Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
LỜI NÓI ĐẦU
Đất là tài nguyên, là nguồn sống, môi trường, môi sinh quan trọng nhất
cho đời sống con người, cho sinh hoạt xã hội và cho các hoạt động sản xuất
kinh doanh. Đất đai có những đặc trưng cơ bản khiến nó không giống với bất
cứ một loại tư liệu sản xuất nào. Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng và
không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong không gian, không
thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người Chính từ đặc trưng hạn
chế về số lượng, không có khả năng tái sinh và di chuyển được đã làm cho đất
đai được đặt đúng giá trị của nó. Từ nhiều đời nay, ông cha ta đã nói “Tấc đất
tấc vàng” câu nói này đặc biệt đúng với đất đô thị. Chúng ta đã khẳng định:
đất đai là tài nguyên đặc biệt quý giá và là tư liệu sản xuất đặc biệt như vậy
đất đai cũng có những đặc tính cơ bản của các loại hàng hóa khác tức là có thể
mua, bán và trao đổi được.
Nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, năm 2007
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới
WTO. Trong bối cảnh đó, quản lý nhà nước về đất đai là một công tác quản lý
đặc biệt quan trọng cho sự phát triển của đất nước, trong đó công tác đăng kí đất
đai và nhà ở cũng trở thành một yêu cầu cấp thiết.
Tây Hồ - một quận mới được thành lập từ năm 1996, dựa trên sự sát
nhập của 3 phường thuộc quận Ba Đình và 5 xã thuộc huyện Từ Liêm Nhiệm
vụ đặt ra cho công tác quản lý đất đai trên địa bàn quận là đẩy nhanh tiến độ
cấp Giấy chứng nhận, hoàn chỉnh hệ thống quản lý nhà nước về đất đai góp
phần đưa quận thành trung tâm du lịch-dịch vụ của cả thủ đô Hà Nội. Chính vì
lẽ đó mà trong thời gian thực tập tại Phòng Tài Nguyên và Môi trường quận
Tây Hồ em đã lựa chọn đề tài:
“Công tác đăng kí và quản lý đất đai tại Phòng Tài nguyên & Môi
trường quận Tây Hồ”
1
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xây dựng hệ thống lý luận về quản lý
thiên nhiên). Vị trí của đất đai có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế trong quá trình
khai thác và sử dụng đất. Những đất đai ở gần các đô thị, các đường giao
thông, các khu dân cư được khai thác sử dung triệt để hơn những đất đai ở các
vùng xa xôi, hẻo lánh và do đó có giá trị sử dụng và giá trị lớn hơn. Đất đai
không thể sản sinh thông qua sản xuất.
3
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
Độ phì là một thuộc tính tự nhiên của đất và là yếu tố quyết định chất
lượng đất. Độ phì là một đặc trưng về chất gắn liền với đất, thể hiện khả năng
cung cấp thức ăn, nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển.
Khả năng phục hồi và tái tạo của đất chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ
phì thông qua tự nhiên hoặc do tác động của con người. Tuỳ theo mục đích sử
dụng mà độ phì của đất có vai trò khác nhau. Chẳng hạn, trong nông nghiệp
độ phì hay độ màu mỡ của đất có vai trò cực kì quan trọng, quyết định việc
tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Việc sử dụng và khai thác đất nông
nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc là không ngừng cải tạo, nâng cao độ phì đất.
Đất đai dùng để canh tác có khả năng tạo ra một khối lượng lương thực
lớn hơn số lương đủ để duy trì sự sống của người lao động.” Đất, trong hầu
hết các tình huống, sản sinh ra một lượng lương thực nhiều hơn so với số
lượng đủ để duy trì sự sống của người lao động”
1
Tính hai mặt của đất đai (không thể sản sinh nhưng có khả năng tái tạo)
có ý nghĩa cực kì quan trọng trong quá trình sử dụng dất. Một mặt, phải hết
sức tiết kiệm đất đai, xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất. Mặt
khác phải chú ý ứng dụng tiến bộ kĩ thuật để tăng khả năng phục hồi và tái tạo
của đất đai.
1.2.2 Đất đai là một tư liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con người:
Trong quá trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành tư liệu sản xuất
không thể thiếu được. Tác động của con người vào đất đai thông qua hoạt
càng phát triển và càng làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn trong xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự
trao đổi, mua bán, chuyển nhượng và hình thành một thị trường đất đai.
