Theo dõi tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của tôm thẻ chân trắng nuôi ở các mật độ khác nhau tại trại ty phụng tại xã lộc thủy, huyện phú lộc, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 14

LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với tên đề tài “ theo dõi tốc độ tăng
trưởng và hiệu quả kinh tế của tôm thẻ chân trắng nuôi ở các mật độ khác
nhau tại trại Ty-Phụng tại xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên
Huế” tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp ý kiến quý báu
của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô giáo khoa Thủy
sản cùng toàn thể thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế đã trang bị
cho tôi nhiều kiến thức bổ ích và quý giá trong suốt thời gian học tập tại
trường.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến thầy Thạc sĩ Nguyễn Phi
Nam đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến anh Nguyễn Văn Ty kỹ sư và các
chú, các bác công nhân tại trại Ty-Phụng đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để
tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình cũng như học hỏi một số kinh
nghiệm trong công việc.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên, quan tâm,
giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình.
Xin chân thành cảm ơn !
Huế, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Văn Tiến
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Điều kiện môi trường thích hợp đối với nuôi tôm thẻ chân trắng 3
Bảng 1.2 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm biển 5
Bảng 1.3 Sản lượng tôm nuôi tại châu Á và châu Mỹ Latinh từ 2007-2011 11
Bảng1.4. Diện tích, sản lượng và năng suất tôm thẻ chân trắng qua các năm 14
Bảng 2.1. Đặc điểm của ao thí nghiệm 18
Bảng 3.1 Biến động DO, pH trong quá trình nuôi (TB ±σ) 25
Bảng 3.2. Biến động S‰, NH3, nhiệt độ , kiềm trong quá trình nuôi (TB ±σ) 25

PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngành thủy sản có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội Việt Nam. Đến nay, thủy sản đã phát triển thành một ngành kinh
tế mũi nhọn, một ngành sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế
quốc tế. Trong đó nuôi trồng thủy sản là một trong những nhân tố chính tạo nên
những thành tựu đó.
Việc đẩy mạnh nghề nuôi trồng thủy sản là một vấn đề hết sức cần thiết.
Để đem lại năng suất cao trong nuôi trồng đòi hỏi phải có đội ngũ kỹ sư, người
quản lý tốt, nắm bắt được điều kiện thực tế địa hình, khí hậu tự nhiên của mỗi
vùng, đặc điểm sinh học của từng đối tượng nuôi để từ đó đưa ra các mô hình,
đối tượng nuôi phù hợp với từng nơi, từng địa điểm nhằm đem lại hiệu quả cao
nhất trong từng vùng.
Trong những năm gần đây, nuôi trồng thủy sản đang phát triển mạnh mẽ,
góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của ngành thủy sản. Trong đó tôm
thẻ chân trắng là một trong những đối tượng chủ lực trong nuôi trồng. Tôm thẻ
chân trắng là đối tượng tăng trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn và có giá trị kinh
tế cao.
Để nuôi tôm thẻ thành công, bên cạnh việc chọn giống có chất lượng,
quản lý tốt các yếu tố môi trường, chọn hình thức nuôi thì việc chọn mật độ nuôi
phù hợp cũng đóng vai trò rất quan trọng.
Xuất phát từ thực tiễn và các lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài “ theo dõi tốc độ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế của tôm thẻ chân trắng
nuôi ở các mật độ khác nhau tại trại Ty-Phụng tại xã Lộc Thủy, huyện Phú
Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mật độ nuôi khác nhau
lên tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm chân trắng. Trên cơ sở đó khuyến cáo
với người nuôi tôm nên áp dụng những mật độ nuôi phù hợp theo hướng bền vững,
an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1

