TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI THÁI LAN VÀ BÀI
HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thúy Mai
Lớp : Anh 4
Khoá : 42A – KT&KDQT
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Hải Yến
Hà Nội – Tháng 11/2007
25
3.3. CÁC TÁC HẠI VỀ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DO VIỆC KHAI THÁC
PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUÁ TẢI ĐEM LẠI 26
II. XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA DU LỊCH TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ 27
1. NHÓM CÁC XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CẦU DU LỊCH 27
1.1. THAY ĐỔI VỀ HƢỚNG VÀ PHÂN BỐ CỦA LUỒNG KHÁCH
DU LỊCH QUỐC TẾ 27
1.2. THAY ĐỔI TRONG CƠ CẤU CHI TIÊU CỦA KHÁCH DU LỊCH
28
1.3. THAY ĐỔI TRONG HÌNH THỨC TỔ CHỨC CHUYẾN ĐI CỦA
KHÁCH DU LỊCH 28
1.4. GIA TĂNG CÁC ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH TRONG MỘT CHUYẾN
ĐI 29
2. NHÓM XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CUNG DU LỊCH 29
2.1. ĐA DẠNG HOÁ SẢN PHẨM DU LỊCH 29
2.2. ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG DU
LỊCH 29
2.3. ĐẨY MẠNH QUÁ TRÌNH KHU VỰC HOÁ, QUỐC TẾ HOÁ 30
2.4. HẠN CHẾ TÍNH THỜI VỤ TRONG DU LỊCH 31
CHƢƠNG II: TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC CỦA
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI THÁI LAN VÀ VIỆT NAM 32
I. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỦA THÁI LAN VÀ VIỆT
NAM 32
1. TIỀM NĂNG DU LỊCH TỰ NHIÊN 32
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐỊA HÌNH 32
1.2. KHÍ HẬU 36 1.3. PHONG CẢNH TỰ NHIÊN 38
TẾ 64
3. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH QUỐC TẾ TRONG THỜI GIAN
TỚI 65
3.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 65
3.2. MỤC TIÊU CỤ THỂ 65
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ THÁI LAN VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI
VIỆT NAM 66
1. KINH NGHIỆM TỪ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THÁI LAN 67
1.1. CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH HOÀN HẢO 67
1.2. LOẠI HÌNH DU LỊCH ĐA DẠNG 69
1.3. CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN QUẢNG BÁ DU LỊCH HIỆU QUẢ
CỦA THÁI LAN 74
1.4. CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ TRONG DU LỊCH THÁI LAN 76
1.5. ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH 79
1.6. PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 80
2. KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG MẶT HẠN CHẾ TRONG QUÁ
TRÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÁI LAN 82
2.1. DU LỊCH SEX VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC 82
2.2. VẤN ĐỀ VỆ SINH MÔI TRƢỜNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT
TRIỂN DU LỊCH 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Tiếng Anh
Tiếng Việt
IUOTO
Tổ chức du lịch quốc tế
WHO
World Health Organization
Tổ chức Y tế thế giới
WTTC
World Travel and Tourism
Council
Hội đồng lữ hành quốc tế
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Số hiệu
Tên
Trang
Bảng 1.1
Đóng góp của ngành du lịch vào kinh tế thế giới
năm 2010
17
Bảng 2.1
Lƣợng du khách đến Thái Lan và Việt Nam từ 1997
đến 2006
39
Bảng 2.2
Doanh thu từ du lịch quốc tế của Thái Lan và Việt
Nam từ 1998 đến 2006
42
Bảng 2.3
sáng cho các nƣớc trên thế giới phải ngƣỡng mộ và học tập.
Với tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa cũng nhƣ bản sắc dân
tộc, Việt Nam cũng đã bắt tay vào việc xây dựng và phát triển ngành du lịch.
Nhƣng cho đến nay, những gì Việt Nam đạt đƣợc vẫn chƣa tƣơng xứng với
tiềm năng của mình. Vậy trong thời gian tới, Việt Nam phải làm gì để đƣa
ngành du lịch của mình sánh ngang với các quốc gia trong khu vực và thế
giới? Biện pháp hiệu quả nhất luôn là phát huy nội lực và tìm một lối đi cho
riêng mình. Đồng thời cũng nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của những
quốc gia có hoạt động du lịch phát triển nhƣ Thái Lan - đất nƣớc có nhiều điểm tƣơng đồng với Việt Nam. Do vây, em lựa chọn đề tài “Phát triển du
lịch quốc tế tại Thái Lan và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm
khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng thu hút khách du lịch quốc tế tại Thái Lan.
Đánh giá những đƣờng lối và biện pháp mà Thái Lan đã áp dụng để
phát triển du lịch quốc tế.
