tiến trình nhận thức và phát triển đường lối cách mạng việt nam của đảng thời kì 1930 - 1945 - Pdf 14

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Cách mạng Tháng Tám là kết quả và đỉnh cao của 15 năm đấu tranh của
toàn dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà trực tiếp đấu tranh mà trực tiếp là
phong trào giải phóng dân tộc 1939- 1945. Trong quá trình đó , Đảng đã xây
dựng được một lực lượng chính trị hung hậu; từng bước lực lượng vũ trang nhân
dân, được nhân dân nuôi dưỡng và đùm bọc , có chỗ đứng chân ngày càng vững
chắc trong căn cứ địa cách mạng , giữ vai trò nòng cốt , xung kích , hỗ trợ choa
quân chúng nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Đảng Cộng sản Đông Dương là người tổ chức và lãnh đạo cuộc cách
mạng Tháng Tám. Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn , dày dặn kinh
nghiệm đấu tranh, bắt rễ sau trong quần chúng , đoàn kết và thống nhất , quyết
tâm lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền . Sự lãnh đạo của Đảng
là điều kiện cơ bản nhất, quyết định thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo , lần đầu tiên giành thắng lợi ở một
nước thuộc địa . Với thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, nhân dân Việt Nam
đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thập kỉ ttrên đát
nước ta, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm ,
lập nên nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhà nước do nhân dân lao động
làm chủ. Nhân dân Việt Nam từ than phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự
do, người làm chủ vận mệnh của mình. Nước ta từ một nước thuộc địa trở thành
nước độc lập và tự do. Đảng cộng sản Việt Nam từ chỗ phải hoạt động bí mật
không hợp pháp trở thành một đảng cầm quyền và hoạt động công khai. Với
thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, “ chẳng những giai cấp lao động mà nhân
dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức
nơi khác cũng có thể tự hào rằng : lần này là lân đầu tiên trong lịch sử cách
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lành
đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc ”.

cuối nǎm 1929 đến nǎm 1930. Tiếp theo cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền
Phú Riềng (Nam Bộ) tháng 2-1930, cuộc bãi công của 4.000 công nhân nhà máy
sợi Nam Định kéo dài ba tuần lễ, từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 16 tháng 4 do
Tỉnh uỷ Nam Định và Đảng uỷ nhà máy tổ chức. Ngay sau đó ngày 19 tháng 4,
400 công nhân nhà máy diêm Bến Thuỷ, thành phố Vinh đình công đòi tǎng
lương và cải thiện điều kiện làm việc. Ngoài những cuộc đấu tranh của công
nhân, còn có những cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
động khác như: cuộc biểu tình của nông dân Hà Nam, Thái Bình, đòi giảm sưu
thuế nổ ra trong tháng 4-1930.
Những cuộc đấu tranh lớn nói trên của công nhân và nông dân là những
"pháo hiệu" mở đầu cao trào cách mạng mới ở Việt Nam, chứng tỏ vai trò dẫn
đầu cao trào là giai cấp công nhân và tiếp theo là giai cấp nông dân.
Trên cơ sở phong trào công nông bước đầu phát triển và thắng lợi, Đảng
kêu gọi quần chúng tiếp tục đấu tranh đòi tǎng lương, giảm giờ làm cho công
nhân, giảm sưu, hoãn thuế cho nông dân để thiết thực kỷ niệm ngày Quốc tế lao
động 15-1930.
Cuộc đấu tranh ngày 1-5-1930 là một bước ngoặt đánh dấu phong trào đấu
tranh của quần chúng phát triển thành cao trào cách mạng. Ngày đó, từ thành thị
đến nông thôn ở nhiều nơi trong cả nước treo cờ Đảng, rải truyền đơn, tổ chức
mít tinh, biểu tình, tuần hành thị uy, khẩu hiệu đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế đã
kết hợp với khẩu hiệu chính trị. Nhiều cuộc bãi công, biểu tình đã liên tiếp nổ ra
từ các xí nghiệp công nghiệp ở thành thị đến các vùng nông thôn ở nhiều tỉnh
trong cả nước. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cuộc bãi công của công nhân
các nhà máy với các cuộc biểu tình của nông dân ở làng xã, sự đoàn kết đấu
tranh giữa công nhân và nông dân làm cho đế quốc Pháp lúng túng, bị động, lo
sợ.
