TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT
NAM
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN HẢI THANH
Lớp : NGA - KTNT
Khóa : K41F
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. ĐẶNG THỊ LAN
HÀ NỘI, THÁNG 11/2006
2.1. HOÀN THIỆN TỔ CHỨC QUẢN LÝ VĨ MÔ ĐỐI VỚI NGÀNH
CHÈ 24
2.2. PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC LIÊN
KẾT VÀ ĐẠI DIỆN NGÀNH 25
CHƢƠNG II 27
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 27
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHÈ VIỆT NAM 27
1. VÀI NÉT VỀ CÂY CHÈ VIỆT NAM 27
1.1. NGUỒN GỐC, XUẤT XỨ CÂY CHÈ VIỆT NAM 27
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
1
1.2. VỊ TRÍ CỦA CÂY CHÈ VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ
QUỐC DÂN 28
2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, KINH DOANH CHÈ VIỆT NAM
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 31
2.1. DIỆN TÍCH 31
2.2. SẢN LƢỢNG, NĂNG SUẤT 33
2.3. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU 34
II. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 36
1. QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ TRƢỚC ĐỔI MỚI 36
1.1. THỜI KỲ TỪ NĂM 1974 ĐẾN NĂM 1980 37
1.2. THỜI KỲ TỪ THÁNG 6-1980 ĐẾN THÁNG 6-1983 38
1.3. THỜI KỲ TỪ THÁNG 6-1983 ĐẾN THÁNG 6-1987 40
2. QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ SAU ĐỔI MỚI 45
2.1. TỔ CHỨC QUẢN LÝ NGÀNH CHÈ 45
2.2. CÁC TỔ CHỨC HỖ TRỢ NGÀNH 51
2.3 CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CHÈ 52
2.4. BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH CHÈ 59
2.5. CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ 61
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG TRANG
Bảng 1.1: Tỷ trọng sản lượng của một số nước sản xuất chè. 20
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng chè Việt Nam (1995- 2005) 31
Bảng 2.2: Tỷ lệ các doanh nghiệp nhà nước năm 2005 (tính theo công suất và
lao động) 52
Bảng 2.3: Khối lượng chè bán cho VINATEA trên tổng sản lượng chè đen
1997-1998 53
Bảng 2.4: Quy mô, diện tích chè của hộ năm 2001 (%) 54
Bảng 2.5: Các công ty chè liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài 56
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu về diện tích, năng suất và sản lượng đến năm 2010 73
Bảng 3.2: Dự kiến khối lượng và kim ngạch xuất khẩu chè 74
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Quan hệ chủ thể - đối tượng - mục tiêu quản lý 12
Hình 1.2: Nội dung của tổ chức quản lý Nhà nước đối với một ngành kinh tế 18
Hình 1.3: Phương hướng hoàn thiện quản lý ngành chè 23
Hình 2.1: Xuất khẩu chè Việt Nam 33
Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức ngành chè trước đổi mới 35
Hình 2.3: Mô hình tổ chức quản lý của ngành chè sau đổi mới 46
Hình 2.4: Sơ đồ hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước đối với ngành chè 57
Hình 2.5: Mô hình quản lý ngành chè hiện nay 63
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức ngành chè Kênya 75
Hình 3.2: Mô hình Công ty mẹ và Công ty con 92
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
1
quản lý ngành chè Việt Nam” là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn đối với
quản lý ngành chè nói riêng và nền kinh tế nước ta nói chung. Tuy nhiên, để tránh
dàn trải, khoá luận giới hạn nghiên cứu quản lý ở tầm vĩ mô của Nhà nước là chủ
yếu, với kết cấu 3 chương:
Chƣơng I: Một số vấn đề chung về quản lý ngành, ngành chè và các
phƣơng hƣớng hoàn thiện quản lý ngành chè.
Chƣơng II: Thực trạng quản lý ngành chè Việt Nam.
Chƣơng III: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện quản lý ngành chè Việt Nam.
