Tài liệu giảng dạy chuyên đề Phát triển bền vững với những vấn đề toàn cầu và của Việt Nam: Phần 1 - Pdf 14

Đại học Quốc gia h nội
Trung tâm nghiên cứu ti nguyên v môi trờng Ti liệu giảng dạy

chuyên đề

Phát triển bền vững với những vấn đề môi trờng
ton cầu v Việt Nam Khóa bồi dỡng sau đại học
tiếp cận sinh thái học trong quản lý ti nguyên
thiên nhiên v phát triển bền vững
GS.TS. Võ Quý
TS. Võ Thanh Sơn
4.2. Định hớng chiến lợc phát triển của Việt Nam
(Chơng trình nghị sự 21 của Việt Nam) 96
4.3. Chơng trình hnh động thực hiện định hớng chiến lợc
phát triển bền vững của Việt Nam 106
4.4. Tổ chức thực hiện chơng trình hnh động của chính phủ 118
CHƯƠNG V. XÂY DựNG CHƯƠNG TRìNH NGHị Sự CủA NGNH (SA21) V
ĐịA PHƯƠNG (LA21) 122
5.1. Mục đích, nguyên tắc chỉ đạo v các hớng u tiên phát triển
của xây dựng LA21 v SA21 122
5.2. Cơ sở xây dựng LA21, SA21 123

2
5.3. Nội dung của LA21, SA21 124
5.4. Kế hoạch thực hiện 125
5.5. Chơng trình nghị sự (Kế hoạch phát triển bền vững) của một số ngnh
v địa phơng 128
CHƯƠNG VI. Các công ớc v thỏa thuận quốc tế về môi
trờng 135
6.1. Tầm quan trọng của quan hệ quốc tế trong phát triển bền vững 135
6.2. Đằu t cho việc chăm sóc môi trờng 141
6.3. Hỗ trợ cho việc phát triển 142
6.4. Các công ớc v thoả thuận quốc tế về môi trờng m Việt Nam
đã tham gia v đang xem xét để tham gia 143
6.5. Kết luận 145
Lời kết 146
Ti liệu tham khảo 148

3
Mở đầu


chơng trình này. Các nớc trong khu vực nh Trung Quốc, Thái Lan, Singapore,
Malaysia đều đã xây dựng và thực hiện CTNS 21 về phát triển bền vững.
ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nớc nh Nghị quyết
của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và thứ X đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế,

4
Chính phủ đã ban hành "Định hớng chiến lợc phát triển bền vững ở Việt Nam"
(CTNS 21 của Việt Nam). Hiện nay, chiến lợc này đang đợc triển khai một cách
mạnh mẽ ở các cấp, các ngành và các địa phơng.
Để đạt đợc mục tiêu phát triển bền vững, yếu tố con ngời là quan trọng nhất.
Một mặt, mỗi ngời dân dù ở cơng vị nào cũng phải có một sự hiểu biết, một ý thức
đầy đủ và những hành động đúng theo những nguyên tắc của phát triển bền vững. Mặt
khác, cũng phải có những nguồn nhân lực cao, phù hợp để xây dựng một cuộc sống,
một xã hội bền vững.
Tài liệu giảng dạy chuyên đề Phát triển bền vững với những vấn đề môi trờng
toàn cầu và Việt Nam trong khuôn khổ Khóa bồi dỡng sau đại học Tiếp cận sinh
thái học trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững do Trung tâm
Nghiên cứu Tài nguyên và môi trờng, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức thực hiện đề
cập đến những khái niệm quan trọng nhất về Môi trờng và phát triển bền vững thông
qua các chơng: Các thách thức về kinh tế, xã hội và môi trờng và sự phát triển
(Chơng I); Khái niệm, nội dung, mô hình và các nguyên tắc PTBV (Chơng II); Kinh
nghiệm quốc tế trong xây dựng CTNS 21 về PTBV (Chơng III); Định hớng chiến
lợc PTBV của Việt Nam (Chơng IV); CTNS 21 của ngành (SA 21) và địa phơng
(LA 21) (Chơng V); Các công ớc và thỏa thuận quốc tế về môi trờng (Chơng VI).
Cuốn sách hy vọng cũng sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho các giáo viên giảng dạy từ
các lớp tập huấn ngắn hạn đến các chơng trình đào tạo đại học, sau đại học; cho các
nhà hoạch định chính sách, các cán bộ quản lý cũng nh cán bộ khoa học, các nhà
doanh nghiệp.
Cuốn sách bao gồm nhiều nội dung phức tạp về một chủ đề mới, do một tập thể
biên soạn lần đầu nên chắc chắn còn nhiều khiếm khyết. Rất mong nhận đợc những ý