Tháng 9-1930, cao trào tiếp tục phát triển lên đỉnh cao. Những khẩu hiệu
chính trị được kết hợp chặt chẽ với các yêu sách về kinh tế trong hàng loạt các

phong trào, thiếu một tổ chức thật quảng đại quần chúng để lôi cuốn các tầng
lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp,
mong muốn quốc gia độc lập. Đó là nhận thức mới, cách nhìn mới, đánh giá
đúng các tầng lớp, giai cấp trong dân tộc của Đảng. Chỉ có như vậy mới tập hợp
được lực lượng của cả dân tộc. Vì "Cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương
mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì
cuộc cách mạng cũng khó thành công".
Đội quân chính trị quần chúng có tính quyết định là công nông, nhưng
muốn đánh đổ kẻ thù lớn mạnh, đạt tới thắng lợi nhanh nhất và giảm bớt tổn thất
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
cho cách mạng, đội quân chính trị ấy không thể chỉ có công nông, mà phải bao
gồm hết thảy các giai cấp và tầng lớp có khả nǎng chống đế quốc và phong kiến.
2. Cao trào vận động dân chủ 1938-1939
Vào cuối nǎm 1931, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ thoái trào.
Thực dân Pháp thi hành chính sách đàn áp khủng bố rất tàn bạo, nhất là đối với
nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh.
Cơ quan trung ương, các xứ uỷ Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, nhiều cơ
quan tỉnh, huyện, xã bị phá vỡ hầu hết. Kẻ địch định dìm phong trào cách mạng
của quần chúng trong biển máu, tình hình đen tối tưởng như không có đường ra.
Cách mạng đứng trước thử thách lớn.
Do tinh thần yêu nước, thiết tha với độc lập, tự do của nhân dân ta và lòng
trung thành, ý chí đấu tranh kiên cường của cán bộ, đảng viên, cách mạng đã
nhanh chóng ra khỏi thời kỳ thoái trào, tiến lên một cao trào mới, cao trào vận
động dân chủ 1936-1939.
Cách mạng Việt Nam những nǎm 1936-1939 diễn ra trong bối cảnh thế
giới có những diễn biến phức tạp. Chủ nghĩa phát xít xuất hiện, nguy cơ của một
cuộc chiến tranh thế giới đang đến gần. Nhân loại đứng bên bờ vực của thảm
hoạ chiến tranh.
Chủ nghĩa phát xít là kẻ thù xấu xa, tàn bạo nhất của nhân dân thế giới.

bản là công nhân, nông dân mà còn có cả những tầng lớp tư sản, địa chủ, các
đảng phái cải lương ít nhiều tiến bộ, các thủ lĩnh dân tộc, tôn giáo đấu tranh cho
dân chủ, tự do cơm áo, hoà bình.
Mặt trận không chỉ bao gồm những người tán thành dân chủ thuộc ba
nước Đông Dương, mà còn thu hút cả những ngoại kiều như Hoa kiều, Pháp
kiều tán thành mục tiêu này. Để tập hợp đồng đảo quần chúng, trong chính sách
mặt trận, Đảng coi trọng liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện
liên minh các tầng lớp, giai cấp cơ bản, vừa thực hiện liên minh với các tầng lớp
trên, lấy liên minh công nông làm nền tảng.
