Nghiên cứu chuyển đổi giới tính cá rô phi oreochromis niloticus bằng phương pháp ngâm trong dung dịch hóc môn 17α methyltestosterone - Pdf 14

Nghiên cứu chuyển đổi giới tính cá Rô phi Oreochromis niloticus bằng
phương pháp ngâm trong dung dịch hóc môn 17α Methyltestosterone
NGHIÊN CỨU CHUYỂN GIỚI TÍNH CÁ RÔ PHI Oreochromis niloticus L.
BẰNG PHƯƠNG PHÁP NGÂM TRONG DUNG DỊCH HÓC MÔN 17 α
METHYLTESTOTERONE
Sex reversal of tilapia Orreochromis niloticus L. by 17 α-methyltestosterone
immersion
Lê Văn Thắng
1
, Phạm Anh Tuấn
2
1
. Trường Trung Học Thủy sản IV
2
. Viện Nghiên Cứu NTTS 1
I. Mở đầu
Cá Rô phi Oreochromis niloticus L. là một loài cá được nuôi ở nhiều nước
nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Với những đặc điểm ưu việt như: tốc độ
tăng trưởng nhanh, khả năng chịu đựng tốt với điều kiện môi trường thịt thơm
ngon, thời gian nuôi thương phẩm ngắn, có thể nuôi được cả trong môi trường
nước ngọt, nước lợ và có thể làm sản phẩm xuất khẩu.
Bên cạnh những ưu điểm có được, cũng như các dòng cá rô phi khác, rô
phi Oreochromis niloticus dòng Thái có tuổi thành thục sớm, nhịp sinh sản dầy khả
năng bổ sung quần đàn trong các dạng thủy vực lớn. Vì thế không thể khống chế
được mật độ đàn cá trong các loại hình nuôi thương phẩm. Mặt khác, do sinh sản
nhiều hạn chế tới độ sinh trưởng cá thể và do đó làm giảm sinh trưởng quần đàn cá
nuôi.
Phương pháp ngâm cá trong dung dịch hóc môn (MT) được xử lý trong
thời gian ngắn và ở độ tuổi biến đổi giới tính nhất định được nhiều nhà nghiên cứu
và nuôi cá quan tâm. Tuy nhiên để chuyển đổi giới tính cá rô phi Oreochromis
niloticus đạt được kết quả cao, phải nghiên cứu xác định nồng độ hóc môn (MT),

4
+
được xác định ở
các thời điểm: Môi trơngf chưa có hóc môn, ngay sau khi có hóc môn và sau 3
ngày ngâm.
Giai đoạn 2 – Cá sau giai đoạn xử lý hóc môn được chuyển ra nuôi trong
giai (1x1x1m) cắm trong ao. Mật độ cá thả từ 60 – 100con/m
2
. Hàng ngày cho cá
ăn thức ăn: Bột ngô mịn 90% + bột đậu tương 10%. Khẩu phần ăn 10%. Ao nuôi
có bón phân chuồng 20kg/100m
2
/tuần. Hàng ngày xác định: Nhiệt độ nước, pH,
oxy lúc 6h và 16h. Hàng tuần xác định NH
4
+
, PO
4
3-
, BOD lúc 6h và 16h. Sau thời
gian nuôi 30 – 35 ngày, cá đạt khối lượng ≥ 3g/con mổ để xác định giới tính.
3. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
· Nhiệt độ đo bằng máy đo Guard
· Xác định độ pH bằng máy đo pH orion Model 210 A.
· Xác định oxy tan bằng máy đo oxy Guard
· Xác định NH
3
, NH
4
+