1.2.3 Đặc điểm về sự chiếm hữu và sở hữu đất đai:
Cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài người, chế độ sở hữu và
chiếm hữu đất đai cũng phát triển theo nhiều kiểu khác nhau. Tuy nhiên “sở
hữu ruộng đất khác với các hình thái sở hữu khác ở chỗ là, đến một trình độ
1
(Mác-Ănghen toàn tập-Tập 25 phần II-trang248.Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,1994).
2
(Sách đã dẫn trang 246).
5
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
phát triển kinh tế nhất định, nó trở nên thừa và có hại, ngay cả khi xét trên
quan điểm của phương thức tư bản chủ nghĩa”
*
Chế độ chiếm hữu ruộng đất và biến quyền sở hữu đất đai thành sở hữu
tư nhân là một quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với lịch sử của từng vùng
trên trái đất hay mỗi quốc gia.
Đất đai trước hết là sản phẩm của tự nhiên, được con người khai phá
chiếm hữu thành tài sản chung của cộng đồng, bộ lạc. Những nhu cầu sản
phẩm nuôi sống con người ngày càng tăng lên do dân số phát triển, những đất
đai màu mỡ dễ khai phá đã được chiếm hữu và được canh tác. Nhà nước ra đời
và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất cũng xuất hiện.
Quyền sở hữu đất đai không phải chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà quan
trọng hơn còn đem lại địa vị xã hội và quyền lực chính trị. Trong chế độ sở
hữu tư nhân về ruộng đất, ai nắm nhiều ruộng đất thì không những kẻ đó là
người giàu có, mà còn là người có uy lực chính trị. Những người không có đất
trở thành kẻ làm thuê, cuộc sống bấp bênh và phụ thuộc. Duy trì chế độ sở hữu
đất đai và quyền sở hữu tư nhân về đất đai cũng tất yếu dẫn đến quá trình bần
cùng hoá nông dân, làm tổn thương đến nền kinh tế và làm mất đất đai của đại
bộ phận nông dân, tập trung vào tay một số địa chủ giàu có và đầy quyền lực.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, chế độ phong kiến hình thành và dần
dần chế độ sở hữu tư nhân cũng bắt đầu xuất hiện. Song nhìn chung trong một
thời gian dài suốt hành trăm năm chế độ phong kiến kết hợp với chế độ thuộc
địa của thực dân Pháp, chế độ sở hữu ruộng đất của nước ta vẫn gồm hai loại
song song tồn tại: sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân. Tuỳ theo từng thời kỳ
lịch sử khác nhau mà sự biểu hiện của quyền sở hữu đó cũng khác nhau và
diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau.
Ngày nay Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
“Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”. Nhà
nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan
7
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội (gọi chung là tổ chức), hộ gia đình và cá
nhân sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
thuê đất…”
*
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước là người đại diện. Nhà nước
giao cho các tổ chức, các cá nhân sử dụng đất đai theo mục đích quy định.
Người cử dụng ruộng đất phải đóng thuế cho Nhà nước. Nhà nước có thể cho
thuê và người thuê đất phải trả tiền thuê đất trong thời hạn thuê.
1.2.4 Tính đa dạng và phong phú của đất đai:
Tính đa dạng và phong phú của đất đai trước hết là do đặc tính tự nhiên
của đất đai và phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ nhất định gắn liền với
điều kiện hình thành đất quyết định, mặt khác nó còn do yêu cầu và đặc điểm,
mục đích sử dụng các loại đất khác nhau. Một loại đất có thể sử dụng theo
nhiều mục đích khác nhau. Đặc điểm này của đất đai đòi hỏi con người khi sử
phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu
mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay!”.
Con người khai thác bề mặt đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, tạo nên sản
phẩm nuôi sống cả xã hội loài người. Khai thác bề mặt đất đai và cải tiến chất
lượng đất đai để tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng nhiều hơn, thoả mãn
nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng. Trình độ khai thác đất đai gắn
liền với sự tiến hoá của xã hội. Quá trình ấy làm cho con người ngày càng gắn
chặt với đất đai hơn. Quan hệ giữa con người và đất đai ngày càng phát triển
và gắn liền chặt chẽ với nhau. Mặt khác con người ngày càng nhận thức và
hiểu biết hơn về khoa học kĩ thuật, khám phá và khai thác “kho báu” trong
lòng đất phục vụ cho mục đích của mình.
