Nghiên cứu hội chứng lở loét trên cá chẽm (lates calcarifer) nuôi tại thừa thiên huế - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Thủy Sản
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hội chứng lở loét trên cá Chẽm (Lates
calcarifer) nuôi tại Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Ngọc
Lớp: Nuôi trồng thủy sản 44
Giáo viên hướng dẫn: TS. Tôn Thất Chất
Thời gian: 02/01/2014-06/05/2014
Địa điểm: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam chi nhánh
Huế 2, xã Điền Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Bộ môn: Nuôi trồng thủy sản
Huế, tháng 5 năm 2014

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài
“Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng va
phát triển của tôm Chân trắng (Litopenaeus
vannamei)” nuôi tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa
Thiên Huế” tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình,
sự đóng góp ý kiến quý báu của nhiều cá nhân và
tập thể.
Trước hết tôi xin chân thành gửi lời cám ơn
đến quý thầy cô giáo khoa Thủy sản cùng toàn
thểthầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế đã
trang bị cho tôi nhiều kiến thức bổ ích và quý giá
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến
thầy giáo hướng dẫnTiến sĩ Tôn Thất Chất đã tận
tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá

Hình 3.1. Phản ứng test sinh hóa 20
Hình 3.2.Kháng sinh Oxy-tetracyline 23
Sơ đồ 3.4. Nghiên cứu bệnh nấm
23
Biểu đồ 4.1. Năm xuất hiện và tần xuất xuất hiện bệnh lở loét 25
tại Thừa Thiên Huế 25
Biểu đồ 4.2. Thời điểm xuất hiện hội chứng lở loét qua các tháng 26
Hình 4.1 : Cá Chẽm bị bệnh lở loét 27
Hình 4.2 : Nội quan cá bị xuất huyết 28
Hình 4.3. Kí sinh trùng trên cá Chẽm 29
Hình 4.4. Khuẩn lạc của cá Chẽm 6 tuần tuổi ở Hương Trà 29
Hình 4.5. Khuẩn lạc của cá Chẽm 8 tuần tuổi tại Thuận An 30
Hình 4.6. Vi khuẩn chủng 1 Hình 4.7. Vi khuẩn chủng 2 31
Hình 4.8. Thử nghiệm kháng sinh với VK1 32
Hình 4.9. Nuôi cấy nấm trong môi trường PYGA 33
Hình 4.10. Nấm nhìn qua kính hiển vi vật kính 40 33
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1. Vòng đời cá chẽm Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.1. Nghiên cứu KST Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.4. Nghiên cứu bệnh nấm Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.3. Quy trình nhuộm Gram Error: Reference source not found
Sơ đồ 3.2. Nghiên cứu vi khuẩn Error: Reference source not found
BIỀU ĐỒ
Biểu đồ 4.1. Năm xuất hiện và tần xuất xuất hiện bệnh lở loét Error: Reference
source not found
Biểu đồ 4.2. Thời điểm xuất hiện hội chứng lở loét qua các tháng Error:
Reference source not found
tại Thừa Thiên Huế Error: Reference source not found
MỤC LỤC
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Ảnh hưởng của các loại thức ăn

miền ven biển.
Thừa Thiên Huế có tiềm năng lớn về nuôi trồng thủy sản, được thiên
nhiên ưu đãi với hệ thống đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 22 ngàn ha và đường
bờ biển dài hơn 70km rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản đặc
biệt là tôm, cá.
Cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1970) đang được coi là 1 đối tượng
nuôi vô cùng hiệu quả để thay thế các vùng nuôi tôm đang bị chết, kém hiệu
quả. Tuy nhiên vài năm trở lại đây do diện tích nuôi trông ngày càng gia tăng thì
tình hình dich bệnh cũng bùng phát nhanh chóng gây ra chết hàng loạt vào các
năm 2012, 2013.
Bên cạnh nhưng bệnh thường gặp do nấm, kí sinh trùng, vi khuẩn gây ra
thì thời gian gần đây người dân phải đối mặt với 1 bệnh khá nguy hiểm gây ra
thiệt hại lớn về kinh tế đó là hội chứng lở loét. Căn bệnh này ngày càng phổ biến
trong khi đó người dân vẫn chưa có các thông tin cần thiết để phòng và trị bệnh.
Từ thực tế trên, được sự đồng ý của nhà trường, khoa thủy sản và giáo
viên hướng dẫn, tôi tiến hành thực hiện để tài "Nghiên cứu hội chứng lở loét
trên cá Chẽm (Lates calcarifer) nuôi tại Thừa Thiên Huế" với mục tiêu :
1) Xác định đươc một số tác nhân (vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng) và nguyên
nhân gây hội chứng lở loét trên cá Chẽm.
2) Bước đầu xây dựng phác đồ phòng và trị bệnh lở loét trên cá Chẽm
nhằm giảm thiểu tác hại đối với người nuôi cá tại tình Thừa Thiên Huế.
3) Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến
thức thực tế.
1
PHẦN 2 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm
phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa
Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:

