Lời mở đầu
áo dài là một trang phục truyền thống mang đậm nét văn hoá, bản sắc
dân tộc Việt Nam. Nó tôn vinh vẻ đẹp của ngời phụ nữ Việt Nam vừa dịu
dàng e ấp, duyên dáng, kín đáo lại vừa mang nét kiêu sa- một vẻ đẹp rất
Việt Nam. Để có đợc những bộ trang phục đó phải nhờ đến bàn tay khéo
léo của những ngời thợ may- những ngời chuyên làm đẹp cho mọi ngời và
cho đời. Có thể nói rằng trong lĩnh vực này nhà may Ngân An là một trong
những nhà may áo dài nổi tiếng trên thị trờng Hà Nội.
Không phải ngẫu nhiên nhà may lựa chọn hớng kinh doanh là chuyên
may áo dài truyền thống mà phải trải qua một thời gian tìm hiểu thị trờng.
Ban lãnh đạo- những ra quyết định của Công ty đã nhận thấy rằng: bất kỳ
một doanh nghiệp nào muốn kinh doanh có hiệu quả thì bớc đầu tiên là phải
phân đoạn thị trờng để lựa chọn cho mình đoạn thị trờng thích hợp nhất. Xuất
phát từ mục tiêu, tiềm lực và khả năng vốn có của mình nhà may đã lựa chọn
áo dài làm mặt hàng cung ứng phục vụ chị em phụ nữ trên địa bàn Hà Nội.
Cùng với quá trình hình thành và phát triển nhà may đã dần dần khẳng định
vị thế của mình.
Vậy căn cứ vào đâu để nhà may Ngân An lựa chọn thị trờng mục tiêu?
Cách thức nào để phân đoạn thị trờng? Hiệu quả sản xuất của Công ty nh thế
nào? Những khó khăn và hớng khắc phục của Công ty ra sao? Đó là những
nội dung sẽ đợc để cập tới trong đề án: Phân đoạn thị trờng và lựa chọn
thị trờng mục tiêu cho mặt hàng áo dài của nhà may Ngân An
Bố cục của đề án gồm 3 phần:
1. Tìm hiểu về thị trờng may mặc Việt Nam.
2. Nhà may Ngân An và mặt hàng áo dài.
3. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của nhà may Ngân An trên đoạn thị
trờng mục tiêu đã chọn.
Phạm vi nghiên cứu của đề án này là tìm hiểu những đặc điểm, cách
thức phân đoạn thị trờng và lựa chọn thị trờng mục tiêu của ngành may mặc
Việt Nam nói chung. Trong đó đề án tập trung vào mục tiêu nghiên cứu hoạt
1
thành mảnh để may thành quần áo. Sản phẩm may mặc không
ngừng đợc cải tiến.
Đối với một ngời làm Marketing chỉ nhận ra nhu cầu tự nhiên cha
đủ mà cần phải nghiên cứu một khía cạnh thứ hai của nhu cầu là
mong muốn.
Mong muốn: là nhu cầu tự nhiên của con ngời ở dạng đặc thù đòi
hỏi phải đợc đáp ứng bằng một hình thức đặc thù phù hợp trình độ
văn hoá và tính cách của con ngời. Đặc biệt với sản phẩm quần áo
3
thì mong muốn của ngời tiêu dùng rất đa dạng. Có ngời muốn may
áo sơ mi, ngời lại muốn may váy, ngời kia lại thích may áo vét...
Tuỳ từng sản phẩm, sở thích, vóc dáng của từng ngời mà yêu cầu
về chất liệu vải và kiểu dáng cũng khác nhau. Việc phát hiện ra
mong muốn của ngời tiêu dùng giúp các Công ty may tạo ra những
sản phẩm mang tính đặc thù nhờ vậy tăng khả năng cạnh tranh trên
thị trờng. Tuy nhiên làm thế nào để mong muốn đó trở thành hiện
thực các Công ty may cần tính đến một khía cạnh khác của nhu cầu
đó là khả năng thanh toán của khách hàng.