0
C), để sau 24 giờ vẫn
2
sống 100%, sức chịu đựng hàm lượng oxy thấp nhất là 1,2 mg/l. Tôm càng lớn
sức chịu đựng oxy thấp càng kém: Với cỡ 2÷4cm là 2,0 mg/l, cỡ dưới 2cm là
1,05 mg/l.
Bảng 1.1. Điều kiện môi trường thích hợp đối với nuôi tôm thẻ chân trắng
Yếu tố môi trường Chỉ số thích hợp
Nền đáy Đáy cát, cát bùn
Độ sâu 1÷1,5m
Nhiệt độ 25÷32
0
C
Độ mặn 28÷34‰
pH 7,7÷8,3
Độ trong 30÷40 cm
Độ kiềm 100÷120 ppm
Thích nghi tốt với thay đổi độ mặn: Cỡ tôm 1÷6cm đang sống ở độ mặn
20‰ trong bể ương, khi chuyển vào các ao nuôi chúng có thể sống trong phạm
vi 5÷50‰, thích hợp nhất là 10÷40‰, khi dưới 5‰ hoặc trên 50‰ tôm bắt đầu
chết dần, những con tôm cỡ 5cm có sức chịu đựng tốt hơn cỡ tôm nhỏ hơn 2cm.
Thích nghi với nhiệt độ nước: Tôm sống tự nhiên ở biển có nhiệt độ nước
ổn định từ 25÷32
0
C, vẫn thích nghi được khi nhiệt độ thay đổi lớn. Đang sống ở
bể ương, nhiệt độ nước là 15
0
C, thả vào ao, bể có nhiệt độ 12÷ 28
0
C chúng vẫn

4
Hình 1.2. Vòng đời của tôm
Giai đoạn Chiều dài Độ dày
N
1
0,40mm 0,20mm
N
2
0,45mm 0,20mm
N
3
0,49mm 0,20mm
N
4
0,55mm 0,20mm
N
5
0,61mm 0,20mm
Bảng 1.2 Các giai đoạn phát triển của ấu trùng tôm biển
Giai đoạn Số giai đoạn Thời gian
Nauplius 6 1,5
Protozoa 3 3
Mysis 3 4 – 5
Post 1 – 15 6 – 15
5
2.1.5. Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm chân trắng là loài ăn tạp thiên về động vật, phổ thức ăn rộng, cường
độ bắt mồi khỏe, tôm sử dụng được nhiều loại thức ăn tự nhiên có kích cỡ phù
hợp từ mùn bã hữu cơ đến các động thực vật thủy sinh.
Protein là thành phần quan trọng nhất trong thức ăn của tôm. Khả năng

khác, gồm các giai đoạn: Giao vĩ, thành thục và đẻ trứng.
Đến giai đoạn trưởng thành, tôm thành thục sinh dục và tiến hành giao vĩ.
Ở con cái buồng trứng đầu tiên có màu trắng đục sau đó chuyển thành màu vàng
nâu hoặc xanh nâu. Trong những ngày đẻ trứng tôm đực có nhiệm vụ đưa các túi
tinh vào túi chứa tinh của con cái, con cái sẽ đẻ sau vài giờ.
Sự quấn quýt nhau giữa con đực và con cái bắt đầu vào buổi chiều và có
liên quan chặt chẽ đến cường độ ánh sáng. Sự phân cắt của trứng diễn ra chủ yếu
ở thời gian đẻ. Quá trình đẻ được bắt đầu bằng sự nhảy lên đột ngột và bơi
nhanh của con cái. Quá trình này chỉ diễn ra trong vòng một phút.
Tôm mẹ thành thục lần đầu từ năm thứ hai trở đi. Trọng lượng 30÷40g/con.
Số lượng trứng tuỳ thuộc kích cỡ tôm mẹ. Nếu tôm có khối lượng 30÷35g/con
lượng trứng sẽ là 100.000÷250.000 hạt, trứng có đường kính khoảng 0,22 mm.
Mùa đẻ rộ vào tháng 4÷5 ở Ecuador và tháng 12 đến tháng 4 ở Peru. Tôm đẻ nhiều
nhất tới trên 10 lần/năm. Thường sau khi đẻ 3÷4 lần liền thì có một lần lột vỏ. Tinh
con đực cũng được tái sinh nhiều lần.
2.1.7. Đặc điểm sinh trưởng
Tôm thẻ chân trắng nhỏ hơn tôm sú, nhưng nó phát triển nhanh hơn ở 60
ngày đầu, 90-100 ngày đạt 15÷20g/con.
Khác với sinh trưởng mang tính liên tục ở cá, sinh trưởng của tôm mang
tính giai đoạn, đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và khối lượng.
Tôm muốn tăng kích thước phải tiến hành lột xác và quá trình này thường tùy
thuộc vào dinh dưỡng, môi trường nước và cả giai đoạn phát triển của cá thể.
Tôm còn nhỏ khi thay vỏ cần vài giờ, tôm lớn cần 1÷2 ngày, lớn hơn cần 6÷7
ngày, tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực. Tôm tăng trưởng nhanh hơn trong
60 ngày nuôi đầu, sau đó, mức tăng trọng giảm dần theo thời gian nuôi.
Với tính ăn tạp và khả năng chuyển hóa thức ăn cao nên hệ số chuyển đổi
thức ăn (FCR) thường thấp, dao động từ 1,1 - 1,3. Đây là một trong những ưu
điểm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nuôi.
Tôm chân trắng lột xác vào ban đêm, thời gian giữa 2 lần lột xác khoảng 1 - 3
tuần, tôm nhỏ (< 3g) trung bình 1 tuần lột xác 1 lần, thời gian giữa 2 lần lột xác