lợng nguồn nớc ngọt của thế giới. Các hoạt động thiếu quy hoạch hợp lý nh ngăn
sông, đắp đập, chuyển đổi đất ngập nớc, mất rừng, gây ô nhiễm, đồng thời nhu cầu
ngày càng tăng nhanh và nhiều của con ngời về nguồn nớc ngọt đã làm thay đổi các
dòng nớc tự nhiên, thay đổi quá trình lắng đọng và làm giảm chất lợng nớc. Tình
trạng thiếu nớc trên thế giới ngày càng lan rộng, nạn khô hạn kéo dài gây nhiều hậu
quả về kinh tế và xã hội cho nhiều vùng rộng lớn. Tất cả những điều đó đều tác động
tiêu cực lên sự phát triển, làm suy giảm đa dạng sinh học và chức năng của các hệ
thống thuỷ vực trên thế giới.
Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng cha từng có,
kể từ thời kỳ các loài khủng long bị tiêu diệt cách đây khoảng 65 triệu năm và tốc độ
biến mất của các loài hiện nay ớc tính gấp khoảng 100 lần so với tốc độ mất các loài

6
trong lịch sử Trái đất, và trong những thập kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ
gấp 1.000 -10.000 lần (MA, 2005). Có khoảng 10% các loài đã biết đợc trên thế giới
đang cần phải có những biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài đợc xem là
đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Tình trạng nguy cấp của các loài không phân bố đều giữa
các vùng trên thế giới. Các vùng rừng ẩm nhiết đới có số loài nguy cấp nhiều nhất,
trong đo có nớc ta, rồi đến các vùng rừng khô nhiệt đới, vùng đồng cỏ miền núi. Nghề
khai thác thuỷ sản đã bị suy thoái nghiêm trọng, và đã có đến 75% ng trờng trên thế
giới đã bị khai thác cạn kiệt hay khai thác quá mức (UNEP, 2007).
Ước tính đã có khoảng 60% khả năng dịch vụ cho sự sống trên Trái đất của các hệ
sinh thái nh nguồn nớc ngọt, nguồn cá, điều chỉnh không khí và nớc, điều chỉnh
khí hậu vùng, điều chỉnh các thiên tai và dịch bệnh tự nhiên đã bị suy thoái hay sử
dụng một cách không bền vững. Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo rằng tác động tiêu
cực của những suy thoái nói trên sẽ phát triển nhanh chóng trong khoảng 50 năm sắp
tới.
Sự tăng nhiệt độ Trái đất quan sát đợc trong 50 năm qua là một bằng chứng mới
lạ, đợc khẳng định là do ảnh hởng của các hoạt động của con ngời và các hiện
tợng bất thờng về khí hậu tăng dần về tần số, cờng độ và thời gian, nh số ngày

ngợc lại, có khí quyển với nồng độ khí dioxit cacbon rất lớn và nhiệt độ trung bình
trên mặt khoảng 460
0
C. Hoàn toàn khác với hai hành tinh trên, phần lớn diện tích mặt
Trái đất có nhiệt độ vừa phải, tốc độ gió không lớn và có nớc đầy đủ, nói chung
không nóng quá mà cũng không lạnh quá, không mềm quá mà cũng không cứng quá
và hoàn toàn phù hợp với sự sống, mà không đâu có đợc. Có đợc điều kiện nh vậy
điều cơ bản là do bản chất của khí quyển của Trái đất. Nếu không có khí quyển, nhiệt
độ mặt đất sẽ tơng tự nh trên Mặt trăng, trung bình khoảng - 18
0
C.
Khi chúng ta tìm hiểu về khí quyển Trái đất, chúng ta tự hỏi tại sao nó lại phù hợp
với sự sống mà không giống nh trên các hành tinh khác, đó là điều kỳ lạ. Các nhà địa
chất học đã cho biết là khí quyển Trái đất ngày nay khác xa khí quyển đã có trớc kia.
Các nhà địa chất học cho rằng Trái đất đợc hình thành vào khoảng 4.600 triệu
năm về trứơc bằng sự ngng tụ của các phần tử vật chất. Do sức hút của trọng lực mà
các phần tử đó tụ lại làm tăng nhiệt độ, rắn lại và cũng có thể chảy ra và tạo nên sự
phún trào của núi lửa. Mốt khối lợng lớn dioxit cácbon và nớc đợc phun ra mặt
ngoài do núi lửa. Do sức hút của Trái đất mà khí dioxit cácbon và nớc đọng lại tạo
nên khí quyển và đại dơng. Sau đó, cũng nh ngày nay, khí dioxit cácbon đã cho các
bức xạ của Mặt trời xuyên qua xuồng đến mặt Trái đất, nhng đã thu giữ lại một phần,
đồng thời cũng làm giảm sự phản xạ ngợc lại vũ trụ, nh vậy nhiệt độ của khí quyển
tăng lên đến khoảng 28
0
C. Tuy nhiên một khí quyển toàn khí dioxit cácbon không thể
phù hợp cho bất kỳ một loài thực vật hay động vật nào cả. Làm thế nào để khí quyển
đầu tiên chỉ toàn khí dioxit cácbon chuyển thành một khí quyển nh ngày nay với 79%
là nitrogen, 21 % ôxy và chỉ có một lợng nhỏ dioxit cacbon, nớc và các khí hiếm
khác.
Các nhà địa chất học cho rằng, các đá trầm tích thuộc các thời kỳ khác nhau có