• Trên thềm lục địa biển Đông ở về phía Đông Bắc cách mũi cửa Khém nơi
gần nhất khoảng 600m có đảo Sơn Chà. Tuy diện tích đảo không lớn (khoảng
160ha), nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh
quốc phòng đối với nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
• Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam,
trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9. Thừa
Thiên Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất
nước ta. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh
1.080 km.
• Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với
độ sâu 18 - 20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng
hàng không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy
dọc theo tỉnh. (theo niên giám thống kê năm 2012)
2.1.2. Khí hậu, thời tiết.
Thừa Thiên - Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chất
chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu
chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta. Thời tiết chia thành hai mùa
rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11 với lượng mưa trung bình từ
2.500 – 2.700 mm. Mùa khô kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7, mưa ít, lượng nước
bốc hơi lớn, thường có mưa giông. Nhiệt độ trung bình hàng năm tại Huế là
3
24
0
C. Số giờ nắng trung bình 2.000 giờ/năm. Độ ẩm trung bình 84%. Số lượng
bão khá nhiều, thường bắt đầu vào tháng 6, nhiều nhất là vào tháng 9, 10
(Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư, 2012).
2.1.3 Đặc điểm địa hình.
Địa hình Thừa Thiên Huế có cấu tạo dạng bậc khá rõ rệt.
Địa hình núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, từ biên giới Việt - Lào và kéo

Bộ phụ: Percoidae
Họ: Centropomidae
Giống: Lates
Loài: Lates calcarifer Bloch, 1790
Cách phân loại này được hệ thống phân loại chấp nhận. Trong thời gian
qua cá chẽm được xếp vào vài họ khác nhau tùy theo tác giả (Ví dụ: họ
Serrnidae và Latidae). Tuy nhiên họ Centropomidae là họ được chấp nhận rộng
rãi đối với loài này, và có tên giống là Lates.
Các quốc gia khác nhau thậm chí trong cùng một quốc gia nhưng giữa các
vùng khác nhau thi tên gọi của loài Lates calcarifer cũng không giống nhau.
5
2.2.2. Đặc điểm sinh trưởng
Sinh trưởng của cá chẽm có dạng đường cong sigma. Trong đó cá tăng
trưởng chậm ở giai đoạn đầu nhưng tăng trưởng nhanh khi cá đạt kích cỡ 20 –
30 gam và giảm dần khi cá đạt khối lượng khoảng 4 kg (Kungvankij, 1986). Môi
trường sống khác nhau cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của cá. Cá sống
trong môi trường nước ngọt có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trong môi trường
nước mặn (Wantanabe et al. 1984). Cá chẽm có chiều dài và khối lượng tối đa là
2m và 50 kg (Bahanal & Soseanto, 1982).
2.2.3. Đặc điểm dinh dưỡng
Cá chẽm là loài cá dữ điển hình. Khi cá còn nhỏ chúng có thể ăn các loài
phiêu sinh vật (Chiếm 20%) mà chủ yếu là tảo khuê, nhưng thức ăn chính của
chúng vẫn là cá, tôm nhỏ (Chiếm 80%). Phổ thức ăn của cá chẽm rộng, nhưng
khả năng sử dụng thức ăn của chúng thay đổi theo từng giai đoạn khác nhau của
cơ thể. Theo David (1986), cá có kích thước 10 – 20 mm đã bắt đầu ăn các loài
cá nhỏ với tỷ lệ 0,8% trong khẩu phần ăn và tăng dần đến 87% khi cá đạt 1m.
Theo Chacko, 1958 thức ăn chủ yếu của cá chẽm là các loài cá đối, cá
măng… và bọn giáp xác như: Cua, tôm, ngoài ra chúng còn ăn các động vật thân
mềm hai mảnh vỏ như: Sò, vẹm, ngao… Tame & Marichamys (1986) cho rằng:
Ấu trùng cá chẽm ăn sinh vật phù du rồi chuyển sang ăn ấu trùng côn trùng. Ở