1
là tổng số cá kiểm tra.
6. Phương pháp phân tích số liệu
· Tỷ lệ đực cái được kiểm nghiệm bằng phân tích x
2
.
· Dùng phân tích ANOVA so sánh biến dị trọng lượng, chiều dài các lô thí
nghiệm (Gomez và Gomez, 1984)
III. Kết quả và thảo luận
1. Nồng độ hóc môn, độ tuổi cá và thời gian ngâm hóc môn thích hợp
1.1. Môi trường thí nghiệm I, II và III (Bảng 1, 2, 3)
Bảng 1: Nhiệt độ, pH, oxy môi trường Thí nghiệm I, II và III giai đoạn xử lý
hóc môn
Lô TN TN
Nhiệt độ (
0
C) pH Oxy (mg/l)
Dao động TB Dao động TB Dao động TB
5 ppm
I
II
III
22,0 – 31,4
26,0 – 33,6
26,5 – 34,5
27,4
30,0
30,7
6,96 – 8,93
7,02 – 8,88

5,8
6,8
5,0
F(6-30)
I
II
III
22,0 – 31,4
26,0 – 336
26,5 – 34,6
27,4
30,0
30,7
7,23 – 8,36
7,05 – 7,78
7,00 – 7,65
7,58
7,46
7,30
2,0 – 9,1
3,0 – 11
2,7 – 9,2
5,2
6,8
4,4 Hàm lượng NH
3
và NH

môn lên giống
Bảng 3 cho thấy: Môi trường nuôi cá ở giai đoạn sau xử lý hóc môn lên
giống nhìn chung thuận lợi cho sin htrưởng và phát triển của cá rô phi. Tuy nhiên,
ở một số thời điểm hàm lượng oxy hòa tan trong ao thấp vào buổi sáng, chỉ số pH
cao ở các buổi chiều có nhiệt độ nước >35
0
C. Mặc dù có bón phân, song hàm
lượng NH
4
+
và PO
4
3-
ở mức độ thấp, trung bình chỉ từ 0,40 – 0,65mg/l và 0,21 –
0,47mg/l. Do đó độ tiêu hao oxy sinh hóa (BOD) cũng ở mức độ thấp, trung bình
dao động từ 0,09 – 0,68mg/l/ngày.
1.2. Xác định nồng độ hóc môn thích hợp ngâm cá rô phi O. niloticus
1.2.1. Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giai đoạn xử lý hóc môn
Môi trường nước xử lý hóc môn (MT) nồng độ 5ppm ở nhiệt độ dao động
22 – 31,4
0
C, trung bình từ 26,2 – 28,6
0
C cá rô phi ở độ tuổi 9, 17 và 25 (ngày sau
nở) sau giai đoạn xử lý hóc môn có khối lượng tăng trưởng bình quân từ 0,072 –
0,181 gam/con và tỷ lệ sống đạt từ 64,0 – 88,6%, sai khác không có ý nghĩa với cá
thí nghiệm ở lô F(6-30) và lô đối chứng (CT). Điều này cho thấy hóc môn (MT)
không làm xấu môi trường trong phương pháp ngâm.
1.2.2. Tỷ lệ giới tính và tỷ lệ sống cá sau xử lý hóc môn (bảng 4 và 5)
Kết quả của 2 lần lặp lại thí nghiệm I – Xác định nồng độ hóc môn (MT)