Nói tóm lại, qua hàng ngàn triệu năm, tảo xanh-lục và cây cối đã chuyển cácbon ra
khỏi khí quyển. Sự hiện diện của các đại dơng sâu, các vùng biển cạn và các vũng
nớc trên mặt Trái đất đã tạo nên nhiều con đờng khác nhau cho các bon tích tụ lại và
tách khỏi ôxy. Trong quá trình đó, khí quyển trở nên mát hơn, do lợng dioxit cácbon
giảm dần và một lợng lớn ôxy đợc thải vào khí quyển tạo nên khả năng hô hấp và
cháy. Với điều kiện đặc biệt, mà các dạng sống phức tạp xuất hiện từ những dạng sống
đơn giản. Sau đó các vật sống tiến hoá dần thành những dạng sống ngày càng phức tạp
hơn, môi trờng cũng biến đổi theo và trong quá trình tiến hoá, sinh vật và môi rờng,
kể các vật chất không sống và các quá trình tiến hoá tự điều chỉnh dần cho đến lúc có
sự ổn định và cân bằng.
Tuy nhiên sự cân bằng giữa khí quyển và sự sống cũng thay đổi luôn. Một sự thay
đổi của phía này sẽ làm cho phía kia cũng phải thay đổi theo. Do đó sự thay đổi về sự
sống của các động vật và thực vật do thay đổi về chủng quần và phát triển kinh tế cũng
sẽ làm cho khí quyển thay đổi và tất nhiên sẽ gây ảnh hởng đến các hệ thống có liên

9
quan. Một số hệ thống đó lại có tác động quyết định lên hệ thực vật thiên nhiên và
nông nghiệp, và bớc tiếp theo là gây tác động lên chu trình các bon và chu trình nớc
và có liên quan đến cả vai trò của bức xạ mặt trời, nguồn năng lợng cơ bản của tất cả
các hệ thống tự nhiên.
I.1.2 Chu trình các bon
Nh đã trình bày ở trên, trong quá trình tiến hoá của Trái đất, một lợng lớn các bon
đã đợc lấy ra từ khí quyển và tích luỹ vào các kho dự trữ địa chất. Lợng dự trữ các
bon đó có trong các tầng địa chất của thạch quyển, trong đại dơng, trên mặt đất và
trong khí quyển (xem hình 1).
tấn, nhng bản thân
đại dơng có thể hòa tan một lợng lớn hơn.
Các quá trình tự nhiên có thể cân bằng trong thời gian ngắn. Dioxit cácbon đợc
lấy đi từ khí quyển trong quá trình quang hợp và hòa tan vào đại dơng. Dioxit cácbon
cũng đợc giải phóng vào khí quyển qua quá trình hô hấp của các sinh vật trên cạn, và
hoà tan vào nớc biển ở các đại dơng. Một số thực vật và động vật còn đợc giữ lại
dới dạng các lớp than bùn hay các tầng trầm tích ở đáy đại dơng và không thể trở lại
khí quyển. Các tầng đá vôi và san hô đợc hình thành cũng đã lu giữ cacbonat canxi
trong đó - tuy nhiên dioxit cacbon cũng có thể đợc giải phóng từ các loại đá vào khí
quyển qua các hoạt động của núi lửa. Kích thớc của các kho dự trữ các bon và dòng di

10
chuyển các bon rất khác nhau và lợng dioxit cácbon trong khí quyển là rất nhỏ so với
lợng các bon có ở các kho dự trữ.
Một lợng dioxit cácbon mới đáng kể đang đợc đa vào khí quyển trong những
năm gần đây là do đốt các chất đốt hoá thạch. Khoảng chừng 5.000 triệu tấn hàng năm,
so với dòng cácbon thiên nhiên thì rất bé, nhng nó cũng chiếm đến 0,7% của toàn thể
lợng dioxit cácbon của khí quyển, và nh vậy lợng dioxit cacbon thêm hàng năm
này có thể tích luỹ dần trong một vài thập kỷ làm cho nồng độ dioxit cácbon trong khí
quyển tăng dần. Theo các số liệu đã đo đạc đợc thì nồng độ dioxit cácbon trong khí
quyển đã tăng từ 315 phần triệu (p.p.m) trong năm 1957 đẫ lên đến 359 p.p.m vào năm
1987. Với mức độ nh ngày nay thì nồng độ dioxit cácbon trong khí quyển sẽ tăng đến
600 p.p.m. vào cuối thế kỷ này và chắc chắn điều đó sẽ có tác động lớn đến khí hậu
toàn cầu và tất nhiên đến nền kinh tế xã hội của mọi nớc, mọi dân tộc trên thế giới.
I.1.3 Chu trình nớc
Mọi ngời trong chúng ta đều biết rằng ma rơi xuồng từ mây, chảy theo suối
xuống sông rồi đổ ra biển khơi. Chúng ta ở Việt Nam đều biết rằng mây từ biển đông
thờng đem theo ma. Nh vậy là mây đợc hình thành từ hơi nớc do nớc biển bị
bốc hơi. Sự di chuyển của nớc trên thế giới tạo thành một chu trình đợc gọi là chu
trình nớc: nớc biển bốc hơi, bay vào không khí tạo thành mây, sinh ra ma, rơi
11