Đặc tính này không hoàn toàn là tuyệt đối, có những con cá đực không chuyển
thành cá cái trong suốt cuộc đời (Moore, 1979). Hiện nay vẫn chưa có những
giải thích rõ ràng về hiện tượng này. Những con cá cái được chuyển đổi giới
tính từ con cá đực được gọi là con cái thứ cấp, còn cá cái phát triển trực tiếp từ
trứng được gọi là cá cái sơ cấp.
Sức sinh sản: Sức sinh sản của cá chẽm có liên quan tới kích thước và
khối lượng cơ thể cá. Các quan sát của Vụ nông nghiệp Australia (Annon, 1975)
cho thấy cá 12 kg cho 7,5 triệu trứng, cá 19,5 kg cho 8,5 triệu trứng, và cá 22 kg
cho 17 triệu trứng.
Tập tính sinh sản: Dựa trên những nghiên cứu về tập tính sinh sản của cá
trong bể cho thấy, cá đực và cá cái thành thục sẽ tách đàn và ngừng ăn một tuần
trước khi đẻ. Khi cá cái thành thục sinh dục tốt nó gia tăng các hoạt động sinh
dục với cá đực. Cá đực và cá cái thành thục chín mùi sinh dục, sẽ bơi lội thành
từng cặp thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng. Cá đẻ thành nhiều lần trong
khoảng 7 ngày thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối (khoảng từ 18h đến 22h).
2.2.5. Vòng đời cá chẽm
Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng (2 – 3 năm) trong các
thuỷ vực nước ngọt như: Sông, hồ nối liền với biển. Cá có tốc độ sinh trưởng
nhanh thường đạt cỡ 3 – 5 kg, sau 2 – 3 năm. Cá trưởng thành 3 – 4 tuổi di cư từ
vùng nước ngọt về vùng cửa sông và ra biển nơi có độ mặn 30 – 32 ppt để phát
triển tuyến sinh dục và đẻ trứng sau đó.
Vòng đời của cá chẽm ở phía bắc Australia cũng được nhiều tác giả
nghiên cứu như Moore (1978, 1980, 1982); Moore & Reynolds (1982); Russell
7
& Grrett (1983, 1985); Griffin (1985, 1986); Davis (1982, 1985) đều có nhận
định vòng đời của cá chẽm ở phía bắc Australia giống với vòng đời của cá chẽm
ở Thái Lan và đưa ra sơ đồ vòng đời của cá chẽm.
Bãi đẻ(S
o
/

thủy vực nước ngọt
hay lợ
Di cư xuôi dòng
Trứng trôi dạt,ấu
trùng phát triển
Ở Thái Lan năm 1989 dịch bệnh trên cá chẽm, cá mú gây thiệt hại 1,9
triệu USD, hằng năm có 80% người nuôi báo cáo là dịch bệnh gây chết 30-50%
tổng sản lượng. Nhật Bản năm 1992 thiệt hại 114,4 triệu USD. Malaysia dịch
bệnh do Vibrio làm thiệt hại 20 triêu Ringit năm 1992. Năm 1993, ở Singapore
chỉ riêng hai trại nuôi cá biển đã bị thiệt hại 360000 USD. Phillipines thông
thường khoảng 75% trại nuôi cá biển bị bệnh hằng năm.
Theo Liley & ctv (1999), bệnh xuất huyết ở cá tại một số nước châu Á
trước năm 1990 đã gây tổn thất hơn 10 triệu USD. Trong khoảng 10 năm từ năm
1983 đến 1993, riêng bệnh xuất huyết lở loét đã gây thiệt hại khoảng 100 triệu
USD (Chinabut, 1994).
Theo Schipt (1996) thì những con đường chính làm nhiễm bệnh ở cá
Chẽm là lây nhiễm qua nguồn nước, thức ăn hay cá khác Ruangpanit (1981,
1984) cho rằng tác nhân gây bệnh ở cá Chẽm là ký sinh trùng, vi khuẩn, virus,
bệnh do suy dinh dưỡng và bệnh do sốc môi trường, trong đó bệnh do ký sinh
trùng khá phổ biến.
Theo Juario (1987) thì bệnh do vi khuẩn (Vibrio sp) gây chết toàn bộ ở ngày
thứ 22-25 khi ương cá Chẽm ở bể chứa ngoài trời với nhiệt độ (26-32
o
C), độ mặn
(35-37‰), sự chiếu sáng và tảo khuê nở hoa dầy đặc (Bagarinao & Kungvankij,
1986). Theo Kungvankij & Ctv (1986) dấu hiệu bệnh lý thường thấy ở cá Chẽm
giai đoạn cá hương là: kém ăn, tróc vẫy, màu sắc cơ thể thay đổi từ màu xám sang
màu đen, trên cơ thể có đốm trắng xuất hiện. Theo Awang trong quá trình ương
giống cá Chẽm hiện tượng chết hàng loạt thường xảy ra vào ngày thứ 14-18 có liên
quan đến vấn đề dinh dưỡng. Do thành phần thức ăn sống (Roti-fer) cung cấp cho