huỷ các hợp chất hữu cơ như thức ăn dư thừa, phân bón, xác phiêu sinh động
thực vật, chất bài tiết của tôm, … tăng lên trong ao nuôi ngày càng cao vào cuối
vụ, tạo điều kiện cho khí độc hành thành và phát sinh.
Trong các ao nuôi tôm có tới 85% lượng Nitrogen trong phân tôm chuyển
sang dạng Amoni. Đối với tôm sú ngưỡng thích hợp là nhỏ hơn 0,03mg/l và
hàm lượng lớn hơn 0,1mg/l có thể gây chết.
2.2.4. Nitrite và nitrate
Nitrite: là chất rất độc đối với cá nhưng ít độc hơn đối với tôm. Nitrite gây
độc chính yếu là tạo thành chất methemoglobin và giảm sự chuyển oxygen tới tế
bào. Những hiểu biết về ảnh hưởng của NO
2
- đến sự phát triển của tôm không
được nhiều. Theo khuyến cáo của các nhà khoa học, ngưỡng an toàn được áp
dụng là 0,1 mg/l. Các kết quả thử nghiệm của Chen 1988 thấy rằng, LC50 (96
giờ) đối với ấu trùng tôm sú là 13,6 mg/l và tôm sú khối lượng 5 g là 171 mg/l.
Ngưỡng được ghi nhận an toàn đối với tôm sú là nhỏ hơn 1 mg/l.
8
Như vậy, mặc dù con tôm có môi trường sinh thái khá rộng tuy nhiên nó
cũng đòi hỏi có môi trường nuôi sạch, các biến động môi trường nuôi đều có thể
tác động tiêu cực đến hoạt động sinh trưởng và phát triển của con tôm đặc biệt
tôm nuôi với mật độ dầy trong các ao nuôi tôm công nghiệp.
2.2.5. Độ mặn
Các loài tôm sú và tôm chân trắng là loài rộng muối có thể thích nghi với
độ muối từ 5÷45‰. Giới hạn cực thuận độ mặn của tôm trong khoảng 20÷25‰.
Trong môi trường nuôi có độ muối thấp tôm thường phát triển nhanh, sức đề
kháng giảm. Ngược lại trong môi trường nuôi có độ muối cao tôm chậm lớn
nhưng cơ thể chắc và sức đề kháng tăng.
2.3. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Lịch sử nghề nuôi tôm trên thế giới đã có từ lâu đời. Ban đầu, tôm nuôi