C, trung bình 30,6
0
C, pH dao động từ 7,00 – 7,99, trung bình 7,31,
hàm lượng oxy dao động từ 2,0 – 11mg/l, trung bình 7,3mg/l, cá rô phi O.
niloticus dòng Thái ở độ tuổi 17 (ngày sau nở) ngâm trong dung dịch hóc môn
5ppm đạt tỷ lệ cá đực trung bình cao nhất 84,7%.
· Độ tuổi biến đổi giới tính ở cá rô phi phụ thuộc vào yếu tố nhiệt độ.
Vì vậy muốn thực hiện tố công việc chuyển giới tính cá rô phiO. niloticus bằng
phương pháp ngâm trong dung dịch hóc môn cần chú ý đến yếu tố nhiệt độ. Nhiệt
độ tăng, độ biến đổi giới tính của cá giảm. Cần tiếp tục nghiên cứu mối tương quan
giữa yếu tố nhiệt độ và độ tuổi biến đổi giới tính ở cá rô phi để làm sáng tỏ thêm
vấn đề này.
1.4. Xác định thời gian ngâm hóc môn thích hợp làm chuyển giới tính cá rô phi
1.4.1. Kết quả thí nghiệm giai đoạn 1
Kết thúc giai đoạn 1 của thí nghiệm cá ở các lô xử lý hóc môn bằng phương
pháp ngâm có tỷ lệ sống đạt từ 48 – 82,5%. Tuy nhiên, các lô thí nghiệm có thời
gian ngâm khác nhau tỷ lệ sống không như nhau: Tỷ lệ sống đạt cao nhất ở các lô
thí nghiệm có thời gian ngâm 3- 4 ngày: 5(17-19), 5(17-20) và đạt từ 78 – 87%,
trung bình đạt từ 79,5 – 82,5%. Tỷ lệ sống ỏ các lô thí nghiệm với thời gian ngâm
hóc môn 7, 8, 9 ngày đạt mức thấp trong cả hai lần thí nghiệm, trung bình đạt từ 48
– 64,5%. Tỷ lệ sống trung bình các lô thí nghiệm cá xử lý hóc môn bằng phương
pháp ngâm đạt 67,8%, thấp hơn so với tỷ lệ sống cá xử lý hóc môn bằng phương
pháp cho ăn (79,5%) và cá không xử lý hóc môn có tỷ lệ sống cao nhất (80,5%).
Về tăng trưởng khối lượng
Kết quả cho thấy tăng trưởng khối lượng bình quân của cá ở lô đối chứng
(CT) là cao nhất (đạt 0,19g/con). Trong khi đó ở các lô thí nghiệm xử lý hóc môn
bằng phương pháp ngâm đạt 0,08 – 0,14g/con, trung bình 0,10g/con.
Cá được ngâm với thời gian dài (7, 8 và 9 ngày) có sinh trưởng khối lượng
bình quân thấp (trung bình các lô chỉ đạt 0,086g/con), khi đó cá ngâm với thời gian
3, 4 và 5 ngày có sinh trưởng bình quân khối lượng cao hơn, đạt trung bình

0
C, pH dao động từ 7,00 – 7,99, trung bình 7,29- 7,36;
hàm lượng oxy hòa tan dao động từ 2,0 – 9,7mg/l; trung bình từ 4,4 – 58mg/l là
thuận lợi cho việc chuyển giới tính của cá.
· Trong môi trường thuận lợi trên cá rô phi O. niloticus ở độ tuổi 17 (ngày sau
nở) ngâm trong dung dịch hóc môn 17α Methyltestosterone trong thời gian 3-4
ngày đạt tỷ lệ cá đực cao nhất trung bình qua 2 lần thí nghiệm là từ 81,1 – 81,6%.
2. So sánh tốc độ tăng trưởng của cá rô phi O. niloticus giai đoạn sau xử lý hóc
môn lên giống
2.1. Môi trường ao nuôi thực nghiệm
Cá được nuôi thực nghiệm lập lại 3 lần. Nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy, NH
4
+
,
PO
4
3-
và BOD ở môi trường ao nuôi được thể hiện ở bảng 7.
Bảng 7: Môi trường ao nuôi cá rô phi sau giai đoạn xử lý hóc môn lên thành
cá giống
2.2. So sánh tốc độ tăng trưởng của cá Rô phi O. niloticus sau giai đoạn xử lý hóc
môn lên giống
Các dẫn liệu thể hiện ở bảng 8 cho thấy: Trong giai đoạn xử lý hóc môn, cá rô
phi O. niloticus dòng Thái ở phương pháp ngâm hóc môn có độ tăng trưởng trung
bình về chiều dài là 15,16mm và 0,112g/con về khối lượng thấp hơn so với cá
được ăn thức ăn trộn hóc môn (đạt trung bình về chiều dài 15,83mm và 0,130g/con
về khối lượng), nhưng đều thấp hơn so với cá không xử lý hóc môn, đạt bình quân
về chiều dài 17,1mm và 0,178g/con về khối lượng. Khi đó sinh trưởng của cá sau
giai đoạn xử lý hóc môn lên cá giống (sau 30 – 35 ngày nuôi có kết quả ngược lại:
Độ tăng trưởng bình quân/ngày về chiều dài của cá xử lý giới tính bằng phương

