình Thái Học Việt Nam thì bài báo cáo
khoa học này sẽ để giáo sư Trần Quốc Vượng viết. Song thương tiếc và đau đớn thay!
“Trời” đã không cho phép chúng ta thực hiện điều đó, giáo sư đã về cõi vĩnh hằng. Bởi thế
bài viết cho hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ IV này, Cầm Trọng vẫn giữ và ghi nguyên
đầu đề của bản báo cáo khoa học lần đầu tiên đã công bố và mạn phép vong linh người
thầy quá cố được lần cuối cùng liên danh như năm xưa đã thực hiện. Làm như thế âu cũng
là để tưởng nhớ vô hạn và ghi rõ công ơn giáo sư đã đóng góp cho Thái học Việt Nam.
Ở đây, hai chúng tôi đã dùng khái niệm văn hoá trong khía cạnh của ý nghĩa cấu
trúc tìm ra cội nguồn của lịch sử tộc người. Từ các tên gọi mang nội dung văn hoá biểu
tượng của các bộ phận người trong nhóm ngôn ngữ Thái như [Tày – Thái (Việt Nam),
Lào – Thái (Thái Lan - Lào), Choong - Đồng (Trung Quốc)] ở khắp miền nam Trung
Hoa và bán đảo Đông Dương rõ ràng đã sinh ra từ một cội nguồn văn hoá và ngôn ngữ.
Từ đó trải hàng ngàn năm lịch sử, khối ngày này đã phát triển theo mạch Vừa tụ cư
định cư, vừa đi cư lan toả. Đó cũng là quá trình phân đôi ngành tương xứng từng cặp đôi
mang tên biểu tượng có hai nghĩa đối lập nhau do bén rễ từ cội nguồn văn hoá lưỡng phân,
ngàn năm ấy đã hoà đồng thành Thái Đen nhóm 1
*
*
*
Hiện nay người Thái có thể chia l m 6 nhóm à địa phương theo tiêu chí văn hoá v ngôn ngà ữ.
3. Nhóm tự nhận l Thái à đen
- Người Lào có Lào Bé [Lao (Thay), Nọi] vốn gốc Thái Bé ở Mường Then (Thanh).
Sau khi di cư vào nước Lào, ngành Thái này đã hoà đồng vào ngành Thái Lơn và trở thành
dân tộc vương quốc Lào. Dân tộc thiểu số Lào ở Việt Nam cũng được gọi là Lào Bé hay
Lào Lự.
- Người Thái (Lào) có Thái Lớn cũng có thể gọi là Lào Lớn [Thay (Lao Nhày,
Giày)] hiện cư trú ở lưu vực sông Mê - Kông nước Lào, Thái Lan và Xíp Xong Păn Na
(Văn Nam Trung Quốc). Cùng là tính từ lớn, nhưng trong tiếng Thái, Lào phát âm Nháư
(Tay Nháư). Có lẽ cách phát âm này là do nguyên âm rất khác nhau. Người Thái Đen, Thái
Trắng nhóm 1 thì phát âm Nháư (Tay Nháư). Có lẽ đây là cách phát âm nguyên âm kép
gốc. Bởi vì hiện nay trong chữ Lào và Thái Lan vẫn còn lưu giữ hai ký tự nguyên âm cùng
phát âm thành ay. Một là, ký tự (May Muộn) đường nét tương tự may caư (aư), có nơi vì
không có nguyên âm kép aư nên chuyển sang nguyên âm đơn - ơ trong chữ Thái Việt Nam.
Nếu đúng như vậy thì nguyên âm aư (có cả trong tiếng Tày, Nùng) sẽ là gốc, sau đó
chuyển thành ay hay aai. Tay Nháư chuyển thành Thay Nhay → Thay Nhaai. Đó chính là
tên gọi nhóm Thái Đen 3 – Tay Thanh mà xưa nay ta vẫn bí nghĩa, nay đã giải được (?).