Hình 2. Chu trình nớc
Nhìn chung trên cả thế giới chu trình nớc nh đã mô tả, nhng trong thực tế, ở
mỗi vùng chế độ nớc rất khác nhau tuỳ theo không gian và thời gian. ở các vùng nhiệt
đới, ma nhiều hàng năm trung bình khoảng vài ba nghìn mm, trong lúc đó ở các vùng
khô hạn nh các vùng sa mạc hay vùng cực hàng năm chỉ nhận đợc khoảng 100 đến
200 mm ma hay tuyết. Lợng ma có ảnh hởng lớn đến sự phát triển của các loài
thực vật, tuy nhiên các loài thực vật cũng làm gia tăng lợng nớc chuyển vào khí
quyển. Cùng với sự bốc hơi từ mặt đất một lợng nớc nhất định đã đợc bốc hơi qua
bề mặt của lá cây vào không khí. Tổng số khối lợng nớc trở lại không khí bằng hơi
nớc qua quá trình bốc hơi đợc gọi là quá trình thoát hơi nớc (evapotranspiration) -
nớc bốc hơi qua lỗ khí trên bề mặt lá cây có thể lớn hơn rất nhiều so với khối lợng
nớc bốc hơi thông thờng. Ngợc lại độ ẩm lớn trong không khí lại tạo nên ma và
thúc đẩy sự phát triển của cây. Nh vậy là các hệ tự nhiên thờng có cơ chế hết sức
phức tạp.
Các chu trình tự nhiên rất vĩ đại và lạ lùng, nhng tại sao các chu trình ấy có thể
vận hành đợc với năng lợng đợc cung cấp nh thế nào?
I.1.4 Nguồn năng lợng cần thiết cho các chu trình tự nhiên
Cũng tơng t nh đi xe đap, muốn xe chạy thì phải đạp, các chu trình thiên nhiên,
nh chu trình cacbon hay chu trình nớc, để vận hành đợc cũng cần phải có nguồn
năng lợng từ ngoài đa vào. Năng lợng đó chính là năng lợng từ mặt trời, nhng
tuân theo một nguyên tắc cơ bản: nguồn năng lợng sử dụng trong các các quy trình về
môi trờng chảy liên tục, đến từ nơi xuất phát rồi tan biến vào vũ trụ, và nguồn năng
lợng đo có khối lợng không thay đổi và có thể chuyển từ trạng thái này qua trạng
thái khác. Sự chuyển đổi của nguồn năng lợng đó cực kỳ phức tạp, và cũng có thể tạm
thời đợc tích luỹ lại dới dạng các chất đốt hoá thạch (nh than đá hay dầu mỏ),


quyển.
Thạch quyển (lithosphere) là lớp bên ngoài cùng của Trái đất bao gồm vỏ Trái đất
và lớp trên cùng của manti, tằng rắn dày 70 km ở đáy đại dơng hoặc 150 km ở lục địa.
Thạch quyển tạo nên các mảng cứng nằm trên quyển mềm và có thể di chuyển trên
quyển mềm đó.
Thuỷ quyển (hydrosphere) là toàn bộ lớp nớc bao quanh Trái đất, nằm giữa khí
quyển và vỏ Trái đất, gồm nớc lỏng của các đại dơng, biển, sông, hồ, đầm lầy và
nớc ngầm, lớp tuyết phủ hay đóng băng. Sự tuần hoàn của nớc làm thay đổi địa hình
của Trái đất, chi phối điều kiện khí hậu và quyết định môi rờng sống trên Trái đất.
Khí quyển (atmosphere) là môi trờng khí bao quanh Trái Đất, có khối lợng
khoảng 5,15 x 10
15
tấn. Khí quyển chia thành các tầng sau trên cơ sở của sự phân bố
thẳng đứng của nhiệt độ và một số thông số khác: tầng đối lu (troposphere), tầng bình
lu (stratosphere), tầng giữa (mesosphere), tầng tăng nhiệt (thermosphere) và tầng
ngoại quyển.
Khí quyển Trái đất là bầu khí quyển duy nhất trong Hệ Mặt trời có khả năng làm
phát sinh và duy trì sự sống: có chứa oxy, hơi nớc, có nhiệt độ thích hợp, có lớp ozon
ngăn các sóng ngắn có hại cho sự sống, vv. Hiện nay do các ngành công nghiệp phát
triển, khí quyển Trái đất bị phá hoại nghiêm trọng: lợng khí gây ô nhiễm thải vào khí
quyển ngày càng tăng (các loại khí CFC phá hoại tầng ozon tạo ra các lỗ hỗng để lọt
các tia cực tím nguy hiểm; các khí CO
2
, CH
4
gây hiệu ứng nhà kính, vv ) làm nhiệt
độ Trái đất tăng dần, do đó làm thay đổi khí hậu toàn cầu, đe doạ nghiêm trọng sự sống
trên Trái đất.
Sinh quyển (Biosphere) là lớp vỏ mỏng và không đều, bao quanh mặt Trái đất mà
trong đó có tất cả các sinh vật sinh sống và các nguyên tố mà các sinh vật trao đổi với