Đất đai gắn liền với khí hậu, môi trường trên phạm vi toàn cầu cũng
như từng vùng, từng miền lãnh thổ. Trải qua lịch sử hàng triệu năm của trái
đất, khí hậu cũng trải qua nhiều biến động do những nguyên nhân tự nhiên
hoặc do tác động của con người. Trong quá trình chinh phục và cải tạo thiên
9
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
nhiên, con ngưòi ngày càng can thiệp vào quá trình biến đổi của tự nhiên. Biến
đổi khí hậu có tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái trên đất liền, nhất là đối
với cây trồng.
Như vậy việc sử dụng hợp lý đất đai ngoài ý nghĩa về kinh tế còn có ý
nghĩa về bảo vệ, cải tạo và biến đổi môi trường. Ngày nay với sự phát triển
của khoa học kĩ thuật, người ta rất chú ý đến tác động của môi trường trong
quá trình hoạt động sản xuất của con người, trong đó sử dụng khai thác đất đai
là yếu tố vô cùng quan trọng.
Trong các yếu tố cấu thành của môi trường như đất đai, nguồn nước,
khí hậu, cây trồng, vật nuôi, hệ sinh thái… thì đất đai đóng vai trò quan trọng.
Những biến đổi tiểu khí hậu, những sự phá vỡ hệ sinh thái ở những vùng nào
đó trên trái đất ngoài tác động ảnh hưởng của tự nhiên thì vai trò con người tác
động cũng rất lớn: lụt úng do phá rừng, canh tác bất hợp lí… Tất cả những cái
lao động.
Hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, đặc biệt trong ngành trồng trọt,
là quá trình tác động của con người vào ruộng đất (như cày bừa,bón phân…)
nhằm làm thay đổi chất lượng đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển, tức là quá trình biến ruộng đất kém màu mỡ thành
ruộng đất màu mỡ hơn. Trong quá trình này ruộng đất đóng vai trò như là đối
tượng lao động. Mặt khác con người sử dụng đất đai như một công cụ để tác
động lên cây trồng, thông qua đó làm tăng độ màu mỡ của đất nhằm thu sản
phẩm nhiều hơn. Trong quá trình này, ruộng đất đóng vai trò như là tư liệu lao
động.
Quá trình sản xuất nông nghiệp (trong ngành trồng trọt) là quá trình
khai thác sử dụng đất. Bởi vậy không có ruộng đất thì không thể có hoạt động
sản xuất nông nghiệp.
11
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
2- Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý và sử dụng đất
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi
phối bởi các điều điều kiện và quản lí sinh thái của tự nhiên mặt khác bị sự
kìm chế của điều kiện, quy luật xã hội và các yếu tố kĩ thuật.
2.1 Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt,
mặt bằng xây dựng… cần chú ý đến việc thích nghi với điều kiện tự nhiên và
quy luật sinh thái trong đất như: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và
khoáng sản dưới lòng đất, trong điều kiện tự nhiên thì yếu tố khí hậu là yếu tố
hàng đầu trong việc sử dụng đất sau đó là điều kiện và địa hình thổ nhưỡng và
các điều kiện khác.
2.2 Điều kiện yếu tố khí hậu
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn trực tiếp tới sản xuất và sinh hoạt
của con người. Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự
sai khác về nhiệt độ thời gian hoặc không gian, cường độ ánh sáng mạnh hay
tính hợp lý và tính khả thi về mức độ đầu tư đồng thời quy định bởi nhu cầu
của thị trường.
Trong một vùng trên phạm vi một nước điều kiện vật chất của đất đai
thường có sự khác biệt không lớn nhưng về cơ bản là giống nhau với điều kiện
kinh tế xã hội khác nhau. Vì vậy tình trạng có vùng đất đai được khai thác triệt
để từ lâu đời đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời có những vùng điều kiện
kinh tế xã hội thấp khai thác sử dụng đất kém hiệu quả.