Từ Tay Nháư → Thay Nhay → Thay Giay hoặc Giáy. Đây chính là gốc của tên gọi
dân tộc Giáy – một trong 53 dân tộc thiểu số ở nước ta (3). Người Giáy (nhóm Pu Nà) còn
gọi người Nùng là Pu Nọi (người Bé)
Tiếng Tày, Nùng gọi sự vật là hiện tượng nhỏ bé là ỉ và to lớn là cải. Sang tiếng
Thái phát âm thành í và ải, không còn là tính từ nữa mà chuyển thành thuật ngữ phạm trù
hệ thống thân thuộc (Catégerie de la parenté). Í là tiếng gọi mẹ như nhóm Thái Trắng 1 hay
chị gái như nhóm Thái Đen 1 hoặc nữ giới tương đương từ cái trong tiếng Việt, của nhiều
nhóm Thái khác. Ải là tiếng gọi cha hoặc anh trai, còn dùng để gọi nam giới có vị trí trên
trong dòng họ, xã hội và văn học.
- Người Pa Dí – Nhóm địa phương của dân tộc Tày cũng có cả tên tự nhận là Tày
Nặm (Tày Nước) (7).
- Người Lào có Lào Nước [Lao (Thay) Nặm] cư trú ở nước Lào và ở các huyện:
Thanh Uyên, Phong Thổ, Sinh Hồ, Lai Châu.
- Người Thái có Thái Cạn [Tay (Thay) Bốc] cư trú ở miền tây nam tỉnh Vân Nam –
Trung Quốc. Tên gọi này cũng được dịch thành tiếng Hán. Khi đọc theo âm Hán – Việt sẽ
là Hạn Bãi Di tức người Di Cạn.
- Người Tày Khao – nhóm địa phương của dân tộc Tày cư trú ở Mường Pha, huyện
Vị Xuyên – Hà Giang cũng tự nhận tên là Tày Bốc (Tày Cạn).
- Người Lào có Lào Cạn [Lao (Thay) Bốc] cư trú ở nước Lào và huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên.
Với ý nghĩa tâm linh của nó, cặp đôi biểu tượng này đã dẫn chúng ta tiến sát tới chủ
đề trình bày về sự tham gia của văn hoá Thái vào văn hoá cội nguồn Việt Nam. Nói cách
khác, muốn biết tường tận văn hoá cội nguồn Việt Nam thì phải phân tích ý nghĩa cặp đôi
biểu tượng Nước và Cạn vì nó đồng môtíp với Biển và Núi trong truyền thuyết thuỷ tổ của
người Việt.
Người Thái Đen nhóm 1,2 có tập sách cổ với hơn 5000 câu thơ nhan đề Páo Khoăn
(báo dẫn linh hồn sống) để nhà mo xướng trong lễ Cầu hồn sống (xên khoăn). Trong đó có
đoạn hơn 200 câu miêu tả linh hồn của từng bộ phận cấu thành cơ thể sống của một con
người như: dầu, tóc, mặt, mũi, mồm, tai, cổ, tay, chân, ngực, tim, phổi, ruột... Thảy có “30
hồn ở phía trước, 50 hồn ở phía sau” (Xam xíp khoăn mang nả, hả xíp khoăn mang lăng)
cộng thành 80. Khi xướng đến hồn bộ phận sinh dục nam, nữ, tác phẩm này đã giới thiệu
bằng nghệ thuật dùng ngôn ngữ tượng hình như sau:
Câu 1: Hồn ngật ngưỡng tựa loài Chim én
Câu 2: Hồn ưỡn éo như loài Rồng
Câu 3: Én gieo mình ngân nước, không bị mắc chìm
Câu 4: Rồng ở ao, ở ruộng đâu có bị cô quạnh tàn phai...
Nguyên câu tiếng Thái:
- Khoăn ngả ngộc xương me én
- Khoăn ngả nghẹn xương me luông