Trong quá trình viết khoá luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu: kết hợp những kiến thức đã tích luỹ trong quá trình học tập với
những quan sát đã thu thập được trong thực tế; kết hợp giữa việc tổng hợp
sách báo với việc đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế bằng các phương pháp
so sánh, đánh giá, phương pháp biện chứng duy vật
Trong quá trình hoàn thành khoá luận, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo
tận tình của cô giáo hướng dẫn - ThS Đặng Thị Lan – Khoa Quản trị kinh
doanh – trường Đại học Ngoại Thương và rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình và
thiết thực của các cán bộ Tổng công ty chè Việt Nam, của gia đình và bè bạn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Do hoàn thiện quản lý ngành chè là một vấn đề lớn, đòi hỏi được tiếp
tục nghiên cứu công phu, có sự tham gia của nhiều nhà khoa học và quản lý,
vì vậy bài khoá luận không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Tác giả rất
mong được sự góp ý, phê bình của các thầy cô giáo và bạn đọc để tiếp tục
hoàn thiện và nghiên cứu sâu hơn.
Hà Nội, tháng 12/2006
Sinh viên
Nguyễn Hải Thanh
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
3
CHƢƠNG I
tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh – phục
tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
Xét ở tầm vĩ mô, toàn bộ nền kinh tế quốc dân có đối tƣợng quản lý là
các quá trình kinh tế đang diễn ra với cơ cấu kinh tế tương ứng bao gồm hoạt
động của các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế… và chủ thể quản lý
là hệ thống các cơ quan quản lý từ Trung ương đến các cơ sở gắn với cơ chế
quản lý tương ứng, làm chức năng quản lý quản lý các quá trình kinh tế - xã
hội ở các cấp khác nhau. [35]
Ở tầm vi mô, hiện nay thuật ngữ “quản trị” thường được sử dụng cho
quản lý ở phạm vi các doanh nghiệp. Trong một doanh nghiệp nhỏ độc lập,
đối tƣợng quản lý là người lao động và các tiềm năng của doanh nghiệp, còn
chủ thể quản lý là chủ doanh nghiệp cùng bộ máy quản lý, có phân hệ cơ chế
nội bộ phù hợp với pháp luật và cơ chế quản lý vĩ mô. Chủ thể quản lý doanh
nghiệp cũng có thể chia thành 3 phân hệ nhỏ: phân hệ hoạch định (đường lối,
chiến lược, kế hoạch), phân hệ cơ chế quản lý (lập pháp, thể chế, lập quy),
phân hệ điều hành (bộ máy điều hành). Nếu áp dụng ở mức tập đoàn các
doanh nghiệp hoặc tổng công ty, đối tượng còn bao gồm các đơn vị, các
doanh nghiệp thành viên với sự độc lập tương đối nhất ở các mức khác
nhau.[35]
1.2. Vai trò của quản lý
Trong thế giới ngày nay, chắc không ai phủ nhận vai trò quan trọng và
to lớn của quản lý trong việc bảo đảm sự tồn tại và hoạt động bình thường của
đời sống kinh tế xã hội. Đối với sự phát triển của từng đơn vị hay cộng đồng
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
5
hay cao hơn nữa của cả một quốc gia, một ngành kinh tế, quản lý càng có vai
trò quan trọng. Sự nhận thức của tuyệt đại đa số trong dân cư về vai trò của
quản lý cho tới nay hầu hết đều thông qua cảm nhận từ thực tế. Muốn nâng
cao nhận thức về vai trò của quản lý, một mặt cần nâng cao nhận thức thực tế,
6
xa với việc thực hiện chức năng hướng dẫn chính sách và hoạt động xã hội của
mình.
Sự cần thiết khách quan và vai trò của quản lý xuất phát từ những
nguyên nhân sau đây: [18]
1. Từ tính chất xã hội hóa của lao động và sản xuất.
2. Từ tiềm năng sáng tạo to lớn của quản lý.
3. Từ những yếu tố làm tăng vai trò của quản lý trong nền sản xuất và kinh tế hiện đại.
4. Từ những yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế và xã hội trong quá trình
đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường và tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đậi hóa đất nước ở Việt Nam (xét trong nền kinh tế Việt Nam).
Thứ nhất, tăng cường xã hội hóa lao động và sản xuất - một quá trình
mang tính quy luật của sự phát triển kinh tế và xã hội:
Sự xuất hiện của quản lý như là kết quả tất nhiên của việc chuyển các
quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành các quá trình lao
động phải có sự phối hợp. Sản xuất và tiêu thụ mang tính tự cấp, tự túc do
một cá nhân thực hiện không đòi hỏi quản lý. Ở một trình độ cao hơn, khi
sản xuất và kinh tế mang tính xã hội rõ nét và ngày càng sâu rộng hơn, khi
đó quản lý là điều không thể thiếu.