Nội dung
Phương pháp cho ăn hóc
môn
Phương pháp ngâm hóc môn
Nhu cầu về vật chất
- Dụng cụ và thiết bị tách, ấp trứng
- Cỡ cá đưa vào xử lý hóc môn
- Mức độ sử dụng thức ăn (lần)
- Mức độ sử dụng hóc môn (lần)
Cần
Cá bột
7
1
Không cần
Cá con
3
15
2. Chỉ tiêu kỹ thuật:
- Thời gian xử lý hóc môn (ngày)
- Tỷ lệ đực (%)
- Tỷ lệ sống trung bình (%)
- Bình quân cỡ cá sau 56 ngày sau nở
Chiều dài (mm)
Khối lượng (g)
- Sinh trưởng bình quân ngày sau giai
đoạn xử lý hóc môn lên giống
Chiều dài (mm)
Khối lượng (g)
- Sinh trưởng tăng (%) so với cá
không xử lý hóc môn

22,5
34,6
3. Hiệu quả:
- Chi phí (đồng/con rô phi đơn tính)
- Yêu cầu kỹ thuật
- Khả năng sản xuất

70-80
Cao
Số lượng ít

50-60
Trung bình
Số lượng nhiềuIV. Kết luận và đề xuất
1. Kết luận:
- Hóc môn 17α Methyltestosterone ở nồng độ 5ppm và 10ppm có ảnh hưởng
không đáng kể đến các yếu tố: Nhiệt độ, pH, NH
3
, NH
4
+
, nhưng làm giảm đáng kể
hàm lượng oxy hòa tan trong môi trường nước. Do vậy xử lý hóc môn làm chuyển
giới tính cá rô phi bằng phương pháp ngâm cần sục khí thường xuyên vào môi
trường ngâm nhằm thỏa mãn nh cầu oxy cho cá.
- Nhiệt độ nước trung bình dao động từ 26,2 – 30,7
0

qui trình công nghệ sản xuất rô phi đơn tính bằng phương pháp ngâm hóc môn.
- Ảnh hưởng của hóc môn 17α Methyltestosterone làm chuyển giới tính cá
rô phi bằng phương pháp ngâm là có ý nghĩa. Nhưng kết quả chuyển giới tính cá rô
phi trong nghiên cứu này chưa đạt chỉ số mong muốn. Có thể còn một số yếu tố
khác ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi giới tính ở cá rô phi bằng ngâm trong
dung dịch hóc môn, cần có nghiên cứu tiếp tục làm sáng tỏ.
V. Tài liệu tham khảo
1. Guerero, R.D. and Shelton, W.L., 1974. An aceto-carmine squyash method for
sexing juvenile fishes. Prog Fish Cult., 36 (1): 56.
2. Gomez, K.A and Gomez, A.A, 1984. Statiscal Procedures for Agriculture
Research 2
nd
edition. John Wiley and sons, 458-479.
3. Tuan, P.A., Little, D.C and Yang Yi., 1994. Hormone immersion of known-
age Oreochromis niloticus juveniles for sex reversal to males. Asian Institute of
Technology.
4. Tuan, P.A., Mair, G.C., Little, D.C. and Beardmore, J.A., 1997. Sex
determination and the feasibility of genetically male tilapia (GMT) production in
the Thai- Chitralada strain of Oreochromis niloticus (L.). Paper presented at the
Sixth International Symposium on Genetics in Aquaculture, 24-28 June, 1997,
University of Stirling, UK.
5. Tuan, P.A., Little, D.C., Mair, G.C, 1998. Genotypic effects on Comparative
growth Performance of all – male tilapia Oreochromis niloticus(L.). Aquaculture,
59, 293-302.

Nguồn: Lê Văn Thắng, Phạm Anh Tuấn, 2000. Nghiên cứu chuyển giới tính
cá rô phi Oreochromis niloticus L. bằng phương pháp ngâm trong dung dịch
hóc môn 17 α Methyltestosterone. Hội thảo khoa học toàn quốc về NTTS,
9/1998. Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, 114 – 123.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status