Rút ra những bài học từ thực trạng phát triển du lịch quốc tế của Thái
Lan
Đề xuất những phƣơng hƣớng để phát triển du lịch quốc tế tại Việt
Nam trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của khoá luận: thực trạng du lịch và những biện
pháp mà Thái Lan đã áp dụng để thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch quốc
tế, đồng thời đƣa ra định hƣớng cho thị trƣờng du lịch Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận: tìm hiểu thị trƣờng du lịch của Thái
Lan và Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ của đề tài, ngƣời viết đã sử dụng một số phƣơng
1. Một số khái niệm
1.1. Du lịch
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phổ biến
không chỉ ở các nƣớc phát triển mà ở cả những nƣớc đang phát triển. Du lịch
đã trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nƣớc nói
riêng, của toàn cầu nói chung. Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình
thành từ rất lâu và phát triển nhanh nhƣ vậy nhƣng cho đến nay khái niệm “du
lịch” vẫn đƣợc hiểu rất khác nhau tại nhiều quốc gia khác nhau và dƣới nhiều
góc độ khác nhau.
Tuy chƣa có một nhận thức thống nhất về khái niệm “du lịch” trên thế
giới cũng nhƣ ở Việt Nam, song trƣớc thực tế phát triển của ngành du lịch về
mặt kinh tế - xã hội cũng nhƣ trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu, thảo
luận để đi đến thống nhất khái niệm “du lịch” cũng nhƣ một số khái niệm cơ
bản khác về du lịch là một đòi hỏi khách quan.
Khái niệm “du lịch” có nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lƣu trú tạm
thời của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ. Nhƣng du lịch là
một hiện tƣợng kinh tế – xã hội phức tạp và trong quá trình phát triển, nội
dung của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú. Việc đƣa ra một
định nghĩa của hiện tƣợng vừa mang tính chất bao quát, vừa mang tính chất lý
luận và thực tiễn là điều khó khăn.
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đi một vòng”.
Thuật ngữ này đƣợc Latinh hoá thành “tourisme” trong tiếng Pháp và tourism
trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tourism” đƣợc hiểu thông qua
tiếng Hán, “du” có nghĩa là chơi, “lịch” có nghĩa là từng trải, tuy nhiên ngƣời Trung Quốc gọi tourism là “du lãm” với nghĩa là để đi chơi nhằm nâng cao
nhận thức
1
.
nghĩa này chỉ xem xét chung hiện tƣợng du lịch mà ít phân tích nó nhƣ một
hiện tƣợng kinh tế.
Michael Coltman ngƣời Mỹ đã đƣa ra định nghĩa ngắn gọn nhƣ sau:
“Du lịch là sự kết hợp và tương tác của 4 nhóm nhân tố trong quá trình phục
vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ, cư dân sở tại và chính
quyền nơi đón khách du lịch”.
Có thể hiểu mối quan hệ đó bằng sơ đồ:
Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tổ chức tại Otawa, Canada vào
tháng 6/1991 với 250 đại biểu đến từ 90 quốc gia đã thống nhất định nghĩa về
du lịch nhƣ sau : “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài
môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng
thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước,
mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền
trong phạm vi vùng tới thăm”.
Trong định nghĩa này đã quy định rõ mấy điểm:
Ngoài “môi trƣờng thƣờng xuyên”, có nghĩa là loại trừ các chuyến đi
trong phạm vi nơi ở thƣờng xuyên các chuyến đi có tổ chức thƣờng xuyên
hàng ngày, các chuyến đi thƣờng xuyên định kỳ có tổ chức phƣờng hội giữa
Du khách
Dân cƣ sở tại
Chính quyền địa
phƣơng nơi đón
khách du lịch
Nhà cung ứng
dịch vụ du lịch
1.2. Du lịch quốc tế
Có cái nhìn khái quát về du lịch, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu đƣợc thế nào
là du lịch quốc tế. Yếu tố quốc tế của bất kỳ lĩnh vực nào cũng đƣợc hiểu là
có sự vƣợt qua ngoài biên giới lãnh thổ, có sự trao đổi ngoại tệ và trao đổi yếu
tố văn hoá, lịch sử. “Du lịch quốc tế là việc những du khách đi từ quốc gia
này đến quốc gia khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị
tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với nơi mình đang sinh sống”.
Còn theo Luật du lịch Việt Nam thì du lịch quốc tế đƣợc định nghĩa
đơn giản là hoạt động du lịch liên quan đến người nước ngoài đi du lịch đến
quốc gia nhận khách. Trong đó, du lịch nƣớc ngoài là hoạt động du lịch liên
quan đến ngƣời thƣờng trú ở quốc gia gửi khách đi du lịch đến quốc gia khác.