XX, học thuyết về Sinh quyển đợc V. I. Vernadxki (1863-1945) phát triển đầy đủ
trong các công trình nghiên cứu Sinh quyển về sinh địa hoá học Sinh quyển bao gồm:
Phần thấp của lớp không khí (khí quyển) hay còn gọi là tầng đối lu, nơi sự sống
có thể tồn tại đến độ cao 10-15 km.
Toàn bộ lớp nớc (thuỷ quyển), nớc biển, ao, hồ, sông, suối, các tầng nớc
ngầm, nơi sự sống có thể tìm thấy ở độ sâu hơn 11 km.
Phần trên của lớp rắn của Trái đất (thạch quyển), lớp phong hoá, thờng có bề
dày 30-60 cm, ít khi tới 100-200m hoặc sâu hơn. Trong trờng hợp đặc biệt có
thể tìm thấy sự sống ở ngoài lớp phong hoá. Ví dụ đã tìm thấy vi sinh vật trong
nớc dầu mỏ ở độ sau 4 500 mét.
ở thạch quyển và thuỷ quyển, sinh vật có thể sống trọn vẹn chu kỳ sinh trởng và
phát triển, còn trong khí quyển, sinh vật chỉ có thể sống tạm thời, di chuyển từ nơi này
đến nơi khác, khi sinh sản chúng phải trở về môi trờng rắn (thạch quyển) hoặc môi
trờng nớc (thuỷ quyển).
Sinh quyển là một kho dự trữ năng lợng khổng lồ. Do sự phát triển của giới sinh
vật, mà sự tích trữ năng lợng sinh học từ khi hình thành đến nay, ngày càng tăng về số
lợng. Trong Sinh quyển - hệ sinh thái khổng lồ - giữa các sinh vật và các yếu tố vô cơ

15
của Sinh quyển có sự chuyển hoá lẫn nhau. Sự tiến hoá của sinh vật dẫn đến những
biến đổi và thúc đẩy sự tiến hoá của môi trờng vật lý và hoá học. Sự có mặt của Sinh
quyển đã đóng vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi cơ chế hoá học trong các
quyển của Trái đất. ảnh hởng của các quá trình sống đã làm thay đổi thành phần hoá
học của khí quyển, thành phần muối trong thuỷ quyển, cấu tạo của thạch quyển trong
sự hình thành thỗ nhỡng và sự thành tạo, biến đổi của đá trầm tích. Những biến đổi đó
của môi trờng lại ảnh hởng tới các sinh vật. Nhờ đó Sinh quyển phát triển và tiến hoá
đạt tới sự cân bằng ổn định. Tuy vậy, từ khi loài ngời xuất hiện trên Trái đất và tăng
dần về số lợng, các hoạt động của loài ngời đã có tác động đến Sinh quyển, làm cho
Sinh quyển bị tổn thơng theo hớng có hại cho muôn vật và chính cho cả con ngời.
I.1.6. Giới hạn phân bố của sinh vật trong sinh quyển

của thạch quyển. Vi sinh vật, các động vật không xơng sống và động vật có xơng sống
tìm thấy ở những chỗ sâu hơn, có khi đến vài chục mét. ở biển và đại dơng, có thể tìm
thấy sinh vật ở tất cả các nơi , tuy nhiên thực vật chỉ tìm thấy ở tầng mặt, đến độ sâu còn
có thể nhận đợc ánh sáng mặt trời. Nhiều loài động vật sống đợc ở đáy đại dơng, ở độ
sâu trên 11 km. ở một số nơi trên Trái đất không có sinh vật sinh sống, vì ở đó không đủ
điều kiện cho sự sống tồn tại nh ở miệng núi lửa đang hoạt động, ở những hồ và biển nhỏ
có nồng độ muối quá cao, những suối nớc nóng trên 70
0
C, những vũng nớc bị ô nhiễm
khí độc hydro sulfure (H
2
S), chất độc arsenicVí dụ biển kín hay biển chết ở Palestin
có nồng độ muối 231,3%, hồ Tuse Tollu ở Thổ Nhĩ Kỳ có nồng độ muối 320%, không có
một sinh vật nào có thể sống đợc ở đó.
Do phần lớn các sinh vật sinh sống tuỳ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào ánh sáng
mặt trời mà những vùng có ánh sáng mặt trời tạo thành những vùng cơ bản của Sinh
quyển: nh lớp mỏng vài cm của mặt đất, lớp trên của ao hồ, sông suối và đại dợng,
nơi mà ánh sáng mặt trời có thể xuyên đến đợc.