Theo C.Mác, “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến
hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều
hòa những hoạt động cá nhân. Sự chỉ đạo đó phải làm chức năng chung, tức
là chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể
sản xuất với sự vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợi thành cơ
sở sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
7
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
2
8
triển khoa học công nghệ, kể cả việc tiếp nhận, chuyển giao từ nước ngoài
vào và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống,
mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế phải xây dựng và thực thi các chính sách, cơ
chế, tổ chức cùng các biện pháp quản lý phù hợp. Nếu không, ý muốn phát triển
và áp dụng khoa học - công nghệ chỉ là những dự định hay ước mơ mà thôi.
- Sự quá độ của phát triển kinh tế từ chỗ chủ yếu theo chiều rộng sang phát
triển theo chiều sâu đòi hỏi quản lý phải được nâng cao tương ứng. Trong
những thời kỳ đầu của quá trình phát triển kinh tế ở tất cả các nước, sự phát
triển theo chiều rộng là nét đặc trưng chủ yếu. Tăng trưởng kinh tế lúc này
chủ yếu dựa trên sự gia tăng sử dụng thêm về mặt số lượng các yếu tố đầu
vào về vật chất - kỹ thuật, như tăng vốn đầu tư, tài nguyên, nguyên nhiên vật
liệu và lao động. Điều này dẫn tới các đầu vào đảm bảo cho tăng trưởng theo
chiều rộng ngày càng cạn dần. Hơn nữa, việc khai thác tài nguyên ở quy mô
lớn thường dẫn đến những hầu quả về môi trường. Đến lúc này, những yếu tố
phát triển theo chiều sâu quyết định phát triển kinh tế. Sự phát triển tiếp theo
và cao hơn nữa của nền kinh tế chủ yếu sẽ dựa trên ứng dụng khoa học công
nghệ, hoàn thiện tổ chức quản lý, nâng cao trình độ của cán bộ, công nhân…
Tất cả những yếu tố này nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của
doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế.
- Trình độ xã hội và các quan hệ xã hội ngày càng cao đòi hỏi quản lý phải
thích hợp. Trình độ xã hội và các quan hệ xã hội thể hiện ở:
+ Trình độ giáo dục và đào tạo, học vấn và trình độ văn hóa nói chung
của đội ngũ cán bộ, người lao động và của các tầng lớp dân cư.
+ Nhu cầu và đòi hỏi của xã hội về vật chất và tinh thần ngày càng cao,
đa dạng và phong phú hơn.
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
9
thành viên của tổ chức, giữa những người bị quản lý với nhau và giữa những
bị quản lý và người quản lý. Chỉ có thể tạo nên sự thống nhất trong đa dạng
thì quản lý mới đạt dược kết quả mong muốn.
- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêu chung
và hướng mọi nỗ lực của các cá nhận, của tổ chức vào mục tiêu chung đó.
- Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhân
trong tổ chức, giảm độ bất định nhằm đạt mục tiêu quản lý.
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức bằng cách kích thích,
đánh giá, khen thưởng những người có công; uốn nắn những sai lệch, sai
sót của cá nhân trong tổ chức nhằm giảm bớt những tổn thất, sai lệch trong
quá trình quản lý.
- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức, bảo
đảm phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả.
1.3. Chức năng của quản lý
Chức năng là tập hợp các hoạt động hay hành động cùng loại của
một hệ thống hoặc một bộ phận trong hệ thống. Với khái niệm đó, không
có chức năng chung chung, mà chỉ có chức năng gắn liền với một hệ thống
hoặc một bộ phận của nó. Chức năng bao gồm các hoạt động hay hành
động cùng loại. Mỗi chức năng có các nhiệm vụ cụ thể, hay nói cách khác
chức năng là nhiệm vụ tổng quát. [12]
Chức năng quản lý là loại hoạt động riêng biệt của lao động quản lý,
thể hiện ở những phương hướng tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng
bị quản lý. Việc xác định đúng đắn chức năng quản lý là cần thiết để quản lý
có hiệu quả và tổ chức bộ máy quản lý theo hướng gọn nhẹ có hiệu lực, phù
hợp với những chức năng quản lý.