Nhu cầu có khả năng thanh toán: là nhu cầu tự nhiên và mong
muốn phù hợp với khả năng mua của ngời tiêu dùng. Nớc ta với số
dân trên 78 triệu ngời, nhu cầu, mong muốn về may mặc là rất lớn
song trên thực tế sức mua của ngời dân còn thấp do khả năng tài
chính còn quá eo hẹp. Vì vậy Công ty may cần xác định một mức
giá không quá cao so với thu nhập hoặc tạo ra nhiều chủng loại
quần áo với các mức giá khác nhau để tạo điều kiện cho ngời tiêu
dùng lựa chọn. Tuy nhiên trong những năm gần đây đời sống của
nhân dân đợc cải thiện rõ rệt, khả năng thanh toán nhờ vậy cũng
tăng, nhu cầu may mặc phần nào đợc đáp ứng. Song cũng dễ nhận
thấy rằng đời sống cao thì khách hàng đòi hỏi về chất lợng, mẫu mã
của sản phẩm càng cao. Nếu nh trớc đây yêu cầu đặt ra của dân ta
may có tên tuổi nh May 10, May Việt Tiến, May 19/5... những Công ty này
luôn dẫn đầu về chất lợng, không ngừng cải tiến dây chuyền công nghệ, thiết
bị hiện đại, đa dạng về chủng loại, mẫu mã... làm cho sự cạnh tranh giữa các
Công ty may rất gay gắt. Bên cạnh đó các Công ty may trong nớc còn phải
đối phó với sức ép cạnh tranh rất lớn của hàng ngoại nhập. Hàng may mặc
của các nớc có u thế hơn ta về nhiều mặt nh: hàng may mặc Trung Quốc,
Thái Lan... có u thế về giá, chủng loại; Các loại quần áo của Hàn Quốc tuy
giá khá cao nhng chất lợng rất tốt, kiểu dáng mới lạ, hợp thời trang. Đặc biệt
hiện nay với sự xâm nhập của phim ảnh Hàn Quốc thì các loại quần áo theo
kiểu cách của các diễn viên điện ảnh Hàn Quốc cũng theo đó tràn ngập thị tr-
ờng Việt Nam và đợc ngời tiêu dùng tiếp nhận nồng nhiệt. Để đối phó với
tình hình này các Công ty may Việt Nam không những phải nâng cao chất l-
ợng, cải tiến mẫu mã mà còn phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng
cáo, xúc tiến khuyếch trơng. Trên thực tế đã có một số sản phẩm của một số
Công ty may Việt Nam làm đợc điều này nh: sản phẩm áo sơ mi nam của
Công ty May 10, áo phông Hoàng Tấn, đồng phục công sở của Công ty may
5
Việt Tiến... Điều này khẳng định đợc rằng hàng may mặc Việt Nam đang
ngày càng chiếm đợc lòng tin của ngời tiêu dùng Việt Nam.
Nhng nh chúng ta biết nhu cầu và mong muốn của con ngời là vô tận
mỗi ngời lại có những nhu cầu, thói quen, sở thích... rất khác nhau. Sẽ không
có một doanh nghiệp nào cùng một lúc có thể thoả mãn nhu cầu của tất cả
các khách hàng. Mặt khác, doanh nghiệp còn phải đối mặt với những đối thủ
cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy mỗi Công ty nhận thấy rằng tốt nhất là phát
triển ra những phần thị trờng hấp dẫn nhất mà nó có khả năng phục vụ hiệu
quả để tập trung sức lực vào đoạn thị trờng đó. Muốn lựa chọn đợc đoạn thị
trờng phù hợp trớc hết Công ty phải tiến hành phân đoạn thị trờng.
2. Phân đoạn thị trờng hàng may mặc Việt Nam.
2.1 Thế nào là phân đoạn thị trờng.
Khái niệm:
mà mỗi nhóm có đặc điểm nu cầu về giá cả, kiểu dáng, chất lợng, màu sắc...
khác nhau.
Với hai nhóm tuổi từ 0- 5 và từ 6- 15 tuổi yêu cầu chất lợng vải không
cần thiết là bền vì lứa tuổi này cơ thể phát triển rất nhanh. Tính cách của trẻ
con rất hiếu động, yêu đời nên thích những trang phục có màu sắc sặc sỡ,
đồng bóng và nhiều màu, ở độ tuổi này thờng có nhu cầu cao về đồ may sẵn
với giá rẻ. Đặc biệt nhu cầu về quần áo đồng phục đi học rất lớn.
Đoạn thị trờng có độ tuổi từ 16- 35 nhu cầu may mặc gia tăng mạnh.
Đây là đoạn thị trờng có sức mua lớn nhất. Lứa tuổi này thích những trang
phục trẻ khỏe, phong phú về kiểu dáng, chủng loại, hài hoà về màu sắc, đặc
biệt quan tâm tới thời trang hơn là giá.
Với độ tuổi 36- 50, nhu cầu may mặc có giảm nhng vẫn cao, kiểu dáng
không quá cầu kỳ, màu sắc trang nhã. Do lứa tuổi này ngời tiêu dùng thờng
có thu nhập ổn định, nhiều ngời đã thành đạt, có điạ vị cao trong xã hội nên
họ có yêu cầu chất lợng vải tốt, trang phục phải toát lên vẻ sang trọng, lịch
sự. Đây cũng là đoạn thị trờng có nh cầu hàng may đo lớn.
ở đoạn thị trờng từ 50 tuổi trở lên nhu cầu may mặc giảm mạnh do lứa
tuổi này đa số đã nghỉ hu, quan hệ xã hội ít. Lứa tuổi này không cần quan
tâm tới kiểu cách mà yêu cầu chất lợng vải phải bền, màu tối, nhã nhặn.
7
Giới tính:
Theo tiêu thức này thị trờng sẽ đợc chia làm 2 đoạn: Thị trờng may
mặc dành cho nam và nữ với những đặc điểm khác biệt, đa phần phụ nữ thích
dùng quần áo may đo còn nam giới lại thích quần áo may sẵn. Phụ nữ có nhu
cầu may mặc, quan tâm tới thời trang hơn là nam giới. Ngợc lại nam giới th-
ờng yêu cầu về chất lợng vải cao hơn.
Thu nhập:
ở nớc ta thu nhập có sự chênh lệch rất lớn giữa thành thị- nông thôn,
giữa các tỉnh thành phố và giữa các nghề nghiệp với nhau vì vậy có thể chia
làm 3 mức thu nhập: Cao, trung bình, thấp. Những ngời có thu nhập cao th-