Panama (Trung Mỹ) đã dẫn tới quá trình phát triển nhanh chóng nghề nuôi
loài tôm này ở Trung, Nam Mỹ và Hawaii từ năm 1976.
Trên thế giới, sản lượng tôm thẻ chân trắng lúc đầu đứng hàng thứ hai sau tôm
sú, nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn
(1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm 1999.
Ecuador coi nuôi tôm thẻ chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm nuôi
chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000 tấn. Năm
1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus) sản lượng giảm
còn 1/3, sau 2÷3 năm khôi phục lại đã đạt 120.000 tấn (1998), 130.000 tấn (1999),
rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000).
Ở một số nước như Mexico, Panama, Peru, Colombia, … cũng có tình
hình phát triển tương tự Ecuador. Sau khi được nhiều nước châu Mỹ nuôi thành
công và có hiệu quả cao, tôm thẻ chân trắng được di giống sang Hawaii. Từ đây
tôm thẻ chân trắng lan sang châu Á, Đông Nam Á. Nhiều nước Đông Nam Á đã
nhập tôm thẻ chân trắng để nuôi như: Trung Quốc, Philippin, Indonesia,
Malaixia, Thái Lan, Việt Nam, với hy vọng đa dạng hóa các sản phẩm tôm
xuất khẩu để nhằm tránh tình trạng chỉ trông cậy phần lớn vào tôm sú như hiện
nay. Tôm thẻ chân trắng được du nhập vào châu Á vì người ta nhận thấy một số
loại tôm bản địa chủ yếu đang được nuôi cho năng suất thấp, mức độ tăng
trưởng chậm và có khả năng mang bệnh. Việc khoanh vùng nuôi tôm thẻ chân
trắng khép kín và sự phát triển của các dòng giống có chọn lọc và thuần hóa đã
đưa tôm thẻ chân trắng trở thành đối tượng được quan tâm lớn của ngành nuôi
tôm thời kỳ hiện nay. Trên phạm vi toàn cầu, tôm thẻ chân trắng đang chiếm tới
2/3 tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới.
10
Bảng 1.3 Sản lượng tôm nuôi tại châu Á và châu Mỹ Latinh từ 2007-2011
Châu Á 2007 2008 2009 2010 2011
Trung Quốc 1,265,636 1,286,074 1,181,130 899,600 962,000
Thái Lan 504,856 507,500 541,994 548,800 553,200
Việt Nam 376,700 381,300 302,400 357,700 403,600

đó tới năm nay con số này đã tăng lên nhiều. Sản lượng của Thái Lan được
120.000 tấn, Việt Nam và Indonesia mỗi nước chỉ có 30.000 tấn. Trung Quốc là
nước châu Á quan tâm tôm thẻ chân trắng sớm nhất.
Hình 1.3. Biểu đồ sản lượng tôm thẻ chân trắng trên thế giới
(Nguồn: www.shrimpnews.com)
2.3.2. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á
du nhập giống tôm thẻ chân trắng, nhưng lại là nước phát triển nuôi loài này
chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực. Từ năm 1996÷1997, một việt kiều
Mỹ là ông Trần Kia đã lập dự án xin nhập giống tôm thẻ chân trắng về nuôi tại
Bạc Liêu, nhưng mãi đến năm 2001÷2002 Bộ Thủy sản mới cho 3 doanh
nghiệp có 100% vốn nước ngoài là công ty Duyên Hải (Bạc Liêu), Công ty
Việt Mỹ (Quảng Ninh) và Công ty Asia Hawaii (Phú Yên) được nhập con
giống SPF để nuôi thử nghiệm.
Từ năm 2002, do bị thiệt hại trong nuôi tôm sú, nhiều địa phương ở
phía Bắc và miền Trung đã chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng và thu được
12
kết quả tốt. Nhưng phải đến đầu năm 2008, với Chỉ thị số 228 của Bộ trưởng
Bộ NN & PTNT ngày 25/1/2008, đối tượng này mới được phép đưa vào
nuôi ở các tỉnh phía Nam trong các vùng quy hoạch và theo những điều
kiện nhất định.
Theo thống kê của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản, từ cuối năm 2000,
tỉnh Ninh Thuận đã thành công với mô hình nuôi tôm trên cát. Với vài ha lúc đầu,
chỉ sau 2 năm diện tích nuôi tôm tăng lên 200 ha, dẫn đầu cả nước về diện tích
nuôi. Từ sự thành công của Ninh Thuận, hàng loạt các tỉnh duyên hải miền Trung
đều kêu gọi được những dự án lớn đầu tư vào nuôi tôm trên cát. Trong đó nổi lên là
dự án đầu tư hơn 2.200 ha để nuôi tôm trên cát của công ty Việt Mỹ tại Quảng Trị
và dự án 2.000 ha nuôi tôm trên cát tại Lệ Thủy (Quảng Bình).
Cũng trong thời gian đó, Bộ Thủy sản (nay là Bộ NN & PTNT) đã khuyến
cáo người dân không nên phát triển rộng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng vì lo