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
11
Theo phạm vi quản lý, người ta phân biệt chức năng quản lý vĩ mô và
chức năng quản lý vi mô. Theo nội dung, tuỳ đặc điểm, tính chất kỹ thuật
chỉ tiêu kế hoạch với kết quả mà thực tế đã đạt được trong từng khoảng thời
gian, bảo đảm cho hoạt động thực tế phù hợp với kế hoạch đã đề ra. Người
lãnh đạo các tổ chức cần quan tâm đến vai trò quan trọng của kiểm tra để
thực hiện được các mục tiêu đề ra.
Trên đây là các chức năng cơ bản của quản lý nói chung. Bốn chức
năng cũng chính là bốn quá trình quản lý chủ yếu (từ lập kế hoạch, tổ chức đến
lãnh đạo và kiểm tra), đồng thời, chúng cũng có những mối quan hệ tương tác
và hỗ trợ lẫn nhau, trong đó chức năng tổ chức được coi là chức năng quan
trọng nhất trong hoạt động quản lý.
2. Công cụ quản lý
2.1. Khái niệm và vai trò của công cụ quản lý
Giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và mục tiêu cần đạt có mối
quan hệ chặt chẽ (hình 1.1).
Hình 1.1: Quan hệ chủ thể - đối tƣợng - mục tiêu quản lý Nguồn: [12]
Chủ thể quản lý
Công cụ quản lý
Đối tượng quản
lý
Mục
tiêu
quản lý
X¸c ®Þnh
Thùc hiÖn
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
14
Hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề để không ngừng vận động. Nói
cách khác, đối tượng quản lý luôn vận động, hoàn thiện, phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu, cả về không gian lẫn thời gian. Vì vậy, để quản lý các
ngành, các lĩnh vực kinh tế – xã hội trong sự vận động, phát triển đó, các công
cụ quản lý cũng không ngừng thay đổi, phát triển tương ứng.[12]
Các công cụ quản lý luôn đƣợc hoàn thiện
Một mặt, sự phát triển của đối tượng quản lý, của lực lượng sản xuất,
của khoa học công nghệ đòi hỏi phải có các công cụ quản lý tương ứng,
hiện đại. Mặt khác, sự phát triển của chính khoa học công nghệ lại mở ra
khả năng to lớn, hiệu quả, thiết thực trong việc hoàn thiện và hiện đại hoá
hệ thống các công cụ quản lý.[12]
2.3. Phân loại các công cụ quản lý
Phân loại các công cụ quản lý nhằm nắm rõ tính chất, đặc điểm tác
động và xu hướng phát triển của chúng. Trên cơ sở đó, chủ thể quản lý lựa
chọn công cụ quản lý thích hợp, sử dụng với hiệu quả cao.
Tùy theo mục đích và tiêu thức khác nhau, người ta chia các công cụ
quản lý thành các loại sau:[12]
- Theo lĩnh vực quản lý, người ta chia thành: công cụ quản lý lĩnh vực
kinh tế; công cụ quản lý các lĩnh vực xã hội. Trong mỗi ngành, lĩnh vực lại có
thể được chia thành phân ngành tương ứng, như: trong kinh tế có công cụ tiền
tế, tài chính, tín dụng, thương mại, đầu tư. Trong lĩnh vực xã hội có các công
cụ quản lý xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế
- Theo tính chất tác động của công cụ quản lý, gồm:
+ Công cụ có tính pháp lý: pháp luật, pháp lệnh và các văn bản của các
cơ quan chức năng và thẩm quyền nhà nước ban hành.
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
16
Các công cụ quản lý phải đảm bảo các yếu tố sau:
- Có căn cứ khoa học: phải được luận chứng về mặt khoa học, được
kiểm nghiệm từ thực tế.
- Phù hợp, sát thực tế kinh tế – xã hội đất nước, địa phương, ngành, lĩnh
vực, tức là có tính khả thi và hiệu quả.
- Bảo đảm tính ổn định tương đối của hệ thống công cụ quản lý và có xu
hướng phát triển và hoàn thiện trong tương lai.
- Phù hợp với khả năng, trình độ của cán bộ quản lý.
3. Cơ cấu tổ chức quản lý
3.1. Khái niệm và vai trò của cơ cấu tổ chức quản lý
Cơ cấu tổ chức quản lý là một chỉnh thể gồm các bộ phận có chức năng
quyền hạn, trách nhiệm khác nhau, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, được
bố trí thành từng cấp, từng khâu, thực hiện các chức năng quản lý nhất định
nhằm đạt được mục tiêu định trước.[12]
Mỗi cơ cấu tổ chức quản lý bao giờ cũng gồm nhiều bộ phận hợp
thành, có mục tiêu riêng, đồng thời đều nhằm vào mục tiêu chung, mục tiêu
cuối cùng của hệ thống quản lý.