17
Nh vậy trong Sinh quyển, sinh vật phân bố không đều, chúng tập trung ở những nơi
có điều kiện sinh sống thuận lợi, chỗ càng có nhiều điều kiện thuận lợi, càng có nhiều loài
sinh vật sinh sống với số lợng lớn. Do sự chuyển hoá chất trong các sinh vật không thực
hiện đợc hay thực hiện một cách chậm chạp khi không có nớc, mà những vùng thiếu
nớc, sinh vật rất tha thớt nh các vùng cực hay trên các đỉnh núi rất cao, nơi có băng
vĩnh cửu, hay các sa mạc. Tuy nhiên ranh giới này cũng không rõ ràng.
Sự phân bố của sinh vật trong thuỷ quyển, thạch quyển và khí quyển cũng rất khác
nhau tuỳ theo các vùng địa lý, có xu hớng ít dần từ xích đạo đến miền cực, từ vùng thấp
lên vùng cao, từ chỗ cạn đến chỗ sâu hơn.
Thuỷ quyển, về lý thuyết mà nói thì chỗ nào cũng có đủ điều kiện cho sự sống vì thế

Trên lục địa, điều kiện sống rất khác nhau, ngay cả trong một khu vực nhỏ. Mỗi vùng
địa lý chỉ thích hợp với một nhóm sinh vật. Tuy vậy với diện tích chỉ chiếm 29% diện tích
bề mặt Trái đất, số lợng các loài sinh vật (động vật và thực vật) trên đất liền rất lớn, lớn
hơn nhiều lần so với các loài động vật và thực vật trong thuỷ quyển. Phần lớn các sinh vật
trên cạn đều phải liên hệ với đất. Đất là giá thể, là nơi sinh sống, kiếm ăn, sinh sản của rất
nhiều loài sinh vật. Nhng đi sâu vào lòng đất thì số lợng loài động vật càng ít. Rễ cây
cũng chỉ ăn sâu vào lòng đất ở mức độ nhất định. Thờng rễ cây và các loài động vật chỉ
sống ở trong lớp đất phong hoá không quá 10 mét. Chui sâu vào lòng đất, động vật không
kiếm đợc thức ăn. Tính chất cơ học của các lớp đất đá cũng hạn chế khả năng động vật
chui sâu vào lòng đất, đồng thời chui sâu vào lòng đất cũng không có ánh sáng mà nhiệt
độ lại tăng lên dần. Cứ chui sâu vào lòng đất 100 m, nhiệt độ tăng lên 1 độ C, do đó ở độ
sâu đến 3 km trong lòng đất sinh vật không thể sống đợc. Tuy nhiên trong trờng hợp cá
biệt ngời ta đã tìm thấy giống cá Gasteresteus neubatus ở giếng sâu 128 m và đã tìm thấy
vi sinh vật ở giếng khoan sâu 2,5-3 km, thậm chí đôi khi còn tìm thấy cả trong các giếng
dầu mỏ ở độ sâu 4500 m.
Trong khí quyển, các sinh vật tập trung ở lớp dới cùng của khí quyển gọi là tầng đối
lu. Trong lớp này thực vật chỉ tập trung sinh sống từ mặt đất lên đến độ cao 50 m, nơi di
chuyển chính của các phấn hoa, bào tử và hạt cây. Nhiều động vật bay vào khí quyển cũng
chỉ ở tầm cao ngang hay trên các ngọn cây chút ít. Những loài động vật bay giỏi nh chim,
côn trùng và dơi có thể bay cao đến 200-300 m. Chỉ một số loài chim có thể bay cao đến
hơn 3.000 m. Trên đờng di c, ngng trời, sếu có thể bay qua trên ngọn núi Evơret (cao
8.858 m) của dãy Hymalaya. Vi khuẩn có thể tìm thấy ở độ cao 22 km. Giới hạn cao nhất
của sự sống trong khí quyển có thể là 50 km. Giới hạn này đợc quy định bởi nhiệt độ, áp
suất thấp và chủ yếu do tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời giết chết sinh vật ở độ cao đó.
Các sinh vật cũng không thể sống trong không khí ở chỗ quá cao vì cuộc sống của chúng
luôn gắn liền với bề mặt Trái đất.
Sự phân bố của sinh vật trên các lục địa thay đổi theo chiều nằm ngang của các đới khí
hậu và chiều thẳng đứng của độ cao của núi.
Trên lục địa , những đặc tính khí hậu của mỗi vùng địa lý đã xác định các biom
(biome) - là các quần xã của miền rộng lớn động vật và thực vật có các dạng sống và các