Các nghị quyết của Đảng thời kỳ này vạch rõ tình hình mới đòi hỏi Đảng
phải có đường lối chính trị mới và có phương pháp hoạt động mới. Phương pháp
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phải rất linh hoạt nhằm đoàn kết đồng đảo quần chúng trong một mặt trận thống
nhất chống phản động thuộc địa, chống phátxít và chiến tranh, đòi tự do, dân
chủ.
Đảng chủ trương chuyển hình thức hoạt động bí mật, không hợp pháp
sang các hình thức công khai, hợp pháp và nửa công khai, hợp pháp, nhằm tập
hợp và hướng dẫn đông đảo quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, qua đó giáo
dục, phát triển lực lượng cách mạng.
Các cuộc đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đã diễn ra sôi
nổi ở cả ba nước Đông Dương nhất là ba xứ Nam, Trung, Bắc thuộc Việt Nam.
Đó là phong trào Đông Dương đại hội, phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh,
dân chủ, phong trào báo chí, truyền bá quốc ngữ, đấu tranh nghị trường, những
cuộc mít tinh nhân ngày quốc tế lao động 1-5, những cuộc đón tiếp Gôđa và
Brêviê, các "vị quan to của nhà nước bảo hộ Pháp". Nhứng cuộc đấu tranh đó đã
thu hút được hàng nghìn, hàng vạn quần chúng. Đảng và quần chúng trưởng
thành nhanh chóng qua thực tiễn đấu tranh, đồng thời càng thấy rõ sức mạnh to
lớn của nhân dân cùng những kinh nghiệm giác ngộ, tổ chức quần chúng thành
những lực lượng cách mạng tự giác.

thế giới tân thứ hai bùng nổ, chi phối đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các
nước. Chiến tranh gây tổn thất, đau thương cho nhân dân, đồng thời đẩy nhanh
quá trình "cách mạng hoá quần chúng". Đảng cách mạng của giai cấp vô sản
nhân cơ hội đó tập hợp lực lượng, đẩy nhanh quá trình phát triển phong trào
cách mạng tiến lên từng bước vững chắc.
Chính phủ phản động Pháp là một trong những bên gây ra chiến tranh. Sau
khi tham chiến, chúng thi hành chính sách phátxít, giải tán Đảng cộng sản và các
tổ chức dân chủ tiến bộ ở nước Pháp cũng như các thuộc địa của Pháp. Tại Đông
Dương, chúng thi hành chính sách cai trị thời chiến trên tất cả các mặt đời sống
xã hội, ra lệnh tổng động viên, bắt lính, bắt phu, tǎng cường áp bức, bót lột.
Nhận rõ những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước, tiền
đề của cách mạng thế giới và cách mạng Đông Dương, Đảng ta quyết định
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân
tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc cao hơn nhiệm vụ chống
phong kiến, giành ruộng đất cho nông dân, coi nhiệm vụ trung tâm của cách
mạng là chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân.
Đảng ta hiểu rằng, thắng lợi của cách mạng không tự đến mà phải chủ
động chuẩn bị giành lấy và giữ vững. Muốn vậy phải có lực lượng, có sức mạnh
toàn dân đoàn kết.
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời chủ
trương đoàn kết hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu,
nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị nhằm
đấu tranh giải phóng dân tộc.
Mặt trận Việt Minh ra đời đã thu hút ngày càng nhiều các tầng lớp nhân
dân. Từ cuối nǎm 1941 đến đâu nǎm 1942, các hội Công nhân cứu quốc, Nông
dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, đội tự vệ cứu quốc đã
được thành lập ở nhiều tỉnh miền Bắc, một số tỉnh miền Trung và các thành phố
Hà Nội, Hải Phòng, Mặt trận Việt Minh thực sự đã đánh thức được tinh thần dân

trong toàn tỉnh. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa dâng lên mạnh mẽ ở Lạng Sơn,
Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Vĩnh Yên, Việt Trì.