trong năm. Thị phần của một loài như vậy là không hề nhỏ. Ở đây chưa nói đến
một sản lượng đáng kể tôm thẻ chân trắng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu tiểu
ngạch. Sự tăng trưởng liên tục cả diện tích nuôi, sản lượng và giá trị xuất khẩu
chứng tỏ tôm thẻ chân trắng đã có chỗ đứng vững chắc trong cơ cấu giống thủy
sản nuôi ở Việt Nam.
Bảng1.4. Diện tích, sản lượng và năng suất tôm thẻ chân trắng qua các năm.
Năm Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Năng suất bình quân
(kg/ha)
2005 13.455 40.096 2.980
2006 18.441 57.185 3.100
2007 19.919 64.776 3.250
2008 15.079 47.827 3.170
2009 21.339 89.521 4.190
2010 25.397 136.719 5.380
2011 28.683 152.939 5.330
2012 41.789 186.197 4.460
Nguồn: Tổng cục thủy sản 2013.
Bên cạnh những thuận lợi như đề cập ở trên, việc phát triển nuôi tôm thẻ
chân trắng có những khó khăn nhất định đó là tình hình dịch bệnh xảy ra ở nhiều
nơi. Tôm nuôi ở nhiều nơi bị chết hàng loạt. Ngoài ra một số vùng nuôi tôm thẻ
bắt đầu xuất hiện dịch bệnh do môi trường, Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
hình dịch bệnh như hiện nay. Một nguyên nhân không thể không nhắc đến là
14
người nuôi không chủ động được nguồn nước “chuẩn” để nuôi tôm thẻ chân
trắng. Khi ao nuôi bị bệnh người nuôi xả thẳng ra môi trường mà không qua xử
lý, khi cấp nước lại lấy nguồn nước nơi đã thải ra đưa vào ao nuôi. Chính điều
này đã làm cho dịch bệnh lây lan ra diện rộng, gây thiệt hại lớn cho người nuôi.
2.3.3. Tình hình nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế, một tỉnh duyên hải miền Trung, có bờ biển dài 126 km