mức độ bao nhiêu để có thể đảm bảo đợc hoạt động bình thờng của Sinh quyển, có
phần nào đa dạng sinh học là thừa thải không, hiện nay vẫn cha ai xác định đợc.
Cho đến nay, mối liên quan giữa đa dạng sinh học với sự các hoạt động của toàn bộ các
hệ sinh thái, kể cả sự cân bằng, tính bền vũng, tính mềm dẻo và năng suất vẫn còn cha
đợc biết rõ. Tuy nhiên càng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn chỉ ra rằng tính đa dạng giữ vai rất quan trọng trong chức năng lâu dài của các
hệ sinh thái.
Các hệ sinh thái là những cỗ máy sản xuất của trái đất cùng với các cộng đồng các
loài sinh vật sinh sống và phát triển trong những điều kiện nhất định và tơng tác rất
chặt chẽ với nhau và với các điều kiện vật lý của nơi chúng sinh sống. Đó là các khu
rừng, vùng đồng cỏ, sông, hồ, vùng bờ biển, các hải đảo, các vùng nớc sâu, núi, các
vùng sản xuất nông nghiệp và cả các thành phố nữa. Mỗi hệ sinh thái là một kiểu giải
quyết cuộc sống trong điều kiện về môi trờng nhất định, đã đợc hình thành và tồn tại

20
hàng nghìn năm. Mỗi hệ sinh thái là một kho t liệu, tích luỹ những bài học về tồn tại
và phát triển của sinh vật, tính hiệu quả và thích nghi của muôn loài nh việc vơn đến
chỗ có ánh sáng mặt trời, nớc, thức ăn và không gian. Nếu lột bỏ hết các hệ sinh thái
thì Trái đất cũng sẽ có hình ảnh tơng t nh Mặt trăng hay Sao hoả. Hình ảnh đó
cũng nói lên sự khó khăn biết chừng nào để có thể hồi phục lại các hệ sinh thái mỗi khi
bị suy thoái hay biến mất. Chỉ nói riêng đất màu mỡ để chúng ta cày cấy là một quà
tặng vô cùng quý giá của thiên nhiên, đợc hình thành nên qua hàng triệu năm của các
quá rình vô cơ và hữu cơ. Kỷ thuật ngày nay cũng có thể tái tạo đợc các chất dinh
dỡng cho đất để trồng trọt, nhng nhìn chung giá cả qúa đắt đỏ, khó lòng chấp nhận
đợc.
1.2. Con ngời trong Sinh quyển
Theo chiều phát triển của lịch sử thì loài ngời đợc bắt nguồn từ một loài vợn cổ
nào đó, có thể là ở châu Phi cách ngày nay khoảng 5 triệu năm về trớc. Các dấu vết
hoá thạch thuộc về giống Homo đã tìm thấy vào kỷ Pleistocene, có tuổi khoảng 2 triệu
năm, còn dấu vết con ngời hiện đại tìm thấy khỏang 100.000 năm về trớc.

cũng là loài động vật độc nhất đạt đợc kết quả đó. Điều hiển nhiên, là loài ngời
không phải chỉ trong sớm chiều mà đã đạt đợc vị trí độc tôn trên hành tinh Trái đất.
Sự phát triển ảnh hởng của loài ngời đã đợc khởi đầu vài triệu năm về trớc vào
khoảng kỷ Pleistocene, khi mà công cụ bằng đá đầu tiên đợc loài khỉ dạng ngời
thuộc họ Homonidae sử dụng đâu đó ở vùng Đông Phi. Từ lúc xuất hiên trên Trái đất
cho đến ngày nay, loài ngời đã có lịch sử phát triển khá dài.

Hình 5. Con đờng phát tán của loi ngời
Nguồn gốc và lịch sử vào buổi ban đầu của loài ngời hiện còn nhiều bàn cãi, cha
có sự thống nhất. Dù sao thì tổ tiên xa xa của loài ngời đợc bắt nguồn từ một loài
vợn ở châu Phi vào cuối kỷ Miocene, khoảng 6 đến 5,5 triệu năm về trớc đợc phát
hiện ở Ethiopia với tên gọi là Ardipethecus, và đợc xem là dấu vết cổ nhất về vợn
ngời
1
. Một loài khác cùng giống đã đợc tìm thấy vào khoảng 4 triệu năm về trớc
cùng với hai loài khác thuộc Australopithecus và Paranthropus ở Đông phi có tuổi trẻ
hơn.