Trong khi đó mâu thuẫn Nhật - Pháp ngày càng phát triển gay gắt. Đúng
như dự đoán của Đảng, đêm 9-3-1945, Nhật đã nổ súng đánh Pháp cùng một lúc
trên toàn cõi Đông Dương.
Ngay đềm 9-3-1945, giữa lúc Nhật nổ súng đánh Pháp, Hội nghị mở rộng
của Ban thường vụ trung ương Đảng họp ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh)
do đồng chí Trường - Chinh chủ trì. Hội nghị quyết định phát động một cao trào
kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Giữa lúc ấy, nạn đói ở các tỉnh miền Bắc diễn ra rất nghiêm trọng. Chính sách
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
vơ vét, bóc lột của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã làm cho hơn hai triệu dân
ta chết đói. Trước tình hình đó, Đảng nêu khẩu hiệu: "Phá kho thóc, giải quyết
nạn đói" Chủ trương đó của Đảng đã đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của
quần chúng, đã dấy lên một cao tràn đấu tranh rộng lớn ở nông thôn Bắc Bộ.
Cao trào kháng Nhật cứu nước càng dâng lên mạnh mẽ khi được tin thắng lợi
của Hồng quân Liên Xô và phátxít Nhật đầu hàng vô điều kiện.
Trong tình hình vô cùng khẩn cấp, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp từ
ngày 13 đến ngày 15-8-l.945, tiếp sau đó ngày 16-8-1945 Đại hội quốc dân họp
tại Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa.
Nhân dân cả nước, triệu người như một đã nhất tế đứng lên khởi nghĩa giành
chính quyền từ tay phátxít Nhật và chính quyền tay sai. Chỉ trong vòng 12 ngày,
từ ngày 14 đến ngày 25-8-1945, nhân dân ta đã giành được chính quyền trong cả
nước.
Cách mạng Tháng Tám thắng lợi "chẳng những giai cấp lao động và nhân dân
Việt Nam ta có thể tự hào mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi
khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của
các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách

mạng với tri thức khoa học, phải có quan điểm lịch sử cụ thể mới xác định được
mục tiêu trước mắt sát đúng và do đó mới tập hợp và xây dựng được lực lượng
cách mạng đồng đảo, vững mạnh. Đồng chí Đỗ Mười, Tổng bí thư đã nói:
"Trong việc xác định mục tiêu, tuy có chú ý tính toàn diện, nhưng cần tập trung
vào những trọng điểm và thể hiện tính khả thi, không đề ra cao quá, vì sẽ không
có khả nǎng thực hiện, gây nghi ngờ trong quần chúng, cũng không hạ thấp vì sẽ
kìm hãm phong trào cách mạng của nhân dân. Phải đặc biệt tính toán các giải
pháp, phương tiện để thực hiện mục tiêu".
Thực tiễn lịch sử chứng tỏ, Đảng ta từng bước bổ sung, cụ thể hoá đường
lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhận thức và giải quyết ngày càng
đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến.
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Quá trình đó đồng thời là quá trình giác ngộ, tổ chức quần chúng và xây dựng
lực lượng cách mạng. Luận cương chính trị tháng l0-1930 xác định đúng nhiệm
vụ chiến lược và lực lượng cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở nước ta,
nhưng chưa xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là chống đế quốc, giải
phóng dân tộc, cho nên chưa đánh giá đúng vai trò, lực lượng của giai cấp trí
thức tiểu tư sản và tư sản dân tộc. Do đó dã hạn chế việc tập hợp lực lượng cách
mạng.
Trong cách mạng 1936-1939, Đảng xác định mục tiêu trước mắt đáp ứng yêu
cầu, nguyện vọng của nhấn dân, vì thế đã thu hút được đồng đảo quần chúng
tham gia đấu tranh. Bên cạnh công nhân, nông dân trước sau vẫn là nòng cốt của
cách mạng, Đảng còn thu hút được đồng đảo các tầng lớp các giai cấp, các dân
tộc, kể cả các đảng phái cải lương, các cá nhân tiên tiến thuộc tầng lớp trên, tán
thành đấu tranh cho dân sinh, dân chủ. Trên thực tế đã hình thành đội quân
chính trị quần chúng rộng lớn.