Ta có thể khẳng định rằng điều kiện tự nhiên và đất đai tồn tại khách
quan, khai thác sử dụng đất quyết định vẫn là con người cho dù điều kiện tự
nhiên của đất đai có nhiều lợi thế nhưng điều kiện kinh tế xã hội không tương
ứng thì ưu thế về tài nguyên đất cũng khó có thể trở thành sức sản xuất hiện
thực theo ý muốn và ngược lại điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện kinh tế công
13
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
nghệ phát triển ứng dụng vào khai thác sử dụng đất sẽ phát huy tác dụng và
tiềm lực sản xuất của đất đai biến những bất lợi của điều kiện tự nhiên thành
những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội. Ảnh hưởng của điều
kiện kinh tế đến việc sử dụng đất đai được đánh giá bằng hiệu quả kinh tế của
sử dụng đất.
Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và xã hội xác định được mục đích sử
dụng đất kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên đất để đặt
được một cơ cấu tổng hợp ,hợp lí,đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện
tích đất.
2.5. Yêu cầu không gian
Các ngành sản xuất vật chất và phi vật chất (nông nghiệp-công nghiệp-
khai khoáng-xây dựng) và nhiều hoạt động kinh tế, xã hội đều cần đến đất đai
như điều kiện không gian để hoạt động. Không gian bao gồm cả mặt bằng, vị
trí. Không gian của đất là yếu tố vĩnh cửu của tự nhiên ban phát cho xã hội
loài người. Vì vậy không gian là một trong những yếu tố cơ bản hạn chế việc
sử dụng đất.
thông thường như đăng kí mua bán những tài sản ít có giá trị, đăng kí du lịch
mà không cần có sự giám sát của cơ quan nhà nước, việc đăng kí này chỉ được
thực hiện khi có nhu cầu từ người dân và chủ yếu người dân đăng kí vì mục
đích là có sự chứng thực của cơ quan nhà nước đối với hành vi của mình.
Đăng kí thường được hiểu là việc của cơ quan nhà nước hay một tổ
chức có tư cách pháp nhân đứng ra thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về
một sự việc hoặc một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người
đăng kí cũng như tổ chức và cá nhân đứng ra đăng kí. Đăng kí đất là công việc
của cơ quan nhà nước thực hiện việc xác nhận về mảnh đất đó đối với tổ chức,
cá nhân sử dụng đất. Theo điều 33 Luật đất đai năm 1993 và điều 696 của Bộ
Luật dân sự, việc đăng kí đất đai là công việc bắt buộc đối với mọi tổ chức, cá
15
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
nhân và diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Sau khi đăng kí các tổ chức, cá nhân
mới được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng, được Nhà nước thay đổi
mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất hoặc thay đổi những nội dung
quyền sử dụng đất đã đăng kí khác.
Đăng kí đất là một thủ tục hành chính thiết lập hồ sơ địa chính đầy đủ
và cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối
quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm cơ sở để
Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật và bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của người sử dụng đất.
Việc đăng kí đất thực chất có mục đích là để thiết lập nên một hồ sơ địa
chính hoàn chỉnh tới từng xã, phường, thị trấn thông qua đó để cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho những tổ chức cá nhân sử dụng đất. Thông qua hồ
sơ địa chính đó, Nhà nước thực hiện kiểm soát toàn bộ đất đai trên lãnh thổ,
điều này càng trở nên quan trọng khi mà ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do nhà nước thay mặt đứng ra trực tiếp quản lý. Tuy nhiên, đăng kí đất
không chỉ là hoạt động thành lập hệ thống bản đồ,hồ sơ địa chính hoàn chỉnh
mà thường xuyên cập nhật các biến động về diện tích thửa đất, chủ sở hữu
vì vậy muốn quản lý được diện tích lớn đến như vậy Nhà nước cần phải nắm
được chắc chắn thông tin của từng mảnh đất. Đối với những mảnh đất có chủ
sử dụng hợp pháp thì cần phải nắm được những thông tin về diện tích, hình
thể, vị trí, chủ sử dụng, hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, hạng đất. Đối
với những mảnh đất chưa có chủ sử dụng thì nắm những thông tin về diện
tích, hình thể, vị trí, hạng đất. Tất cả các chi tiết đó phải được thực hiện một
cách hết sức chi tiết bởi đó là căn cứ để nhà nước tính nghĩa vụ tài chính, định
giá để đấu thầu, đấu giá và đó cũng là căn cứ để giải quyết những tranh chấp
về đất đai.