15
cải tạo 412 ha, Phú Vang 498 ha chuẩn. Theo đó, tổng diện tích đã đưa vào nuôi
thả 120,8 ha chuyên tôm, nuôi xen ghép 1.160 ha.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế phát triển mạnh vùng nuôi tôm trên cát tại huyện
Phong Điền, xây dựng nhóm trại sản xuất và dịch vụ cung ứng giống cho vùng
nuôi trên cát. Theo quy hoạch, vùng nuôi tôm trên cát tại Phong Điền sẽ mở
rộng gần 2.000 ha, trong đó 6 dự án của doanh nghiệp chiếm 1.000 ha, còn lại
thuộc về người dân. Hiện ở đây đang thả nuôi tôm với diện tích trên 144 ha, sản
lượng tôm thu hoạch hàng năm khoảng 1.440 tấn, năng suất bình quân 10 tấn/ha.
Phong Điền đang hướng dẫn các hộ nuôi đảm bảo quy trình kỹ thuật nuôi tôm
công nghiệp tập trung; nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức sản xuất theo hướng
thành lập các HTX, tổ tự quản; lập phương án, kế hoạch điều chỉnh, thu hồi lại
diện tích đất thuộc quy hoạch rừng phòng hộ để trồng phục hồi lại rừng; đề xuất
các giải pháp về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật các vùng nuôi tôm công
nghiệp tập trung nhằm đảm bảo quy trình xử lý nước thải, bảo vệ môi trường
Tỉnh chuyển toàn bộ diện tích nuôi tôm từ 2 vụ sang nuôi một vụ ăn chắc, ổn
định diện tích gần 3.500 ha; trong đó có 1.064 ha diện tích nuôi tôm chân trắng
thâm canh công nghiệp trên vùng cát ven biển; 1.091 ha nuôi chuyên tôm sú bán
thâm canh vùng cao triều ven đầm phá; còn lại là diện tích nuôi tôm xen ghép
quảng canh cải tiến vùng hạ triều đầm phá.
Các huyện Phú Vang, Phú Lộc phát triển nuôi tôm nhanh hơn các huyện
khác. Vùng đầm phá huyện Phú Lộc tăng diện tích bình quân hàng năm
41,192%/năm và sản lượng tăng 109,84%/năm trong thời gian trên. Phong Điền
không mở rộng diện tích nuôi tôm, nhưng lại đầu tư thâm canh .
Dịch bệnh luôn là vấn đề lo ngại của nghề nuôi tôm. Năm 2010 Thừa Thiên
Huế, có gần 1.000 ha tôm bị bệnh trên tổng số 3.600 ha nuôi tôm (Website
Chính Phủ VN, 23/08/2011), chủ yếu là bệnh đốm trắng, bệnh đầu vàng, còi,
bệnh do môi trường…Theo thống kê của Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Thừa
Thiên Huế, đến ngày 26/5/2011, toàn tỉnh có hơn 33ha tôm nuôi bị chết; trong
đó, có 4,1ha ao nuôi tôm bị bệnh đốm trắng, 28,9ha ao nuôi tôm bị bệnh về môi

Ao thí nghiệm: 6 ao với các thông số mỗi ao như sau:
Bảng 2.1. Đặc điểm của ao thí nghiệm
Đặc điễm Các chỉ số
Diện tích (m
2
) 5000
Hình dạng Vuông
Chất đáy Cát pha bùn
Chiều rộng bờ ao (m) 3
Độ sâu cao nhất (m) 1,8
Hệ số mái 1 x 1,5
31.3.2. Tôm giống
- Tôm giống được lấy từ các trại sản xuất giống của công ty Việt_Úc Bình
Định nên đảm bảo được tôm giống khỏe mạnh, sạch bệnh.
- Trước khi thả thì tiến hành đếm mẫu và gièo giống 2÷3 tiếng để tôm đạt
được tỷ lệ sống cao.
18
3.1.3.3. Thức ăn sử dụng
- Loại thức ăn được sử dụng trong quá trình nuôi là thức ăn HIPO với các
kích cỡ khác nhau để cho tôm ăn tùy thuộc vào từng giai đoạn.
- Thức ăn được chứa trong kho khô ráo và đạt yêu cầu. Có thùng đựng
thức ăn kín để vận chuyển ra tận ao nuôi.
3.1.3.4. Các thiết bị chuyên dùng trong sản xuất
- Cân đĩa: Cân thức ăn, hoá chất.
- Cân tiểu ly: Cân khối lượng tôm, mẫu thức ăn và các hóa chất có trọng
lượng bé.
- Chài: Dùng để chài tôm để kiểm tra sức khoẻ, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ
sống và chài mẫu khi thu hoạch.
- Sàng ăn: Kích thước 0.8 x 0.8 x 0.1 dùng để kiểm tra lượng thức ăn tôm
sử dụng và sức khoẻ tôm.

thương phẩm tôm thẻ chân trắng
Xác
định
tốc độ
tăng
trưởng
Theo dõi
diễn biến
các yếu
tố môi
trường
Xác
định
tỷ lệ
sống
Đánh
giá
hiệu
quả
kinh
tế
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Sơ đồ 2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Tôm thẻ chân trắng (PL12)
Ao1 Ao2 Ao3
3.3.2. Phương pháp thu thập số liệu
3.3.2.1. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
- Oxy hòa tan (DO): Đo bằng máy đo oxy (độ chính xác đến 0,1mg/l)
ngày 2 lần sáng từ 6÷7h và chiều từ 13÷14h


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status