Đánh giá ý nghĩa của cao tràn cách mạng 1936-1939, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: "Việc gì đúng với nguyện vọng nhân dân thì được quần chúng nhân
dân ủng hộ và hǎng hái đấu tranh, và như vậy mới thật là một phong trào quần

2. Lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với trình độ giác ngộ và khả
nâng đấu tranh của các tầng lớp, giai cấp
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
coi trọng vấn đề tổ chức. Đảng hiểu rằng, sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ
sức mạnh của quần chúng, mà sức mạnh của quần chúng phải là hành động tự
giác có tổ chức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Cách mệnh thì phải có tổ chức rất vững bền
mới thành công". Chỉ thị về công tác to chức của Ban chấp hành trung ương
Đảng (ngày 1-2-1941) chỉ rõ: "Biết tổ chức thì dù bọn phátxít quỷ quyệt, tàn
nhẫn đến đâu cũng không làm gì nổi. Biết tổ chức tức là có thêm cán bộ, có vũ
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
khí có tài chính, có chiến đấu lực, tất cả những điều kiện cần thiết cho cuộc cách
mạng dân tộc giải phóng".
ở mỗi thời kỳ lịch sử, do mục tiêu đấu tranh, trình độ quần chúng, đối
tượng cách mạng, lực lượng đối sánh, đặc điểm thời cuộc mà có những hình
thức tổ chức thích hợp.
Thời kỳ 1936-1939, Đảng chủ trương: phải rất linh hoạt, khôn khéo trong
việc tổ chức quần chúng, không cứng nhắc, không nhất thiết các tổ chức quần
chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ,
hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, cốt sao tập hợp được đồng đảo
quần chúng vào các tổ chức cách mạng. Đảng quyết định lấy tên Thanh niên
phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội
cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội
đỏ
Đảng và quần chúng sáng tạo ra các hình thức tổ chức phổ thông gắn liền với
đời sống sinh hoạt bình thường hàng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội
hiếu hỉ, phường đi sǎn, hội hát kịch v.v Những hình thức tổ chức "biến tướng"
đó thích hợp với nhân dân ta ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, mọi quyền
tự do dân chủ bị kẻ thù bóp nghẹt và nhất là nhân dân vừa trải qua một thời kỳ bị

hành trung ương Đảng tân thứ tám (tháng 5-1941) quyết định một hình thức mặt
trận mới thay Mặt trận dân chủ, đó là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là
Việt Minh.
Mặt trận Việt Minh được thành lập theo chủ trương chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Đảng. Lúc này, Đảng đã xác định mục tiêu cụ thể trước mắt
không còn là đấu tranh đòi những quyền lợi dân sinh, dân chủ đơn sơ, mà là
chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, đánh đổ đế quốc
và tay sai, giành độc lập dân tộc. Vì nguy cơ diệt vong đã bày ra trước mắt. Hiện
thời chúng ta chỉ có một con đường mưu sống là đoàn kết, thống nhất đánh đuổi
Nhật - Pháp, trừ khử Việt gian
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Mặt trận dân chủ rõ ràng không còn thích hợp với mục tiêu đấu tranh
trong thời kỳ mới, cần có một hình thức mặt trận phù hợp với tình hình nhiệm
vụ mới, nhằm liên kết hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt
giàu-nghèo, già-trẻ, gái-trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị,
đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn.
Mặt trận Việt Minh đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đáp
ứng yêu cầu, nguyện vọng chung của toàn dân tộc, là cơ sở quyết định quy tụ cả
cộng động dân tộc trong Mặt trận dân tộc thống nhất, đánh đổ ách thống trị của
phátxít Nhật - Pháp và bọn tay sai.