Du lịch quốc tế đồng thời cũng mở rộng phạm vi của định nghĩa du lịch
bởi loại hình du lịch khác với du lịch quốc tế là du lịch nội địa. Du lịch nội địa
là việc du khách chuyển từ vùng này sang vùng khác của một quốc gia, không
mang lại những giá trị trao đổi những yếu tố văn hoá lịch sử các vùng miền
trên thế giới, trao đổi ngoại tệ cũng nhƣ làm phát sinh nhiều loại hình. Còn du
lịch quốc tế là hình thức du lịch chỉ dành riêng cho du khách nƣớc ngoài.
Nói nhƣ vậy để thấy rằng, du lịch hiện nay đƣợc coi là một ngành kinh
doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt. Nó góp phần nâng cao hiểu biết
về thiên nhiên, đất nƣớc, về truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, thắt chặt
hơn sự gắn bó, hữu nghị giữa các quốc gia, là lĩnh vực kinh doanh đem lại
hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ,
đem lại nguồn thu ngoại tệ đang kể cho nền kinh tế quốc dân.
1.3. Khách du lịch
Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện lần đầu tiên vào cuối thế kỷ thú
XVIII tại Pháp. Thời ấy, khách du lịch đƣợc hiểu là những ngƣời thực hiện cuộc hành trình lớn (cuộc hành trình lớn là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung
Hải, xuống phía Tây Nam nƣớc Pháp và vùng Bourone).
ngƣời ở biên giới sang làm việc; những ngƣời đi qua một nƣớc mà không
dừng lại mặc dù cuộc hành trình đi qua nƣớc đó có thể kéo dài 24h.
Theo định nghĩa của Luật du lịch Việt Nam : “Khách du lịch là những
người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc
hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch lại bao gồm khách du
lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.
“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư
trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
1.4. Sản phẩm du lịch và đặc điểm của sản phẩm du lịch
1.4.1. Định nghĩa sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch quốc tế là các dịch vụ , hàng hoá cung cấp cho du
khách quốc tế, đƣợc tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự
nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao
động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó[3].
1.4.2. Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch:
Qua khái niệm trên ta có thể thấy sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố
vô hình và hữu hình. Yếu tố hữu hình là hàng hóa, yếu tố vô hình là dịch vụ.
Xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến hành trình
du lịch thì ta có thể tổng hợp các thành phần của sản phẩm du lịch theo những
nhóm cơ bản sau: Dịch vụ vận chuyển
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Dịch vụ tham quan, giải trí
Hàng hoá tiêu dùng và hàng lưu niệm
Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch
tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày (đối với sản phẩm ở bộ
phận nhà hàng), trong tuần (đối với sản phẩm của thể loại du lịch cuối tuần),
trong năm (đối với sản phẩm một số loại hình du lịch nhƣ du lịch biển, du lịch
nghỉ núi…).
Vì vậy, hoạt động kinh doanh du lịch mang tính chất mùa vụ. Sự dao
động (về thời gian) trong tiêu dùng du lịch gây khó khăn cho việc tổ chức
hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh của các nhà
kinh doanh du lịch. Khắc phục tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch luôn là
vấn đề bức xúc cả về mặt thực tiễn, cũng nhƣ về mặt lý luận trong lĩnh vực du
lịch.
2. Các lĩnh vực kinh doanh trong hoạt động du lịch quốc tế
Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau
của khách du lịch quốc tế, đòi hỏi cần phải có các loại hình kinh doanh du lịch
quốc tế tƣơng ứng. Cho đến nay, về phƣơng diện lý thuyết cũng nhƣ thực tế
đƣợc chấp nhận ở nhiều nƣớc trên thế giới và Việt Nam có 4 loại hình du lịch
tiêu biểu sau đây: 2.1. Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business)
Về mặt lý thuyết, khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ hành nói chung
là đề cập đến hoạt động chính nhƣ: làm nhiệm vụ giao dịch, ký kết với các tổ
chức kinh doanh du lịch trong nƣớc và ngoài nƣớc để xây dựng và thực hiện
các chƣơng trình du lịch đã bán cho khách du lịch.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi nói đến hoạt động kinh doanh lữ hành
chúng ta thƣờng thấy song song tồn tại hai hoạt động phổ biến sau:
Kinh doanh lữ hành (Tour Operators Business): Là việc thực hiện các
hoạt động nghiên cứu thị trƣờng, thiết lập các chƣơng trình du lịch trọn gói
hay từng phần; quảng cáo và bán các chƣơng trình trực tiếp hay gián tiếp qua
các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chƣơng trình và
hƣớng dẫn du lịch.