17
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
3.2.3 Đăng kí đất là một nội dung quan trọng có quan hệ hữu cơ với các nội
dung, nhiệm vụ khác của quản lý nhà nước về đất đai:
Đăng kí đất thiết lập nên hệ thống hồ sơ địa chính và chủ yếu dùng để
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
không chỉ là kết quả của đăng kí đất mà còn là sản phẩm kế thừa của các nội
dung, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai khác như:
- Xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng
đất đai. Đây là cơ sở cho việc đăng kí đất đúng thủ tục, đúng đối tượng, đúng
quyền và nghĩa vụ sử dụng đất.
- Công tác điều tra, đo đạc: là việc hình thành nên diện tích, vị trí, kích
thước, hình thể của thửa đất. Là thông tin chính trong giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
- Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: kết quả của công tác này
sẽ hình thành nên cơ sở xác lập giữa những mảnh đất hợp pháp và bất hợp
pháp. Công tác này cũng đảm bảo cho việc sử dụng đất đầy đủ, tiết kiệm và
hiệu quả.
- Công tác giao đất và cho thuê đất: là công tác có ảnh hưởng quan
trọng tới việc sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, các tổ chức sử dụng đất
bởi đất đai thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước đại diện đứng ra thực hiện việc
- Khác với những công tác đăng kí khác, đăng kí đất - một tài sản thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện trực tiếp quản lý. Nhà nước không cho
phép bất kì cá nhân hay tổ chức nào đứng tên sở hữu đất mà chỉ cho phép
được nhận đất được giao hay cho thuê từ Nhà nước và mảnh đất đó có thể bị
thu hồi bất kỳ khi nào để Nhà nước phục vụ cho các nhu cầu của xã hội.
- Đất đai tuy không được sở hữu mà chỉ được phép sử dụng nhưng lại là
19
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
một tài sản rất có giá trị. Trong hầu hết những tài sản của người sử dụng đất
thì đất đai thường là tài sản có giá trị và có ý nghĩa đặc biệt đối với người sử
dụng đất và nó càng đặc biệt hơn đối với một đất nước luôn coi ngôi nhà và
mảnh đất là “mái ấm” không thể thiếu. Nó không chỉ là tài sản có giá trị đối
với mỗi cá nhân nói riêng mà còn là tài sản quý giá đối với cả xã hội nói
chung, như ông bà ta đã nói “tấc đất tấc vàng”. Chính bởi vậy việc sử dụng đất
tiết kiệm, hiệu quả phải là ý thức chung của mỗi cá nhân.
- Đất đai là một tài sản cố định và gắn liền với nó luôn là những công
trình có giá trị và có ý nghĩa rất quan trọng. Những tài sản trên đất này có thể
được phép sở hữu bởi người sử dụng đất.
3.3.3 Đăng kí đất phải được tổ chức thực hiện theo phạm vi hành chính từng
xã,phường,thị trấn.
Ở Việt Nam, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thành 4 cấp:
Trung ương, tỉnh, huyện, xã. Luật Đất đai quy định Ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn là cơ quan chịu trách nhiệm trong việc tổ chức đăng kí đất.
Việc tổ chức đăng kí đất theo phạm vi từng xã sẽ đảm bảo:
- Tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người sử dụng đất thực hiện đăng kí
đất đầy đủ, thể hiện đúng bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa: “Nhà nước
của dân, do dân, vì dân”.
- Phát huy vai trò và sự hiểu biết về lịch sử, thực trạng tình hình sử dụng
đất ở địa phương của đội ngũ cán bộ xã, làm chỗ dựa tin cậy để các cấp có
thẩm quyền xét duyệt đăng kí, cấp giấy chứng nhận theo đúng quy định của
chính” chuyển hồ sơ thủ tục hành chính đến các phòng chuyên môn để giải
quyết. Các phòng chuyên môn sẽ nghiên cứu hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt, sau đó chuyển về bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để trả kết quả
đúng kết quả quy định.
21
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
Bước 3: “Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành
chính” nhận kết quả giải quyết hồ sơ, lưu giữ kết quả giải quyết, thu phí, lệ phí
theo quy định trả kết quả cho công dân, tổ chức theo đúng thời gian đã hẹn.