3. Kết hợp đúng đắn giữa xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng
vũ trang
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ đầu đã khẳng định, cách mạng
Việt Nam phải tiến hành bằng phương pháp cách mạng bạo lực, lực lượng chính
trị quần chúng là cơ sở để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng.
Chủ tịch Hô Chí Minh nói: "Muốn có đội quân võ trang phải có đội quân
tuyên truyền, vận động, đội quân chính trị trước đã. Nên việc này phải làm ngay,
sao cho đội quân chính trị ngày càng đông. Như ở ta muốn đánh Pháp - Nhật thì
ai vác súng? Ai là người tự nguyện, tự giác vác súng? Ta phải có quần chúng

Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ tám (tháng 5-1941) chủ
trương mở rộng các tổ chức cứu quốc và thành lập những tiểu tổ du kích chiến
đấu. Cuối nǎm 1941, đồng chí Nguyễn ái Quốc quyết định thành lập đội tự vệ vũ
trang Cao Bằng để thúc đẩy việc xây dựng cơ sở chính trị và chuẩn bị cho việc
xây dựng lực lượng vũ trang. Tháng 12-1944, Đảng chỉ thị thành lập đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của quân đội nhân dân Việt
Nam sau này. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời trên cơ sở những
đội du kích nhỏ hoạt động từ trước ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Mặc dù hình thức là
đội quân vũ trang, hoạt động tác chiến, nhưng Đảng chỉ rõ phương châm và
nhiệm vụ hoạt động của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là chính trị
trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Sau ngày đảo chính Nhật - Pháp, Đảng cho rằng tình thế lúc này đã đặt
nhiệm vụ quân sự lên trên và cần kíp, do đó quyết định phát triển lực lượng vũ
trang và thống nhất Việt Nam cứu quốc quân với Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân thành Việt Nam giải phóng quân.
Khi tiến lên khởi nghĩa từng phần, đi đôi với việc đẩy mạnh đấu tranh
chính trị và đấu tranh vũ trang, Đảng đã nhanh chóng phát triển lực lượng chính
trị quần chúng và lực lượng vũ trang cách mạng, thúc đẩy mạnh mẽ cao trào
cách mạng trong cả nước, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền.
Tháng Tám nǎm 1945, trong lúc lực lượng vũ trang nhân dân còn non trẻ,
Đảng đã huy động được một lực lượng chính trị quần chúng lớn mạnh, bao gồm
hàng triệu hội viên cứu quốc và hàng chục triệu đồng bào dưới khẩu hiệu hành
động của Mặt trận Việt Minh, tạo thành lực lượng chủ yếu quyết định thắng lợi
của tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.
Cách mạng Tháng Tám thành công là do biết kết hợp chật chẽ lực lượng
chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, trong
đó lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng giữ vai
trò chủ yếu.

ở thành thị, đặc biệt là công tác vận động công nhân và trí thức. Nếu không chú
trọng công tác trên đây thì khởi nghĩa khó nổ ra ở trung tâm đầu não của quân
thù và do đó không làm cho chúng bị tê liệt. Không xây dựng lực lượng cách
mạng ở thành thị thì cuộc khởi nghĩa khó phát triển lên thành tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong toàn quốc
Từ cuối nǎm 1939, tuy chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, Đảng vẫn
không xem nhẹ công tác ở thành thị. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung
ương lần thứ tám (tháng 5-1941) nêu rõ: "Muốn có một lực lượng toàn quốc đủ
sức phát động và bảo đảm cho một cuộc khởi nghĩa thắng lợi thì đi đôi với việc
mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có, phải chú trọng mở rộng các tổ
chức vào những nơi thành thị, xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền"
Từ đó, công tác vận động cách mạng ở thành thị ngày càng được tǎng
cường, đặc biệt trong công nhân và trí thức. Nghị quyết Ban thường vụ trung
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
ương Đảng (tháng 2-1943) chỉ rõ: "Không làm cho thợ thuyền tích cực tham gia
khởi nghĩa thì: Cuộc khởi nghĩa khó nổ ra ở những nơi huyết mạch của quân thù
(thành phố, vùng mỏ, đồn điền, đường vận tải cốt yếu), do đó quân thù không bị
tê liệt.
- Cuộc khởi nghĩa có tính chất địa phương, eo hẹp, không lan rộng ra toàn
xứ cho tới toàn quốc, như thế quân thù có thể tập trung lực lượng vào một vài
nơi đàn áp quân khởi nghĩa".
Chính nhờ ra sức xây dựng cơ sở, lực lượng và cǎn cứ địa ở nông thôn,
đồng thời chú trọng xây dựng cơ sở và lực lượng ở thành thị, nên khi thời cơ
đến, Đảng đã phát động được toàn dân ở cả thành thị và nông thôn cùng nổi dậy,
nhanh chóng giành được chính quyền trên cả nước trong những ngày tháng Tám
nǎm 1945.
5. Gắn xây dựng lực lượng với đấu tranh, thông qua đấu tranh để
củng cố, phát triền lực lượng
Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng nhằm thực hiện mục tiêu,

ngày mới phát triển được cơ sở, rèn luyện và thanh lọc được hàng ngũ, chấn
chỉnh được tổ chức. "Tổ chức ra để có sức tranh đấu tranh đấu để mở rộng, kiên
cố tổ chức, kiên cố tổ chức để mở rộng tổ chức nữa, tổ chức và tranh đấu hết sức
mật thiết liên kết cùng nhau, đồng phát triển với nhau, cái này rời cái kia thì
không được gì hết". Đảng còn nói rõ rằng, tổ chức để tranh đấu, nhưng chính
trong sự tranh đấu mà phát triển tổ chức. "Cho nên sự tranh đấu quần chúng với
công việc tổ chức thiệt mật thiết liên lạc, không thể rời ra được".
Thực tiễn ba cao trào cách mạng là quá trình kết hợp đấu tranh với xây dựng lực
lượng, thông qua đấu tranh mà Đảng ta ngày càng trưởng thành, lực lượng cách
mạng ngày càng phát triển. Cao trào dân chủ 1936-1939 là bước phát triển mới
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
trong việc xây dựng, tập hợp lực lượng cách mạng. Đảng đề ra những hình thức
đấu tranh vừa sức, vừa tầm, phù hợp với trình độ quần chúng và khả nǎng lực
lượng cho phép. Đồng thời qua đấu tranh, Đảng được mở rộng, củng cố, phát
triển lực lượng. Đấu tranh nhưng vẫn bảo tồn, gìn giữ được lực lượng, tránh tổn
thất, tiêu hao lực lượng, mà lại đạt kết quả cao.
Trong khi xây dựng lực lượng, không được thủ tiêu đấu tranh, Đảng phải lãnh
đạo quần chúng đấu tranh mạnh mẽ, nhưng chủ yếu là để tập dượt quần chúng,
chuẩn bị cho khởi nghĩa, giành chính quyền khi có thời cơ thuận lợi và bản đảm
thành công.
III- KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
1. Dự đoán đúng thời cơ và hành động kiên quyết, đúng lúc
Đảng ta hiểu rằng, thời cơ là sự kết hợp hàng loạt nhân tố chủ quan và khách
quan đã đến độ chín muồi, rằng thời cơ không phải tự nó đến, một phần lớn do
ta sửa soạn nó, thúc đẩy nó. Chính vì vậy, Đảng đã bền bỉ và công phu chuẩn bị
tinh thần và lực lượng trong suốt mười lǎm nǎm.
Đảng chǎm chú theo dõi, phân tích sâu sắc sự phát triển của tình hình, dự đoán
các khả nǎng, chủ động đối phó với mọi tình huống.
Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đã có những dự đoán về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status