Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại công ty bảo hiểm viến đông VASS - Pdf 14



TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA: KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM TẠI
CÔNG TY BẢO HIỂM VIỄN ĐÔNG (VASS)
Họ và tên sinh viên : Lƣu Thị Thu Hƣơng
Lớp : Anh 18
Khóa : 42
Giáo viên hƣớng dẫn : TS.Trịnh Thị Thu Hƣơng
Hà Nội, tháng 11 năm 2007 1

6, Bảo hiểm hỗn hợp ngân hàng 43
7, Bảo hiểm trách nhiệm 44
8, Bảo hiểm con người 44
9, Bảo hiểm xe cơ giới 46
10, Bảo hiểm khác 47
11, Chương trình tái bảo hiểm 47
III, Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của
công ty Bảo hiểm Viễn Đông 49
1, Kết quả đạt được 49
2, Những thuận lợi và hạn chế 57
CHƢƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM 65
I, Định hƣớng và chiến lƣợc phát triển của Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Viễn Đông 65
1, Định hướng phát triển Công ty 65
2, Chiến lược phát triển trung và dài hạn 65
3, Chiến lược phát triển ngắn hạn 67
II, Giải pháp đối với Công ty 69
1, Vấn đề hiệu quả kinh doanh bảo hiểm 69
2, Vấn đề nhân sự 77
3, Vấn đề phòng ngừa rủi ro, tái bảo hiểm, đầu tư tài chính 79
III, Một số kiến nghị 81
1, Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước 81
2, Tăng cường vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam 83
3, Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 3


4
LỜI MỞ ĐẦU

1, Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những những bước
tiến mạnh mẽ. Chúng ta là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
nhất khu vực châu Á, trung bình 8%/năm. Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) không ngừng tăng, nhất là từ sau khi trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức thương mại thế giới WTO vào tháng 1 năm 2007, trong 6 tháng đầu năm đã
thu hút được 6,4 tỷ USD - bằng 82% số vốn đăng ký trong cả năm 2006. Kim
ngạch xuất nhập khẩu cũng tăng lên đáng kể. Đời sống của người dân ngày càng
được cải thiện, bình quân GDP/đầu người năm 2006 là 725,3 USD và dự kiến sẽ
nâng lên mức 1000 – 1100 USD/người vào năm 2010. Có thể nói, đây là những
điều kiện hết sức thuận lợi để thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển.
Với những tiền đề thuận lợi như vậy, chắc chắn nhu cầu bảo hiểm sẽ gia
tăng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ có cơ hội mở rộng thị
trường. Bên cạnh đó, việc có thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham
gia vào thị trường và sự hạn chế những ưu đãi, hỗ trợ từ phía Nhà nước cũng tạo
động lực cạnh tranh để các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản lý,
cải tiến chất lượng phục vụ, giảm chi phí hoạt động, phát triển nguồn nhân lực, tự
tìm ra cho mình chiến lược kinh doanh dài hạn giúp đứng vững trên thị trường và
nắm bắt các cơ hội to lớn phía trước. Đời sống nhân dân được cải thiện cũng dẫn
đến sự nhận thức một cách sâu sắc và quan tâm nhiều hơn đến việc tích luỹ, phòng

liệu, việc tìm hiểu trực tiếp từ Công ty Bảo hiểm Viễn Đông và vận dụng các quan
điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước đối để nhằm
làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.

5, Những đóng góp của khoá luận
Khoá luận cung cấp hệ thống lý luận chung về bảo hiểm, phân tích tình hình
thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm trở lại đây, đưa ra các đánh giá cụ
thể về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Viễn Đông.
6
6, Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm 3 chương:
- Chƣơng I: Khái quát chung về bảo hiểm và thị trƣờng bảo hiểm Việt
Nam
- Chƣơng II: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của
Công ty Bảo hiểm Viễn Đông
- Chƣơng III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh bảo hiểm

Sau cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo TS.Trịnh Thị Thu
Hương đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khoá luận này. Ngoài ra, em cũng
xin cảm ơn Công ty Bảo hiểm Viễn Đông (VASS) đã giúp đỡ trong quá trình thu
thập tài liệu.
thành quĩ dự trữ. Khi người tham gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm
lấy quĩ dự trữ trợ cấp hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người
tham gia.
Trong định nghĩa này, có một số khái niệm:
- Người bảo hiểm (The Insurer, Underwriter): là người nhận trách nhiệm về
rủi ro, được hưởng phí bảo hiểm và phải bồi thường khi có tổn thất xảy ra.
Người bảo hiểm có thể là công ty của nhà nước hay của tư nhân.
- Người tham gia bảo hiểm (The Insured): là người có lợi ích bảo hiểm
(insurable interest), là người bị thiệt hại khi rủi ro xảy ra và được người bảo
hiểm bồi thường. Người tham gia bảo hiểm là người có tên trong hợp đồng
bảo hiểm và là người phải nộp phí bảo hiểm. 8
- Rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm (Risk insured against): là rủi ro đã thoả thuận
trong hợp đồng. Người bảo hiểm chỉ bồi thường những thiệt hại do những
rủi ro đã thoả thuận gây ra.
- Phí bảo hiểm (Premium): là một khoản tiền nhỏ mà người tham gia bảo
hiểm phải nộp cho người bảo hiểm để được bồi thường. Mức phí bảo hiểm
thường do người bảo hiểm định ra trên cơ sở tính toán xác suất xảy ra rủi ro
hoặc trên cơ sở thống kê tổn thất nhằm đảm bảo số phí thu về đủ để bồi
thường và bù đắp các chi phí khác đồng thời có lãi. Số thu về phí bảo hiểm
trong khi chưa bồi thường là một nguồn vốn quan trọng để công ty bảo hiểm
đầu tư sang những lĩnh vực kinh doanh khác.
1.2, Bản chất của bảo hiểm
Mục đích chủ yếu của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham
gia, từ đó khôi phục và phát triển sản xuất, đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thực chất của hoạt động bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm
trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh

 Bảo hiểm góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cuộc sống con người an
toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp. Khi đã tham gia bảo hiểm, cơ quan hoặc công ty bảo hiểm sẽ cùng với
người tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro. Các
công ty bảo hiểm đóng góp tài chính một cách tích cực để thực hiện các biện
pháp hạn chế rủi ro như tuyên truyền, hướng dẫn những biện pháp phòng tránh
tai nạn, mua sắm thêm các dụng cụ phòng cháy chữa cháy, kết hợp với ngành
giao thông làm các biển báo, đường lánh nạn…
 Bảo hiểm góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách Nhà nước: Với quĩ bảo hiểm
do các thành viên tham gia đóng góp, cơ quan, công ty bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc
bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia để họ khôi
phục đời sống, sản xuất kinh doanh. Như vậy, ngân sách Nhà nước không phải
chi ra để trợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi ro, trừ trường 10
hợp tổn thất có tính thảm hoạ, mang tính xã hội rộng lớn. Mặt khác, hoạt động
bảo hiểm nhất là bảo hiểm thương mại có trách nhiệm đóng góp vào ngân sách
Nhà nước thông qua các loại thuế, đồng nghĩa với việc tăng doanh thu cho ngân
sách.
 Bảo hiểm còn là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội. Dưới hình thức phí bảo hiểm, ngành bảo hiểm đã huy động được một số
lượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia. Số vốn đó ngoài việc chi trả trợ
cấp hay bồi thường thiệt hại còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội. Đặc biệt đối với bảo hiểm nhân thọ, nguồn vốn huy động được tích luỹ
trong thời gian dài rồi mới sử dụng để chi trả. Do đó, các công ty bảo hiểm có
thể sử dụng để kinh doanh bất động sản, mua trái phiếu… nghĩa là đầu tư vào
hoạt động kinh tế để sinh lời. Như vậy góp phần tăng nguồn vốn cho nền kinh
tế, làm cho hệ thống tài chính sôi động hơn.
 Bảo hiểm còn góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông

- Bảo hiểm thất nghiệp
- Bảo hiểm y tế…
b, Bảo hiểm thương mại (Commercial Insurance)
 Khái niệm: là loại hình bảo hiểm mang tính chất kinh doanh, kiếm lời. Hoạt
động của bảo hiểm thương mại chịu sự chi phối của pháp luật, nhất là luật kinh
doanh bảo hiểm, các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế. Bảo hiểm thương
mại không chỉ xâm nhập vào mọi hoạt động kinh tế - xã hội khắp đất nước liên
quan đến tài sản, trách nhiệm dân sự và con người mà còn phát triển, mở rộng
ra thị trường thế giới thông qua hoạt động phân tán rủi ro. Ngày nay, bảo hiểm
thương mại trở thành một dịch vụ tài chính rất phát triển trong nền kinh tế thị
trường và có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân.
 Phân loại:
- Theo hình thức tham gia: 12
+ Bảo hiểm tự nguyện
+ Bảo hiểm bắt buộc (bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo
hiểm trách nhiệm của chủ đối với người lao động…)
- Theo kỹ thuật bảo hiểm:
+ Bảo hiểm theo kỹ thuật phân chia: là các bảo hiểm có thời hạn ngắn
(thường là một năm), đảm bảo cho các rủi ro có tính chất tương đối ổn
định và độc lập với tuổi thọ con người. Vì vậy, bảo hiểm theo kỹ thuật
phân chia cũng chính là bảo hiểm phi nhân thọ.
+ Bảo hiểm theo kỹ thuật tổn tích có đặc trưng là thời hạn dài, quĩ dự
phòng được tích tụ qua nhiều năm mới được sử dụng để chi trả. Nó đảm
bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi rõ rệt theo thời gian, đối tượng và
thường gắn liền với tuổi thọ con người. Bảo hiểm nhân thọ thuộc loại bảo
hiểm có kỹ thuật tổn tích.
- Theo đối tượng bảo hiểm:

- Bảo hiểm xây dựng và lắp đặt
- Bảo hiểm dầu khí
- Bảo hiểm xe cơ giới
- Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người giao nhận
- Bảo hiểm trách nhiệm chung và trách nhiệm sản phẩm
- Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
- Bảo hiểm nông nghiệp
- Bảo hiểm du lịch
- Bảo hiểm bồi thường cho người lao động…
3.3, Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
a, Bảo hiểm tài sản: Đối tượng bảo hiểm là tài sản (cố định hay lưu động) của tập
thể hoặc cá nhân, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá… Khi tham gia bảo 14
hiểm có thể xác định được ngay giá trị của đối tượng bảo hiểm. Thiệt hại được bồi
thường trong loại hình bảo hiểm này được căn cứ vào mức độ tổn thất của tài sản
và vì vậy nó mang tính vật chất.
b, Bảo hiểm trách nhiệm: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự của người
được bảo hiểm đối với người thứ ba hay đối với sản phẩm… Khi tham gia bảo
hiểm, ta không thể xác định được giá trị bảo hiểm mà chỉ đưa ra hạn mức trách
nhiệm tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai bên được xác định trên hợp đồng bảo hiểm.
c, Bảo hiểm con người: Đối tượng bảo hiểm là con người, các bộ phận của cơ thể
con người hoặc các vấn đề có liên quan như tuổi thọ, tính mạng, tình trạng sức
khoẻ hoặc các sự kiện liên quan và có ảnh hưởng đến cuộc sống của con người.
Loại hình bảo hiểm này cũng không thể xác định được giá trị bảo hiểm, chỉ có thể
căn cứ vào các thoả thuận và các hạn mức trách nhiệm.
3.4, Căn cứ vào tính chất của bảo hiểm
a, Bảo hiểm bắt buộc
 Khái niệm: là những loại hình bảo hiểm mang tính chất bắt buộc đối với đối

1, Tình hình thị trƣờng bảo hiểm trong những năm qua
Trong giai đoạn 2004 - 2006, nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng
mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP trung bình là 8,1%/năm. Đặc biệt, năm 2005
chứng kiến mức tăng kỷ lục 8,43% - cao nhất trong vòng 8 năm trở lại đây. Cơ cấu
GDP cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng dần,
nông nghiệp giảm tương ứng. Đến năm 2006, tỉ trọng công nghiệp trong GDP là
41,5%, nông nghiệp là 38,1% và còn lại 20,4% cho dịch vụ. Vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) từ con số 4,2 tỷ USD năm 2004 đã đạt 7,8 tỷ USD năm 2006,
tăng trung bình 36,9%/năm.Thu nhập bình quân đầu người cũng cải thiện dần qua
các năm: 555 USD/người năm 2004, 637 USD/người năm 2005 và 725,3
USD/người năm 2006. 16
Hình 1.1, Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2004 - tháng 6/2007
7.2%
7.4%
7.6%
7.8%
8.0%
8.2%
8.4%
8.6%
Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 T6/2007

(Nguồn: Vietnam Economic Times – August 2007)

Kim ngạch xuất khẩu năm 2006 dẫn đầu trong cả giai đoạn với 39,6 tỉ USD. Sáu
tháng đầu năm 2007 đánh dấu những bước phát triển quan trọng của nền kinh tế
sau khi gia nhập WTO với tốc độ tăng trưởng 7,87%. Việt Nam thu hút được 717

1 2004 4.790 23,2% 7.710 19,7% 12.500 21%
2 2005 5.678 18,5% 8.130 5,4% 13.808 10,5%
3 2006 6.360 12% 8.500 4,6% 14.860 7,6%
4 Tháng 6/2007 4.036 33% 4.426 25,8% 8.462 29,1%
Bảo hiểm
phi nhân thọ
Bảo hiểm
nhân thọ
Tổng cộng
TT
Năm
Đơn vị: tỷ đồng
(Nguồn: Bản tin Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)

Khởi đầu là năm 2004 với 12.500 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm. Một số
điểm đáng chú ý là với việc thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ về hướng dẫn
thi hành Luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp đều bổ sung thêm vốn chủ
sở hữu làm tăng tổng số vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm
lên hơn 6.500 tỷ đồng. Một số công ty bảo hiểm nhà nước tiến hành cổ phần hoá
thành công như Bảo Minh, công ty tái bảo hiểm Vinare. Các doanh nghiệp từng
bước nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ, tung ra nhiều sản phẩm
mới, chú trọng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực để chuẩn bị cho lộ trình
mở cửa hội nhập của Việt Nam. Tuy nhiên, có một số nhân tố khách quan khiến
mức độ tăng trưởng của năm này thấp, đó là chỉ số giá tiêu dùng tăng tới 9,5%, sự
cạnh tranh của hệ thống các ngân hàng thương mại với mức lãi suất huy động tiền
gửi tiết kiệm cao hơn năm trước.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ tăng trưởng 19,7% với 6,5 triệu hợp đồng bảo
hiểm có hiệu lực và 1,8 triệu hợp đồng khai thác mới trong kỳ. Công ty bảo hiểm
Prudential đứng đầu thị trường, tiếp đó là Bảo Việt Nhân thọ. Đối với thị trường
bảo hiểm phi nhân thọ, tổng doanh thu là 4.790 tỷ đồng, tăng 23,2% so với năm

19

Hình 1.3. Biểu đồ tỷ lệ doanh thu theo loại hình bảo hiểm – năm 2005
BH xe cơ giới
BH con người
BH thân tàu P&I
BH cháy nổ và mọi rủi
ro tài sản
BH hàng hoá vận
chuyển
BH xây dựng lắp đặt
BH khác

(Nguồn: Bản tin Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam năm 2005)

Đáng chú ý là năm 2006 có mức tăng trưởng giảm đáng kể, chỉ còn bằng
72,3% năm 2005 và 36% năm 2004. Thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra, thị trường
chứng khoán Việt Nam phát triển quá nóng, giá vàng và đô la Mỹ liên tục biến
đồng và những đợt tăng lãi suất tiền gửi ngân hàng là một số nguyên nhân chính
dẫn tới tình trạng này. Doanh thu toàn thị trường là 14.860 tỷ đồng, ngành đã đóng
góp trên 1.000 tỷ đồng vào ngân sách Nhà nước và đầu tư trên 35.000 tỷ đồng cho
nền kinh tế.
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn được thống lĩnh bởi 3 công ty bảo
hiểm Bảo Việt, Bảo Minh, PVI như năm trước. Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt
6.360 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2005. Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn
đứng vị trí hàng đầu về doanh thu với 1.711 tỷ đồng, tăng 6,9% và chiếm 26,9%
doanh thu. Thị trường bảo hiểm nhân thọ vẫn giữ nguyên mức tăng trưởng 4,6%

tốc độ tăng trưởng 27,3% vẫn giữ vị trí số 1 về doanh thu. Bảo hiểm cháy nổ và rủi
ro tài sản vươn lên vị trí thứ hai với mức tăng trưởng 42% nhờ quyết định
28/2007/QĐ-BTC về qui tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc. Hiệp hội Bảo
hiểm phát huy chức năng làm cầu nối giữa các doanh nghiệp trong ngành với cơ
quan quản lý Nhà nước, trong đó bao gồm việc thông qua kiến nghị tăng hoa hồng
đại lý bảo hiểm cho một số nghiệp vụ bán lẻ. Do sự cạnh tranh từ phía thị trường
chứng khoán và các ngân hàng thương mại giảm và nỗ lực của chính các doanh
nghiệp, thị trường bảo hiểm nhân thọ đã tăng trưởng trở lại với 4.426 tỷ đồng
doanh thu, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tóm lại, từ năm 2004 trở lại đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những
tiến bộ đáng kể, dần bước vào giai đoạn phát triển bền vững nhưng vẫn tiếp tục sôi
động với nhiều hình thức sở hữu đa dạng, đón chờ sự hội nhập. Trước hết là hệ
thống pháp luật ngày càng hoàn thiện với sự ra đời của hàng loạt bộ luật, nghị
định, quyết định… Cùng với đà hội nhập khu vực và thế giới và lộ trình thực hiện 21
các cam kết gia nhập WTO, thị trường bảo hiểm cũng đón nhận sự gia nhập của
hàng loạt các công ty bảo hiểm nước ngoài. Đây là động lực để các doanh nghiệp
trong nước không ngừng cố gắng để giữ vững thị phần và nâng cao tính cạnh tranh.
Cổ phần hoá, tăng vốn chủ sở hữu tăng cường khả năng tài chính, niêm yết
trên thị trường chứng khoán để thu hút vốn đầu tư nhàn rỗi từ dân chúng và thành
lập các tập đoàn tài chính là những động thái đầu tiên trong một loạt các nỗ lực để
theo kịp với quá trình hội nhập. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã
chú trọng việc đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin nhằm phục vụ cho quá
trình quản lý, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, xây dựng và củng cố thương hiệu,
nâng cao uy tín để tăng tính cạnh tranh.
2, Tổng quan một số nghiệp vụ của thị trƣờng
2.1, Bảo hiểm hàng hải
a, Khái niệm và phân loại

2.2, Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt là bảo hiểm cho những thiệt hại do
cháy và các rủi ro tương tự hay các rủi ro đặc biệt như: động đất, bão lụt, núi lửa,
sét đánh… gây ra cho đối tượng bảo hiểm.
Có thể nói năm 2004 là năm bảo hiểm hoả hoạn và các rủi ro đặc biệt đạt
mức tăng trưởng kỷ lục 87,7% với mức doanh thu 412 tỷ đồng. Bảo Minh dẫn đầu
với 149,5 tỷ. Trong năm này, các doanh nghiệp đã đóng góp 150 triệu đồng để
phục vụ cho quá trình khảo sát, dự thảo, góp ý kiến xây dựng nghị định của Chính
phủ về Bảo hiểm bắt buộc cháy nổ, qui tắc biểu phí bảo hiểm. Tuy nhiên, qui trình
này diễn ra khá chậm và cho đến năm 2007, quyết định 28/2007/QĐ-BTC mới ra
đời nhằm công khai, minh bạch hoá các đối tượng có nguy cơ về cháy nổ.
Năm 2005, nghiệp vụ bảo hiểm này đứng thứ tư trong số các sản phẩm bảo
hiểm phi nhân thọ với doanh thu 472 tỉ đồng, tăng 13,7% so với năm trước. Bảo
Minh vẫn tiếp tục dẫn đầu với doanh thu 139,7 tỉ đồng. Nhìn chung giá trị tài sản 23
được bảo hiểm tăng 1,5 lần nhưng phí bản hiểm chưa tăng tương xứng do có sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bằng cách hạ mức phí bảo hiểm.
Mức tăng trưởng doanh thu năm 2006 đã giảm xuống chỉ dừng ở mức
10,6%. Số tiền bồi thường chiếm 27,6%, trong đó Bảo Việt có tỷ lệ bồi thường là
47%, cao nhất trong các doanh nghiệp. Dự báo trong 6 tháng cuối năm 2007, loại
hình bảo hiểm này sẽ tăng mạnh sau khi quyết định 28/2007/QĐ-BTC được ban
hành.
2.3, Bảo hiểm kỹ thuật
Bảo hiểm kỹ thuật bao gồm: Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng, bảo hiểm rủi ro
lắp đặt, bảo hiểm thiết bị điện tử, bảo hiểm máy móc, bảo hiểm thiết bị chủ thầu,
bảo hiểm gián đoạn kinh doanh kỹ thuật…
Sau năm 2003 với tốc độ tăng trưởng 25-30% do mức đầu tư cho các công
trình giao thông và điện lực tăng gấp đôi, năm 2004 bảo hiểm kỹ thuật tăng nhẹ về

có dấu hiệu chững lại, bảy doanh nghiệp là Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo hiểm
Petrolimex (PJICO), Bảo hiểm dầu khí (PVI), Bảo Long, Bảo hiểm Viễn Đông đã
đóng góp gần 3 tỉ đồng cho các công trình, các sự kiện, hoạt động tuyên truyền về
an toàn giao thông, thống nhất giấy chứng nhận bảo hiểm. Nhờ đó, diện mạo của
bảo hiểm xe cơ giới đã từng bước thay đổi và doanh thu cũng đã tăng lên đáng kể.
Năm 2004 đạt doanh thu 1.356 tỉ đồng, tăng 39,8% so với năm 2003. Các doanh
nghiệp bảo hiểm còn từng bước cải tiến khâu giải quyết bồi thường, tổ chức trạm
cứu hộ giao thông, góp phần làm yên tâm những người tham gia bảo hiểm.
Năm 2005, riêng doanh thu từ bảo hiểm xe cơ giới chiếm gần 30% doanh
thu toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, đạt 1.603 tỉ đồng, tăng 18% so với năm
2004. Dẫn đầu thị trường là Bảo Việt với 676 tỉ đồng. Công ty Bảo hiểm Viễn
Đông tuy chỉ mới hoạt động nhưng đã đạt doanh thu 50,3 tỉ đồng, chiếm 55% tổng
doanh thu của công ty. Tuy vậy, số lượng xe ô tô tham gia bảo hiểm bắt buộc trách
nhiệm dân sự mới chỉ dừng lại ở 600.000 trên tổng số 800.000 xe, số lượng xe mô
tô là 5 triệu xe trên tổng số 15 triệu xe. Có thể nói, thị trường bảo hiểm xe cơ giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status