1
Haile-Selassie Y., 1999

22
Hoá thạch cổ nhất về dấu vết con ngời, loài Homo habilis đợc tìm thấy vào
khoảng giữa và hậu kỷ Pleistocene, có tuổi khoảng 2 triệu năm, ở Kobi Kora thuộc
Kenya, đợc cho là bắt nguồn từ giống Australopithecus
2
. Tuy nhiên, hai chiếc sọ còn
khá nguyên vẹn đợc tìm thấy gần đây ở vùng Caucase (nam Georgia) có tuổi khoảng
1,8 triệu năm thuộc loài Homo ergaster
3


23
ở châu Mỹ dấu vết con ngời tìm thấy sớm nhất ở bờ biển Chile có tuổi 14 000-
15.000 năm
7
. Cũng có ý kiến cho rằng dấu vết con ngời đã tìm thấy ở bắc Brazil sớm
hơn, khoảng 32.000 năm về trớc
8
. ở Bắc Mỹ con ngời đã tìm thấy vào khoảng 12
000 năm về trớc, còn ở vùng Caribê, kể cả Cuba và Hispaniola dấu vết con ngời đợc
tìm thấy chậm hơn vào khoảng 6.000 năm về trớc
9
.
Các dấu vềt cổ sinh vật học chứng tỏ rằng con ngời đã chuyển đến các đảo Thái
Bình Dơng, ở Tân Guinea vào khoảng 4.000 năm về trớc, ở Fiji và Samoa khoảng
3.500 năm, đến Hawai, Tân Tây Lan và cả các đảo ở ấn Độ Dơng, Madagascar
khoảng 1.500 năm về trớc.
10

Hình 7. Bằng thuyền nh thế ny, con ngời đã đến đợc các đảo đại dơng từ thời xa xa.
Sau một thời gian khá dài loài ngời đã có mặt ở nhiều vùng trên thế giới và có lẽ
loài ngời cũng là loài động vật đầu tiên đã tác động lên Sinh quyển một cách độc đáo,
luôn là tiềm năng gây nên sự mất cân bằng sinh thái, đủ để làm cho Sinh quyển đứng
trớc nguy cơ suy thoái dần. Từ khi xuất hiện, loài ngời với tiến bộ không ngừng về
kỷ thuật, cùng với sự tăng trởng dân số một cách chóng mặt, đã tác động lên môi
trờng tự nhiên một cách mạnh mẽ, gây nên sự phá huỷ cha từng có trong lịch sử phát
triển của Trái đất. Nh vậy loài ngời từ khi xuất hiện là loài độc nhất phải chịu trách
nhiệm về sự suy thoái của Sinh quyển, mà theo các nhà sinh thái học và cổ sinh vật
học, quá trình đó văn cha đạt đến cực đỉnh.
Trong quá trình phát triển của trí thông minh và cả những tiến bộ về sinh học trên

sống của họ. Từ khi xuất hiện trên Trái đất, loài ngời cũng nh nhiều loài động vật
khác trên thế giới sống một cách hết sức hài hoà với thiên nhiên, ít nhất là về mặt sinh
thái học. Tổ tiên đầu tiên của loài ngời, vào thời đại đồ đá cũ, với số lợng dân c
cha lớn, nên tác động của họ lên thiên nhiên cũng hết sức hạn chế. Họ săn bắt , hái
lợm, sinh sống trong thiên nhiên nh là một thành viên của quần lạc sinh vật , tơng
tự nh những thành viên khác của quần lạc cùng tham gia vào chu trình vật chất và
dòng năng lợng của Sinh quyển. Nhng từ khi các thợ săn thời đồ đá cũ tìm ra lửa, họ
đã có cách tác động mới lên thiên nhiên, có tính chất phá huỷ, làm suy thoái, khác với
những hoạt động yếu ớt, kém hiệu quả trớc đó của họ.
Ngày nay chúng ta tin rằng, bằng cách dùng lửa, loài ngời đã tạo ra đợc một thứ
công cụ có thể đánh đuổi hay bao vây con mồi, và với lửa, đã hàng trăm nghìn năm
qua, loài ngời cũng đã tạo nên sự đảo lộn trong các quần xã thực vật, ở nhiều miền
khác nhau trên Trái đất. Châu Phi là nơi bị tàn phá đầu tiên và rồi đến các vùng khác
nh Trung Âu, Bắc á cũng đã có lúc bị lửa tàn phá dữ dội vào thời đồ đá cũ. Tại các
vùng nhiệt đới và có thể cả các vùng ôn đới nữa, nhiều khu rừng nguyên thuỷ rộng lớn
đã bị lửa tàn phá và lửa cũng đã hạn chế sự phục hồi rừng sau đó. Hơn nữa, các lớp
phủ thực vật tự nhiên ở các vùng thuộc châu Phi, châu á và Mỹ nhiệt đới đã tiếp tục bị
con ngời làm suy tàn để tạo nên các vùng đồng cỏ, thuận lợi cho các loài thú móng
guốc phát triển hơn là ở các rừng nguyên sinh. Nh vậy là, chính những đám cháy do
con ngời gây nên và cả những đám cháy tự nhiên đã làm cho nhiều vùng rừng biến
thành những trảng cỏ ở Tây Phi, Bắc á. Đã hơn một chục nghìn năm, ngời Indien ở

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status