Mỗi bộ phận của cơ cấu tổ chức quản lý có tính độc lập tương đối, có
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định.
Mỗi cơ cấu tổ chức quản lý có hai mối quan hệ cơ bản. Theo quan hệ
ngang, cơ cấu tổ chức quản lý chia thành các khâu quản lý khác nhau. Khâu
quản lý là một cơ quan quản lý độc lập thực hiện một số chức năng hay một
phần chức năng quản lý nhất định và chịu sự lãnh đạo của một cấp quản lý
nhất định. Giữa các khâu là quan hệ hợp tác trong sự phân công lao động
quản lý. Theo quan hệ dọc, cơ cấu tổ chức quản lý được chia thành các cấp
quản lý. Cấp quản lý là một thể thống nhất các khâu quản lý ở cùng một bậc
trong hệ thống cấp bậc quản lý: như cấp Trung ương, cấp địa phương, cấp cơ
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
18
Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý phải đảm bảo các
yêu cầu sau:
Số lượng cấp quản lý hợp lý nhằm bảo đảm tính linh hoạt của cơ cấu tổ
chức và phù hợp với thực tế.
Xác định rõ phạm vi, chức năng và nhiệm vụ quản lý, trên cơ sở đó có
sự phân công hợp lý giữa các bộ phận, loại trừ hiện tượng chồng chéo trùng
lặp hoặc không có người phụ trách.
Về nguyên tắc, một bộ phận của cơ cấu tổ chức có thể đảm nhiệm một
hoặc một số chức năng, nhiệm vụ.
Xác định rõ mối quan hệ dọc, ngang, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ về
nhiệm vụ và hoạt động của các bộ phận trong cơ cấu tổ chức.
Bảo đảm tính thiết thực, tính kinh tế và tính hiệu quả của hoạt động quản
lý.
Tương đối ổn định, song không bảo thủ, trì trệ, linh hoạt song không
thay đổi liên tục cơ cấu tổ chức quản lý.
4. Quản lý vĩ mô đối với một ngành kinh tế
4.1. Nội dung quản lý vĩ mô ngành ngành kinh tế
Các nội dung chủ yếu của quản lý vĩ mô đối với một ngành kinh tế:
- Nhà nước thiết lập một hệ thống bộ máy bao gồm cơ quan các
cấp từ Trung ương đến địa phương để thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước đối với ngành.
- Xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, bộ phận quản lý
ngành; đồng thời xác định cả trách nhiệm, quyền hạn để các cơ quan, bộ phận
và cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm vụ đó.
- Xác định, điều hoà và phối hợp các mối quan hệ giữa các cơ quan, bộ
phận, cá nhân tham gia quản lý ngành.
Nguyễn Hải Thanh – Nga K41 - KTNT
Trong việc xác định, lựa chọn công cụ, chính sách quản lý ngành, cần
chú ý tới những vấn đề quan trọng như: giảm bớt can thiệp hành chính trực
tiếp vào hoạt động doanh nghiệp, tăng quản lý gián tiếp thông qua pháp luật,
quy hoạch và chính sách; thiết lập hệ thống kiểm tra hiệu quả đối với hoạt
động của các đơn vị trong ngành, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính; có
chính sách khuyến khích, hỗ trợ đối với ngành. Trong sắp xếp, bố trí cán bộ
cần chú ý đến vấn đề đào tạo, đào tạo lại cán bộ; tuyển chọn, sử dụng và sắp
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH
Thiết lập bộ máy quản
lý ngành
Xác định phương thức
quản lý ngành
- Xác định các phân hệ, cơ quan, bộ phận
- Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn cho các phân hệ
- Xác định mối quan hệ giữa các phân hệ,
bộ phận và cá nhân.
- Bố trí, xắp xếp các cá nhân, bộ phận vào
bộ khung tổ chức
- Phương thức trực tiếp: như cấp đăng ký
kinh doanh, cấm nhập khẩu, thanh tra
kiểm tra, cung cấp tín dụng …
- Phương thức gián tiếp như: quản lý
thông qua cơ chế, tạo lập môi trường kinh
doanh , quản lý bằng luật pháp, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách …