TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƢƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
Các giải pháp đối với việc lựa chọn
thị trường mục tiêu cho
công ty may liên doanh kyung - việt
2.2. Tiêu thức đánh giá tiềm năng của thị trường mục tiêu 11
2.2.1. Ước lượng tổng mức nhu cầu thị trường 13
2.2.2. Ước lượng số lượng khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp 13
2.3.Trình tự tiến hành hoạt động lựa chọn thị trường mục tiêu 13
2.3.1.Nghiên cứu thị trường 14
2.3.2. Dự báo nhu cầu của thị trường 17
2.3.3.Phân đoạn thị trường 18
2.3.4. Lựa chọn thị trường mục tiêu 20
Lựa chọn đoạn thị trường 21
Các phương án chiếm lĩnh 22
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn 25
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-
K42B c
Định vị sản phẩm của doanh nghiệp 26
Chƣơng II Thực trạng lựa chọn thị trƣờng mục tiêu của công ty may liên
doanh Kuyng-Việt trong giai đoạn 2003-2007 30
I. Thị trƣờng may mặcViệt Nam và đặc điểm của các doanh nghiệp thuộc
ngành hàng sản xuất dệt kim trên thị trƣờng 30
1.1. Thị trường may mặc Việt Nam nói chung 30
1.1.1. Đặc điểm thị trường may mặc Việt Nam 30
1.1.2. Đặc điểm của các doanh nghiệp thuộc ngành hàng sản xuất dệt kim trên
thị trường. 34
1.2.Khái quát chung về công ty may liên doanh Kuyng-Viet 35
1.2.1.Quá trình hình thành và phát triển 35
1.2.2.Chức năng, nhiệm vụ và chính sách hoạt động 38
1.2.3.Cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý 39
1.2.4.Các nguồn lực nội tại 42
II. Các giải pháp cơ bản hoàn thiện việc lựa chọn thị trƣờng mục tiêu đối
với công ty may liên doanh Kuyng-Viet 71
2.1. Hoàn thiện hoạt động nghiên cứu và phân đoạn thị trường 71
2.2. Phân đoạn thị trường mục tiêu 81
2.2.1 . Phân tích SWOT của công ty 81
2.2.2. Đánh giá các đoạn thị trường 82
2.2.3. Lựa chọn thị trường trọng điểm 84
2.3. Hoàn thiện giải pháp định vị của doanh nghiệp trên đoạn thị trường
mục tiêu 85
2.3.1. Định vị cạnh tranh 86
2.3.2. Định vị chất lượng/giá cả 88
2.4. Giải pháp Marketing-Mix trên đoạn thị trường mục tiêu 89
2.4.1. Sản phẩm 90
2.4.2. Giá 92
2.4.3. Phân phối 93
2.4.4. Xúc tiến thương mại 94
2.5. Một số các giải pháp cụ thể khác 94
Kết luận 96
Tài liệu tham khảo 98
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-
K42B e
Mục lục Bảng biểu
Bảng 2.1. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2000-2007 32
Bảng 2.2. Một số loại máy móc và thiết bị may của công ty may Liên doanh
Kyung-Việt 42
Bảng 2.3: Một số loại máy móc và thiết bị cắt của công ty may Liên doanh
tại sao, khi nhận thức được vai trò thiết yếu của Marketing, các doanh nghiệp
trong nước đã được và chủ động hỗ trợ hết mức có thể cho các hoạt động
Marketing thiết yếu. Một trong các nội dung Marketing đó phải nói tới hoạt động
lựa chọn thị trường mục tiêu-một động thái khá quan trọng và mang tính chiến
lược cho toàn bộ quy trình Marketing của các doanh nghiệp sau này. Nhưng vấn
để đặt ra là, hiện nay trên xu hướng phát triển toàn diện mà Chính phủ đề ra, các
doanh nghiệp dệt may vẫn gặp một số khó khăn và cảm thấy lúng túng đối với
việc tung sản phẩm của mình ra thị trường, đặc biệt là thị trường trong nước với
số dân hơn 80 triệu người, ẩn chứa nhiều phân đoạn thị trường mục tiêu đa dạng.
Một trong những doanh nghiệp đó là doanh nghiệp may liên doanh Kyung-Viet.
Trong khuôn khổ những kiến thức đã được học và tiếp thu em xin mạnh dạn thử
sức mình với một đề tài tuy không mới nhưng có lẽ vẫn còn vẫn phải bàn nhiều
trong giới sinh viên nói riêng và doanh nghiệp nói chung: “Các giải pháp đối
với việc lựa chọn thị trƣờng mục tiêu cho công ty may liên doanh Kyung-
Viet”.
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 2
Mục tiêu nghiên cứu đề tài:
Hệ thống cơ sở lý thuyết của hoạt động lựa chọn thị trường mục
tiêu trong doanh nghiệp
Vận dụng các kiến thức Marketing để phân tích, đánh giá thực
trạng triển khai hoạt động lựa chọn thị trường mục tiêu của công ty
may liên doanh Kyung-Viet
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động lựa chọn thị trường
mục tiêu của công ty may liên doanh Kyung-viet.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là lựa chọn thị trường mục tiêu ở công ty
may liên doanh Kyung-Viet.
khóa luận tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên: Nguyễn Phương Thanh
Lớp: A7-K42B
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 4
CHƢƠNG I
Lý luận chung về lựa chọn thị trƣờng mục tiêu của doanh nghiệp
I. Thị trường mục tiêu và vai trò của thị trường mục tiêu trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
1.1. Khái niệm thị trƣờng và thị trƣờng mục tiêu của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm thị trường
Thị trường có vai trò cực kì quan trọng trong phát triển kinh tế của bất kì
quốc gia nào. Thị trường kích thích phát triển kinh tế cả theo chiều rộng lẫn
chiều sâu, tăng cường chuyên môn hóa sản xuất, thúc đấy nâng cao kĩ năng lao
động. Đặc biệt thị trường có sức mạnh điều tiết các nguồn lực tự nhiên và xã hội
theo hướng sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. Đó là những nhận định và kết luận đã
được các nhà kinh tế học đúc kết hàng trăm năm và không thể phủ nhận được
tính đúng đắn của nó. Tuy nhiên để xem xét lại một cách có hệ thống về khái
niệm thị trường cũng như những chức năng và nhiệm vụ cần thiết, thì những
khái niệm sau vẫn tỏ ra khá quý giá.
Theo góc độ tiếp cận kinh tế học cổ điển, thị trường là nơi diễn ra các quá
trình trao đổi mua –bán, là tổng số, cơ cấu cung - cầu và điều kiện diễn ra tương
tác cung cầu thông qua mua bán và tiền tệ.
Cho đến nay, thị trường vẫn còn trong quá trình vận động và phát triển, do
mang tính tiên đề của các nhà kinh tế học lỗi lạc là tất yếu. Bởi đó là những khái
niệm sơ khai, có tính đúng đắn rất cao, và kinh tế học là một quá trình phát triển
có tính chất truyền thống và kế thừa.
Theo Mc.Carthy thì thị trường có thể được hiểu là các nhóm khách hàng
tiềm năng với những nhu cầu tương tự (giống nhau) và những người bán đưa ra
các sản phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đó.
Theo Philip Kotler, với một người làm Marketing, thị trường là tập hợp
những người hiện đang mua và những người sẽ mua một sản phẩm nhất định.
Trong kinh doanh, ngoài thuộc tính bản chất kinh tế trừu tượng trên, thị
trường đã được xác định vừa là nguyên nhân, vừa là động thái và điều kiện để
công ty tồn tại và phát triển kinh doanh. Nếu như trên góc độ thị trường xã hội,
thị trường vừa là một tập hợp bộ phận của môi trường kinh doanh tổng thể, vừa
bao gồm những kết cấu đồng bộ chủ thể, khách thể, nhân tử giao tiếp cung cầu,
đối tượng, thời gian, địa điểm….Mặt khác trên góc độ thị trường của công ty,
điểm nhấn mạnh trên thị trường lại là yếu tố hạt nhân: tập khách hàng tiềm năng
và nhu cầu có sức mạnh của họ. Vì vậy có thể tổng hợp hai khái niệm thị trường
mà doanh nghiệp có thể phân định được.
(2)
: Đại từ điển Tiếng Việt-H:Văn hóa thông tin 1999
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 6
1.1.2. Thị trường mục tiêu của doanh nghiệp
Theo Mc.Carthy, thị trường có thể được hiểu là các nhóm khách hàng
tiềm năng với những nhu cầu tương tự và những người bán đưa ra các sản phẩm
khác nhau với các tiêu thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đó. Mục tiêu của
công tác xác định thị trường doanh nghiệp nên được xác định là tìm kiếm, lựa
Kotler đã đúc kết lại một khái niệm:
Thị trường mục tiêu là một phần của thị trường hiện có và đủ điều kiện
mà một doanh nghiệp quyết định theo đuổi. Thị trường mục tiêu cũng là phần thị
trường mà trong đó đang hoặc sẽ diễn ra các quá trình kinh doanh và doanh
nghiệp có dự án khai thác trong thời gian trước mắt.
Đó chính là những nhận định của các chuyên gia kinh tế, để đưa ra cho
sinh viên một cách nhìn cặn kẽ và dễ hiểu nhất, tập thể các giáo viên trường đại
học Ngoại Thương đã xem xét thị trường mục tiêu như sau:
“Thị trường mục tiêu là thị trường mà công ty lựa chọn và hướng tới để
cung cấp những hàng hóa, dịch vụ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh của
mình, đó là thị trường thích hợp nhất đối với tiềm năng của công ty và hy vọng
sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao”
(3)
.
Tóm lại, thị trường mục tiêu của doanh nghiệp có thể hiểu đơn giản là tập
khách hàng với nhu cầu đồng nhất về sản phẩm mà doanh nghiệp muốn chinh
phục.
1.2. Vai trò của việc xác định thị trƣờng mục tiêu trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
Lựa chọn thị trường mục tiêu có thể được coi là động thái tạo tiền đề đầu
tiên cho việc thực hiện các hoạt động Marketing khác và có quyết định đối với
sự thành bại của doanh nghiệp trên thị trường. Lý luận này đã được chứng minh
bằng thực tiễn và cụ thể hơn dựa trên chính các doanh nghiệp Việt Nam. Như ta
đã biết, thị trường tổng thể bao gồm một số lượng rất lớn các khách hàng với
những nhu cầu, đặc tính mua và khả năng tài chính khác nhau. Từ đó doanh
nghiệp đã hình thành nên ba tiêu thức lựa chọn thị trường cơ bản nhất, đó là
khách hàng, địa lí và tiêu thức sản phẩm.
(3)
: Giáo trình Marketing lý thuyết-tập thể tác giả trường Đại học Ngoại Thương-NXB Giáo dục-2000-
trang 71
trước kia tỏ ra kém hiệu quả và là một gánh nặng không nhỏ đối với doanh thu
bởi đã dành quá nhiều chi phí để phục vụ một thị trường rộng lớn, cạnh tranh
tràn lan và chống lại các khác biệt hơn hẳn.
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 9
Tóm lại, khi tiến hành hoạt động lựa chọn thị trường mục tiêu, các lợi ích
cơ bản nổi cộm mà doanh nghiệp được hưởng sẽ giúp doanh nghiệp không nhỏ
trong những hoạt động Marketing khác. Trong đó phải kể tới:
Hiểu biết thấu đáo hơn những nhu cầu và mong muốn của khách
hàng.
Sử dụng một cách có hiệu quả nguồn kinh phí của công ty dành cho
hoạt động Marketing.
Nâng cao tính thích ứng và hiệu quả của việc xây dựng chiến lược
kinh doanh và thực hiện chiến lược Marketing của công ty.
Đảm bảo cơ sở khách quan và có căn cứ khi đề xuất các chính sách
Marketing hỗn hợp.
Nâng cao hiệu quả của hoạt động định vị thị trường, đồng thời tạo
ra và sử dụng tốt những ưu thế cạnh tranh của công ty so với các
đối thủ cạnh tranh, nhằm phát triển thị trường.
II. Hoạt động lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp
2.1.Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động lựa chọn thị trƣờng mục tiêu của
doanh nghiệp
2.1.1. Nhóm nhân tố khách quan
a. Chính sách và định hướng thị trường của chính phủ Việt Nam:
Việc xác định thị trường mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp phải xuất
phát từ cơ hội có thể có của thị trường. Mà chính sách và định hướng của chính
phủ Việt Nam có thể mở rộng hoặc thu hẹp các cơ hội kinh doanh của doanh
nghiệp. Sự ổn định của đường lối chính sách phát triển kinh tế xã hội của Chính
chiến lược cạnh tranh khi xem xét vị thế của doanh nghiệp.
Ưu nhược điểm của các đối thủ: Liên quan đến sức mạnh cụ thể của
từng đối hủ trên thị trường mục tiêu: quy mô thị trường mục tiêu, thị
phần kiểm soát, tiềm lực tài chính, kỹ thuật – công nghệ, tổ chức -
quản lý, lợi thế cạnh tranh, uy tín hình ảnh của doanh nghiệp, mức độ
quen thuộc của nhãn hiệu hàng hóa
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 11
Chiến lược cạnh tranh của các đối thủ: Liên quan đế mục tiêu/giải
pháp và cách thức cạnh tranh của từng doanh nghiệp trên thị trường.
Mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược cạnh tranh khác nhau.
Doanh nghiệp dẫn đầu
Doanh nghiệp thách thức
Doanh nghiệp theo sau (núp bóng)
Doanh nghiệp đang tìm chỗ dứng trên thị trường
c.Thu nhập và phân bố thu nhập của người tiêu thụ
Tiềm năng của thị trường phụ thuộc nhiều vào nhu cầu của khách hàng và
khả năng thanh toán của họ. Thu nhập là yếu tố quyết định đến nhu cầu và khả
năng thanh toán. Thu nhập là lượng tiền mà người tiêu dùng có thể sử dụng để
thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, số lượng
tiền (thu nhập) sẽ được trang trải cho các nhu cầu theo những tỷ lệ khác nhau và
mức độ ưu tiên khác nhau. Điều này ảnh hưởng đến sự lựa chọn loại sản phẩm
và chất lượng cần đáp ứng của sản phẩm, hình thành nên khái niệm về chất
lượng sản phẩm theo cách đánh giá cả người tiêu thụ: sản phẩm vừa đủ. Do vậy,
doanh nghiệp có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm thỏa mãn khách hàng theo
mức độ yêu cầu khác nhau về chất lượng, chủng loại (thay thế) và dịch vụ tùy
theo yêu cầu của tập khách hàng trên thị trường mục tiêu.
d.Đặc điểm tiêu thụ, thị hiếu
kinh doanh. Một nguồn tài chính được quản lý tốt sẽ mang lại cho doanh nghiệp
sức cạnh tranh, theo đuổi được thị trường mục tiêu đã chọn.
d.Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ quản lý thể hiện sự hoàn hảo của cấu trúc tổ chức, tính hiệu quả
của hệ thống quản lý và công nghệ quản lý. Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống
với những mối liên kết chặt chẽ với nhau hướng tới mục tiêu. Một doanh nghiệp
muốn đạt được mục tiêu của mình và hoạt động tốt trên thị trường mục tiêu thì
đồng thời phải đạt đến một trình độ tổ chức, quản lý tương ứng. Khả năng tổ
chức, quản lý doanh nghiệp dựa trên quan điểm tổng hợp, bao quát tập trung vào
những mối quan hệ tương tác của tất cả các bộ phận tạo thành tổng thể tạo nên
sức mạnh thật sự cho doanh nghiệp.
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 13
2.2.Tiêu thức đánh giá tiềm năng của thị trƣờng mục tiêu
Để xác định thị trường mục tiêu, ta có thể sử dụng nhiều phương pháp xác
định khác nhau. Mỗi phương pháp đều có những ưu-nhược điểm nhất định và có
khả năng ứng dụng trong những điều kiện nhất định. Hiện nay, các doanh nghiệp
thường sử dụng một số phương pháp sau:
2.2.1. Ước lượng tổng mức nhu cầu thị trường
Trường hợp 1: số lượng khách hàng lý thuyết đối với sản phẩm của doanh
nghiệp đã xác định được, đồng thời nhu cầu trung bình của các nhóm khách hàng
là thuần nhất, ta có công thức:
X=Ñ.Χ
(4)
X: Nhu cầu thị trường của mỗi khách hàng đối với sản phẩm của
doanh nghiệp
Ñ: sô lượng khách hàng lý thuyết của sản phẩm
14
Công thức: N
1
, N
2
, N
3
: tương ứng là số lượng khách hàng hiện tại, khách hàng
không tiêu dùng tương đối, khách hàng của đối thủ cạnh
tranh.
P
1
, P
2
, P
3
: cơ cấu của tập hợp khách hàng tương ứng
N
*
: tổng thể dân cư
2.3.Trình tự tiến hành hoạt động lựa chọn thị trƣờng mục tiêu
Hình1.1: Sơ đồ tiến hành hoạt động lựa chọn thị trường mục tiêu theo thứ tự
*
i=1,3
(6)
: Giáo trình Marketing thương mại-GS.TS Nguyễn Bách Khoa-Đại học Thương Mại-NXB Thống Kê-2005
(6)
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 15
khi vấp phải những trở ngại khó có thể vượt qua trong quá trình triển khai thâm
nhập thị trường.
Điều cơ bản nhất quyết định sự thành công của một sản phẩm là sự chấp
nhận của người mua sản phẩm hoặc sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Làm
thế nào biết được khách hàng có thích hay không thích, chấp nhận hay không
chấp nhận? Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, kỹ thuật nghiên cứu
thị trường ngày càng được phát triển tinh vi hơn, người ta tranh thủ mọi cơ hội
để thu thập thông tin khách hàng, thị trường.
Tại sao thông tin thị trường lại quan trọng đến vậy? Bởi vì:
Thông tin là chìa khóa để am hiểu thị trường,
Doanh nghiệp cần phải hiểu thị trường hơn đối thủ cạnh tranh.
Doanh nghiệp cần phải dự báo được những sự thay đổi của thị trường
và nhu cầu của khách hàng.
Doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để ứng phó với những sự thay
đổi đó.
Doanh nghiệp cần phải có phương pháp hệ thống hóa việc thu thập,
phân tích và xử lý thông tin thị trường.
Nghiên cứu thị trường được chia làm hai dạng:
Nghiên cứu định tính
tiêu dùng để thiết lập kênh phân phối cho sản phẩm mới hoặc cải tiến sản phẩm
hiện hữu nhằm có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường, củng cố vị trí của
mình trên thị trường.
Nghiên cứu kênh phân phối
Thu thập thông tin về thói quen và hành vi tiêu dùng của người tiêu dùng
để thiết lập kênh phân phối cho sản phẩm mới sắp được tung ra thị trường. Hoặc
phát triển thêm kênh phân phối mới cho sản phẩm hiện hữu khi phát hiện sự thay
đổi trong hành vi tiêu dùng của một bộ phận khách hàng.
Nghiên cứu tình hình cạnh tranh
Nghiên cứu mức độ cạnh tranh
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 17
Nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh
Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh và các công cụ cạnh tranh chủ yếu
của họ.
Nghiên cứu giá cả thị trường
Nghiên cứu giá bán buôn, bán lẻ, giá nhập khẩu, các nhân tố ảnh
hưởng và xu hướng biến động của giá
2.3.2. Dự báo thị trường
Sau động thái nghiên cứu thị trường, dự báo thị trường là bước quan trọng
tiếp theo cho hoạt động Marketing. Thực tế đã chứng tỏ, nếu công tác dự báo thị
trường càng có độ chính xác thì công ty càng có nhiều khả năng đưa ra các quyết
định đúng đắn.
Để đưa ra những quyết định đa dạng liên quan đến các chính sách
Marketing hỗn hợp, công ty cần phải tiến hành dự báo các yếu tố rất khác nhau
của thị trường. Vì vậy đối tượng của dự báo rất đa dạng và thay đổi theo từng
trường hợp cụ thể. Thông thường việc dự báo của công ty hướng vào các chủ đề:
Dự báo sự thay đổi của thái độ, nhu cầu, động cơ của khách hàng, sự thay đổi
báo, có các loại dự báo sau:
Dự báo ngắn hạn: dưới 1 năm
Dự báo trung hạn: từ 1 đến 2 năm
Dự báo dài hạn: từ 3 năm trở lên
Tuy nhiên,những thời hạn dự báo chỉ mang tính chất tương đối và không
trùng khớp nhau theo các lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, khi xác định phạm vi dự
báo, nhất là khi lựa chọn loại dự báo cần phải có căn cứ vào quy luật vận động
của các mục tiêu dự đoán.
2.3.3.Phân đoạn thị trường
2.3.3.1. Khái niệm phân đoạn thị trường
Do nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường rất đa dạng, do vậy một
công ty khó có thể thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Do đó phải chia
những người tiêu dùng thành từng nhóm, những người tiêu dùng trong từng
Khóa luận tốt nghiệp K4 Nguyễn Phương Thanh-A7-K42B 19
nhóm đó có chung những yêu cầu giống nhau về mặt này hoặc mặt khác. Mỗi
nhóm như vậy gọi là một phân đoạn thị trường. Nói cách khác, phân đoạn thị
trường là chia những người tiêu dùng thành từng nhóm có chung những yêu cầu
giống nhau.
(7)
2.3.3.2. Các tiêu thức phân đoạn thị trường.
Các yếu tố dùng để phân đoạn thị trường có thể được coi như những biến
số khác nhau trên thị trường, không có một phương pháp phân đoạn thị trường
nào thống nhất cả. Có hai phân đoạn thị trường được xét tới, đó là phân đoạn thị
trường tiêu dùng và phân đoạn thị trường công nghiệp. Nhưng trong khuôn khổ
của bài luận văn này, khách hàng nhắm tới là những người tiêu dùng trực tiếp
cho nên những khách hàng tiêu dùng hàng hóa thuộc tư liệu sản xuất của phân
thể hiện rõ tính cách của người tiêu dùng trong phân đoạn đó với
các phân đoạn khác.
Tính khả thi: Đảm bảo đáp ứng được yêu cầu mục tiêu công ty-phải
có tính hiện thực
Khá lớn: đoạn thị trường này phải khá lớn và sinh lời xứng đáng.
Đoạn thị trường này phải là một nhóm lớn đồng nhất, thích hợp với
việc sử dụng các biện pháp Marketing
Tính đo lường được: Quy mô và khả năng tiêu thụ của các phân
đoạn có thể đo lường được
Có thể tiếp cận được: Các đoạn thị trường phải tiếp cận được và
phục vụ có hiệu quả
2.3.4. Xác định thị trường mục tiêu
Việc phân khúc thị trường đã làm bộc lộ những cơ hội của khúc thị trường
đang xuất hiện trước mặt công ty. Bây giờ công ty phải đánh giá các khúc thị
trường khác nhau và quyết định lấy bao nhiêu khúc thị trường và những khúc thị
trường nào làm mục tiêu. Từ đó công ty có phương án để xác định thị trường
mục tiêu cho mình.
Hình 1.2: Sơ đồ tiến hành hoạt động xác định thị trường mục tiêu
theo trình tự
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
Lựa chọn
đoạn thị
trƣờng
Các phƣơng
án chiếm lĩnh
Các yếu tố
ảnh hƣởng