tình hình dịch bệnh trên cá chẽm đang xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Cụ thể vụ
nuôi đầu năm 2010, cá chẽm giai đoạn hương và giống chết hàng loạt, cá thịt có
hiện tượng sinh trưởng chậm, mòn vây, cụt đuôi và chết rải rác (Theo báo cáo
của Chi cục Thú y TT.Huế). Một trong những nguyên nhân gây chết cá chẽm
hàng loạt trong ương nuôi là vấn đề dịch bệnh. Trong các tác nhân gây bệnh trên
cá, ký sinh trùng (KST) là một trong những tác nhân rất phổ biến.
Tại Khánh Hòa, có khoảng 30% hộ nuôi xảy ra dịch bệnh ở giai đoạn cá
nhỏ từ 5-20cm, nuôi lồng thường chịu tác hại nặng hơn giai đoạn cá lớn. Tỉ lệ
chết có thể đạt 50-100%, đây là bệnh không có mùa vụ rõ rang (Đỗ Thị Hòa,
2008). Nha Trang- Vũng Ngán, dịch bệnh lây lan rất nhanh và gây chết 100% cá
trong vòng 1 tuần. Khi cá trong lồng bị bệnh còn quan sát được một số loài cá
khác sống xung quanh lồng cũng có dấu hiệu cụt đuôi tương tự.
Ở Hải Dương thị xã Hương Trà tỉnh Thừa thiên Huế đã xảy ra hiện tượng
cá chẽm đang ương, nuôi từ 1 đến 2 tháng tuổi chết từ rải rác đến hàng loạt, số
lượng thiệt hại ước tính 15 vạn trên 25 vạn thả ương, nuôi. Với tổng giá trị thiệt
hại khoảng 450 triệu đồng.
Theo PGS.TS Đỗ Thị Hòa, trường Đại học Nha Trang đã nghiên cứu
Vibrio là tác nhân chính gây chết trên cá chẽm, tỉ lệ cao ở cá nuôi lồng (100%),
10
cá nuôi ao gặp thấp hơn (58,2%). Một số loài vi khuẩn Vibrio spp. đã phân lập
được từ nội tạng cá bệnh, trong đó Vibrio anguillarum đã gây bệnh trong điều
kiện cảm nhiễm nhân tạo (60-80%).
Theo Nguyễn Thanh Chương và Đồng Thanh Hà, vi khuẩn phân lập được
trên mẫu bệnh cá chẽm tại xã Hải Dương, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
Huế bao gồm: Vibrio cholera, Flexibacter-like, Aeromonas allosacharophila.
2.3.3 Một số bệnh thường gặp trên cá chẽm
2.3.3.1. Bệnh do virus
 Bệnh hoại tử thần kinh ở cá (Viral Nervous Necrosis VNN)
Bệnh này còn có nhiều tên khác: bệnh virus viêm màng lưới não (Viral
Encephalopathy and Retinopathy- VER) của cá biển; bệnh cá bơi xoắn (Spring