Trường hợp giải quyết hồ sơ không đúng thời gian đã hẹn thì bộ phận
tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính có trách nhiệm
thông báo cho tổ chức, công dân biết lý do và hẹn lại thời gian trả kết quả.
Toàn bộ công việc ở bước 2, bước 3 diễn ra trong cơ quan hành chính,
công dân và tổ chức không cần phải đến từng phòng chuyên môn.
Phạm vi thực hiện cơ chế một cửa bao gồm toàn bộ thủ tục hành chính
thuộc thẩm quyền thụ lý hồ sơ và giải quyết của cơ quan hành chính của
Thành phố trừ những thủ tục không có khả năng giải quyết hoặc không đủ
điều kiện thực hiện. Đối với những thủ tục đó cơ quan tiếp nhận và trả kết quả
phải giải trình rõ lý do, riêng đối với những thủ tục chưa đủ điều kiện phải đề
ra giải pháp khắc phục và thời gian đưa vào thực hiện theo cơ chế “một cửa”.
5.2. Nội dung đăng kí đất đai
5.2.1 Đăng kí xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận
quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất để họ yên tâm đầu tư, cải
tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất và thực hiện các quyền và nghĩa vụ sử dụng
đất theo pháp luật.
Các bước thực hiện cấp giấy chứng nhận và xử lý vi phạm của Ủy ban
nhân dân cấp huyện, tỉnh:
- Lập bản đồ và các sổ sách địa chính: sổ địa chính,sổ mục kê,sổ cấp
giấy chứng nhận, thống kê toàn bộ diện tích đất đai, tổ chức kiểm tra và
-Đăng kí tình trạng mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
-Đăng kí đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
23
Luận văn tốt nghiệp Trần Trung
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐĂNG KÍ VÀ QUẢN LÝ
ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội quận Tây Hồ
Quận Tây Hồ là đơn vị hành chính cấp quận, được thành lập theo Nghị
đinh 69/CP ngay 28/10/1995 của Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ
ngay 01/01/1996 trên cơ sở sát nhập 3 phường của quận Ba Đình và 5 xã
thuộc huyện Từ Liêm.
Quận Tây Hồ nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, phía Nam
giáp quận Ba Đình, đông bắc giáp quận Long Biên, phía Tây giáp huyện Từ
Liêm và quận Cầu Giấy, tây bắc giáp huyện Đông Anh. Phía đông bắc có sông
Hồng nằm dọc theo ranh giới giữa quận Tây Hồ với huyện Đông Anh và quận
Long Biên chảy theo hướng đông bắc xuống đông nam, tạo ra một vùng đất
bãi ven sông trù phú từ chân cầu Thăng Long xuống tới khu bãi An Dương
thuộc các phường Phú Thượng, Nhật Tân, Tứ Liên, Quảng An, Yên Phụ với
diện tích khoảng hơn 200 ha, diện tích sông Hồng nằm trong địa giới hành
chính của quận Tây Hồ khoảng 464 ha.
Hồ Tây là một hồ tự nhiên nằm trọn trong địa giới hành chính của quận
Tây Hồ với diện tích mặt nước khoảng 526 ha. Hồ Tây là danh thắng nổi tiếng
của Hà Nội và của cả nước, nằm xung quanh ôm lấy hồ là các khu dân cư và
các công trình xây dựng lớn thuộc các phường Yên Phụ, Quảng An, Nhật Tân,
Xuân La và Thụy Khuê với các tuyến đường trục chính chạy vòng quanh hồ
như:đường Bưởi - Thụy Khuê dài 4,5 km; đường Thanh Niên dài 1,2 km;
đường phố Yên Phụ dài 1,5 km; đường Xuân Diệu dài 800 m; một phần
đường Âu Cơ (từ đồn công an Quảng An tới đồn công an Nhật Tân) dài 3,5
km và đường Lạc Long Quân dài 3,8 km.Hồ Tây và vùng đất xung quanh hồ
- Phường Phú Thượng nằm ở phía tây bắc của quận, có
diện tích tự nhiên là:
609,54ha
-Phường Bưởi nằm ở phía tây nam của quận, có diện
tích tự nhiên là:
139,20ha
25