VI mục 4 điều 61, lĩnh vực kinh doanh này đƣợc quy định là “kinh doanh cơ
sở lƣu trú du lịch”. Trên thực tế chúng ta có thể bắt gặp các khái niệm “kinh
doanh khách sạn, nhà hàng” hoặc “kinh doanh khách sạn”, “kinh doanh nhà
hàng”…
Nói tóm lại, nói đến hoạt động “kinh doanh khách sạn” là nói đến các
hoạt động kinh doanh lƣu trú cho khách du lịch, kinh doanh các dịch vụ ăn
uống và bán hàng lƣu niệm cho các du khách.
2.3. Kinh doanh vận chuyển khách du lịch (Transportation)
Đặc trƣng nổi bật của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con ngƣời
từ nơi này đến nơi khác ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ. Do vậy, khi đề
cập đến hoạt động du lịch nói chung, đến hoạt động kinh doanh du lịch nói
riêng không thể không nói đến hoạt động kinh doanh vận chuyển. Kinh doanh vận chuyển là hoạt động kinh doanh, nhằm giúp cho du
khách dịch chuyển đƣợc từ nơi cƣ trú của mình đến điểm du lịch cũng nhƣ di
chuyển tại điểm du lịch.
Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có nhiều phƣơng tiện vận
chuyển khác nhau nhƣ ô tô, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay. Thực tế, rất ít doanh
nghiệp du lịch có thể đảm nhiệm toàn bộ việc vận chuyển khách du lịch từ nơi
cƣ trú của họ đến điểm du lịch và tại điểm du lịch. Do đó, khách du lịch sử
dụng kết hợp dịch vụ vận chuyển của các phƣơng tiện giao thông đại chúng
và của các công ty chuyên kinh doanh dịch vụ vận chuyển.
2.4. Kinh doanh các dịch vụ du lịch khác (Other Tourism Business)
Ngoài các hoạt động kinh doanh lữ hành nhƣ đã nêu trên, trong lĩnh
vực kinh doanh du lịch còn có một số hoạt động kinh doanh bổ trợ, nhƣ kinh
doanh các loại hình dịch vụ vui chơi, giải trí; tuyên truyền, quảng cáo du lịch;
tƣ vấn đầu tƣ du lịch, v.v…
Cùng với xu hƣớng phát triển ngày càng đa dạng những nhu cầu của
khách du lịch, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự gia tăng mạnh của các
Hội đồng Lữ hành và Du lịch quốc tế (World Travel and Tourism
Council – WTTC) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế
giới, vƣợt trên cả ngành sản xuất ô tô, thép, điện tử và nông nghiệp. Đối với
một số quốc gia, du lịch là ngành thu ngoại tệ lớn nhất trong ngoại thƣơng.
Tại nhiều quốc gia khác, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu.
Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc
gia trên thế giới. Du lịch ngày nay đã trở thành một đề tài hấp dẫn và vấn đề mang tính chất toàn cầu. Nhiều nƣớc đã lấy chỉ tiêu đi du lịch của dân cƣ là
một chỉ tiêu để đánh giá chất lƣợng của cuộc sống.
Theo báo cáo của Tổ chức du lịch thế giới WTO ƣớc tính đóng góp của
ngành du lịch vào nền kinh tế thế giới năm 2010 nhƣ sau:
Bảng 1.1: Đóng góp của ngành du lịch vào kinh tế thế giới năm 2010
Các nội dung đóng góp của ngành du
lịch quốc tế vào nền kinh tế thế giới
Năm 2010 (tỷ USD)
Tiêu dùng cá nhân
4470,0
Chi phí vận chuyển
897,9
Chi tiêu của Chính phủ
542,1
Đầu tƣ
1709,3
Xuất khẩu
2276,5
Tổng sản phẩm quốc nội
8008,4
Nhập khẩu
cho ngƣời dân.
Khuyến khích phát triển và bảo tồn các di sản truyền thống cũng nhƣ
đánh thức các ngành nghề cổ truyền của dân tộc, phục vụ đắc lực cho
quá trình giới thiệu hình ảnh quốc gia đến với bạn bè trên thế giới;
thông qua du lịch nhiều vùng còn khai thác đƣợc nhiều giá trị nhân văn
hấp dẫn còn tiềm ẩn, làm giàu thêm văn hoá của các dân tộc.
Giảm bớt sự khác biệt giữa các quốc gia, là cầu nối văn hoá các quốc
gia trên thế giới. Du lịch bản thân nó ở bất kỳ đâu cũng là những giá trị
đƣợc nhiều ngƣời ghi nhận. Chính vì thế khuyến khích sự hiểu biết lẫn
nhau vì sự phát triển và hoà bình giữa các dân tộc trên thế giới.