Sát trùng cá bằng các loại hoá chất bàng các hoá chất trước khi thả vào lồng bè,
ao như: CUSO
4
40ppm trong 10-20 phút, thuốc tím 10-20 ppm trong 4-10 phút,
formol 50-100 ppm trong 10-20 phút, tắm nước ngọt trong 5- 10 phút. Áp dụng
công nghệ vaccine để phòng bệnh.
Để trị bệnh có thể dùng một số kháng sinh trộn vào thức ăn cho cá:
Oxytetracyline 50-75 mg/kg cá/1 ngày; Sulphonamid 220 mg/kg cá/1 ngày và
cho cá ăn 10 ngàyliên tục. Cũng có thể dùng kháng sing để tắm cho cá bệnh:
oxolinic acid 1ppm tắm trong 24h.
 Bệnh do Vibrio sp.
Tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Vibrio spp. (V. alginolyticus, V.
parahaemolyticus, V. anguillarum )
Dấu hiệu bệnh lý: Trên thân xuất hiện các đốm đỏ nhỏ, tại đó vẩy cá bị
tróc và rụng đi, sau một thời gian tạo các vết loét nhỏ, sâu. Vây có thể bị mòn
cụt và xơ xác. Giải phẩu bên trong cho thấy hiện tượng xuất huyết nội tạng, và
xuất huyết trong cơ của cá.
Phòng bệnh: áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp
Trị bệnh: Có thể dùng kháng sinh để trị bệnh. Tuy vậy cần dùng kháng
sinh theo 2 hướng. Thứ nhất diệt vi khuẩn cảm nhiễm bên trong cơ thể bằng
cách trộn kháng sinh vào thức ăn như kháng sinh thuộc nhóm sulpamid:
sulfamethoxine, Bactrim, cotrim: 15-20g/kg thức ăn, cho ăn liên tục 5-7 ngày;
Oxolinic Acid 25%: 2-5g/kg thức ăn, cho ăn trong 5-7 ngày. Thứ hai giảm mật
độ vi khuẩn trong nước và cải thiện môi trường bằng một số biện pháp kĩ thuật:
xifon đáy, thay nướcđáy, dùng thuốc diệt khuẩn như: Benzalkonium chloride
(BKC), Iodine sau đó thay một phần nước trong ao, gây lại màu nước.
 Bệnh do vi khuẩn Streptococcus sp.
Tác nhân gây bệnh: Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp. gây ra, là những
vi khuẩn gram dương, có dạng hình cầu hoặc hình trứng, không vận động được.
Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi của cá.

4
hoặc formaline tắm cho cá giống để phòng bệnh trước khi đưa
vào nuôi.
2.3.3.4. Bệnh do ký sinh trùng
 Trùng bánh xe
13
Dấu hiệu bệnh lý: Cá bệnh có màu sắc và mang nhợt nhạt, tiết nhiều dịch,
cản trở hô hấp, chết từ rải rác tới hàng loạt, chết nhiều ở giai đoạn cá con. Xảy ra
ở nhiệt độ 20-30
o
C.
Biện pháp trị bệnh:
Nếu nuôi cá chẽm ở môi trường nước ngọt, nhạt, độ cứng thấp có thể
dùng CuSO
4
0,3-0,5 ppm phun vào ao, bể, thay nước sau 6-12 giờ. Hoặc tắm
cho cá bằng CuSO
4
3-5 pm trong 10-20 phút.
Nếu nuôi cá chẽm ở môi trường nước mặn, độ cứng cao có thể dùng oxy
già 100-150 ppm trong 15-30 phút.
 Trùng loa kèn
Dấu hiệu bệnh lý: Cá bị bệnh thường có dấu hiệu tiết nhiều dịch nhầy ở
da, mang, màu sắc nhợt nhạt. Nếu nhiễm trùng dạng quần thể có các chùm sợi
trắng như bong bám trên bề mặt cơ thể. Cá chết rải rác đến hàng loạt phụ thuộc
vào mức độ cảm nhiễm cao hay thấp và cỡ cá lơn hay nhỏ.
Trị bệnh
Ở cá chẽm nước ngọt: Dùng CuSO
4
tắm cho cá ở nồng độ 3-5ppm, phun

cá ăn Copepoda để làm sạch; giảm độ mặn .
15
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.
• Khách thể nghiên cứu: Cá chẽm (Late scalcarifer, Bloch 1970)
- Hệ thống phân loại:
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes

Họ: Serranidae
Giống: Lates
Loài: Lates calcarifer
Đối tượng nghiên cứu : Tác nhân gây bệnh lở loét trên cá Chẽm.
3.2. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thời gian nghiên cứu : 2/1/2014-12/5/2014
Địa điểm: các khu vực nuôi cá chẽm tại Thừa Thiên Huế như Hương Trà,
Thị trấn Thuận An.
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng nghề nuôi cá Chẽm tại các huyện Hương Trà , Thị
trấn Thuận An .
- Phân lập các tác nhân (vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng) gây hội chứng lở loét
trên cá chẽm nuôi tại Thừa Thiên Huế.
- Thử phản ứng kháng sinh đồ với vi khuẩn phân lập được.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1. Phương pháp điều tra dịch tễ
• Số liệu thứ cấp: thu thập từ các tài liệu sách báo, tạp chí, báo cáo trên
mạng
• Số liệu sơ cấp: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp người nuôi.
• Số lượng bảng hỏi đã điều tra: 25 phiếu mẫu 1 dùng cho phỏng vấn nông
hộ

Trích đoạn Hình 4.6. Vi khuẩn chủng 1 Hình 4.7. Vi khuẩn chủng 2
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status